Phí Minh Tâm – Thiền Thi Việt Nam

Các Thiền Sư Việt Nam đời Lê Lý Trần vào thế kỷ 11 và 12 có để lại nhiều bài kệ dạy đệ tử. Có nhiều bài kệ là những tuyệt tác thơ Đường luật ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt… Tuy nhiên khi đọc các bài kệ, ta cần chú ý đến nội dung giảng dạy Phật Pháp hơn là hình thức thơ. Muốn biết thêm tiêu sử của thiền sư và huyền thoại chung quanh bài kệ, xin xem Trang Nhà Thường Chiếu.

Dưới đây là vài bài kệ được biết đến nhiều nhất đời Lê Lý Trần. Mỗi bài kệ được trình bày với nguyên bản chữ Hán, phiên âm ra Hán Việt, dịch nghĩa và tạm dịch thơ ra Việt ngữ.

Phí Minh Tâm  Tiếp tục đọc

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH – SỬ THI ILIADE THI HÀO HOMÈRE (bài 16) THI CA KHÚC XV

TÓM LƯỢC:

tỉnh giấc sau khi hợp hoan với vợ, Thần nữ Héra. Biết mưu Héra nhưng vì tại mình mắc lừa nên không nổi giận và báo trước những chuyện sẽ xãy ra. Athénée xoa dịu nỗi đau Arès Thần Chiến xót đau trước cái chết của con là Ascalaphos. Theo lệnh Thần Vương, Apollon và Iris buộc Poséidon rút khỏi cuộc chiến. Apollon chữa lành vết thương cho Hector, và gieo hoang mang cho quân Hy Lạp. Doanh trại Hy Lạp lại bị tấn công. Patrocle rời Eurypyle sau khi chữa vết thương xong, đi xin Achille cho mình ra trận thay. Dù chống cự anh dũng, quân Hy Lạp vẫn bị Hector đốt một chiến thuyền. Ajax Télamon dũng cảm đánh lui được quân Troie. Tiếp tục đọc

Nguyên Lạc – CÂU CHUYỆN HAI DÒNG SÔNG

      Không ai có th tm hai ln trên cùng mt dòng sông  (Heraclitus)

DÒNG SÔNG SEINE (PARIS)

Tính cờ đọc được bài bút ký của một người bạn thời niên thiếu viết từ Paris (France)

…Từ thời thanh niên, tôi đã bám ảnh bởi bài thơ của Nguyên Sa, Ngô Thụy Miên phổ nhạc: 

Paris có gì lạ không em?

Mai anh về giữa bến sông Seine Tiếp tục đọc

Phạm hy Sơn – Phân Loại Tục Ngữ Ca Dao

 Tục ngữ ca dao là những tiếng chỉ chung văn chương bình dân  từ nhiều đời tích tụ lại  .  Loại văn chương bình dân này bao gồm : ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn, cách ngôn, phương ngôn, đồng dao (những bài hát của trẻ con), ca dao .

  • Ngạn ngữ : Giáo sư Dương quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại . Định nghĩa như thế quá bao quát vì câu nói nào (phương ngôn, châm ngôn, tục ngữ . . . ) mà không do người xưa để lại . Để sự phân biệt được rõ ràng, thiét nghĩ nên định nghĩa ngạn ngữ là câu nói của người xưa để lại diễn tả trực tiếp – với nghĩa đen, không có nghĩa bóng – về một sự, một vật nào đó :

Tiếp tục đọc

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH – NGUYỄN HÀNH (1771-1824) MINH QUYÊN THI TẬP: TIẾNG CHIM ĐỖ QUYÊN KÊU BI THƯƠNG

Nguyễn Hành cùng với chú là thi hào Nguyễn Du, năm người hay thơ nhất nước  Nam « An Nam Ngũ Tuyệt ». Trong bốn dòng họ thơ văn danh tiếng nước Nam. Họ Nguyễn Tiên Điền có hai người. Họ Nguyễn Trường Lưu có Nguyễn Huy Tự, họ Phan Huy gốc làng Thu Hoạch Hà Tĩnh có Phan Huy Ích. Họ Ngô Thì, Tả Thanh Oai  Hà Đông có Ngô Thì Vị.

Nguyễn Hành để lại trên đời Minh Quyên thi tập (VH. 109), và Quan Đông Hải (A 1530, VN 1444, VH 81) bản chép tay lưu trử tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội. Tiếp tục đọc

TÌNH TRONG “CƯỠNG  XUÂN” – TẬP THƠ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Có lẽ không ai cầm tập thơ “Cưỡng Xuân” của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến mà không có một chút hoang mang với tên của tập thơ… Một người bạn thơ nói với tôi: “Cưỡng Xuân” là khống chế mùa xuân, nghĩa là hoặc làm cho xuân đến sớm, hoặc làm cho xuân quay lại. Với tuổi đời của Đặng Xuân Xuyến hiện nay, cưỡng xuân tức là làm cho xuân đã đi qua quay trở lại. Riêng tôi, tôi cũng lấy cái chủ quan của mình để hiểu được phần nào ý nghĩa của hai từ “Cưỡng Xuân” khi đọc được hai bài thơ trong tập thơ này.

Bài thơ thứ nhất có đầu đề là “Cưỡng” như sau: Tiếp tục đọc