Trần-Đăng Hồng, PhD – TÍN NGƯỠNG TRONG CÁI NHÌN CỦA NHÀ TÂM LÝ DI TRUYỀN HỌC – LỢI ÍCH CỦA TỊNH, THIỀN, YOGA VÀ TAICHI

Như đã được đề cập trong bài “Tính cực đoan và độc ác được di truyền” (9), tư duy là do nhiều gen, có thể tới hàng trăm, chi phối. Thái độ, chính kiến, niềm tin, v.v. là những dạng của tư duy, do môi trường chi phối (9).

Dạng “niềm tin” được nghiên cứu nhiều nhất là đức tin tôn giáo (faith) tức tín ngưỡng (2, 3). Từ ngữ “tôn giáo” trong bài này có ý nghĩa khái quát, không chỉ đích danh một tôn giáo nào như Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo, hay hàng trăm dạng tôn giáo khác, mà nói chung là mọi hình thức tôn thờ đấng thần linh. Tương tự như vậy, God trong bài này là đấng thần linh siêu việt tối thượng – tạm dịch (không chính xác) là “thượng đế”, hay “ông Trời” theo lối nói dân dã. Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – TÍNH CỰC ĐOAN VÀ ĐỘC ÁC ĐƯỢC DI TRUYỀN ?

Nhân chi sơ tính bổn thiện?

Kể từ biến cố khủng bố 11/9/2001 do nhóm Hồi Giáo cực đoan al-Qaeda tổ chức tại New York (Hoa Kỳ), và tiếp theo là nhiều cuộc khủng bố do nhóm Nhà Nước Hồi Giáo (IS, ISIS) thực hiện trên khắp thế giới với mức độ tàn ác và khát máu ngoài sức tưởng tượng, các cơ quan tình báo, như CIA, và các nhà khoa học tâm lý cũng như di truyền bắt tay vào cuộc nghiên cứu về hành vi tàn ác (cruelty) do cực đoan (extremist) để tìm cách chửa trị hay ngăn ngừa (11). Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC Phần 8:  QUẤY-NHIỄU-RNA – RNA INTERFERENCE (RNAi)

RNA tức Ribonucleic acid, là một nucleic acid hiện hữu ở mọi tế bào. Nhiệm vụ của RNA như là một thông tín viên (messenger) mang mệnh lệnh của DNA (tức gen) đến cơ quan để sản xuất proteins.

Quấy-nhiễu-RNA (RNAi – RNA interference) là một diễn trình sinh học theo đó phân tử RNAi ngăn cản gen không biểu hiện hay phiên dịch các mật mã di truyền bằng cách trung lập hóa phân tử truyền tin mRNA. Tóm lược, RNAi ngăn cản gen sản xuất protein nào đó mà gen này có nhiệm vụ sản xuất. Trước đây từ RNA interfernce còn mang tên co-suppression (đồng áp chế), hay post-transcriptional gene silencing –PTGS (Làm câm gen sau phiên mã) hay quelling (dập tắt gen) do nhiều nhà khoa học nghiên cứu đặt tên cùng một vấn đề, và cuối cùng RNA interference RNAi được chấp nhận. Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC (Phần 7. TIẾN BỘ KỸ THUẬT CẤY MÔ)

Phần 7. TIẾN BỘ KỸ THUẬT CẤY MÔ

Từ “Cấy mô” (Tissue culture) ngày nay được đồng nghĩa với “Cấy tế bào” (Cell culture), vì mô là một nhóm gồm nhiều tế bào cùng chức năng. Phương pháp cấy mô đầu tiên là một kỹ thuật rất cổ điển, nhưng càng ngày càng được cải thiện, đầu tiên áp dụng cho nhóm mô chứa rất nhiều tế bào, rồi tiến đến một tế bào và nhờ đó mà khoa sinh học đạt được trình độ tiên tiến ngày nay. Trong bài này, tác giả đề cập khái lược về nguyên tắc, và những ứng dụng đã thực hiện cũng như triển vọng, mà không đi vào chi tiết kỹ thuật. Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC (Phần 6. KỸ THUẬT TẾ-BÀO-GỐC)

Phần 6. KỸ THUẬT TẾ-BÀO-GỐC

Chính kỹ thuật chuyển nhân tế bào thường (somatic nuclear transfer) để tạo tế-bào-lai bằng sinh-sản-vô-tính (cloning) tạo cừu Dolly năm 1996 (Phần 4) đã được cải tiến đưa đến kỹ thuật tế-bào-gốc (stem cells).

Tế-bào-gốc có một tiềm năng áp dụng vô cùng to lớn, bởi vì từ một tế-bào-gốc của phôi bào (embryo) chúng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau và cơ quan khác nhau trong cơ thể với chức năng riêng biệt. Khi một tế-bào-gốc phân bào, mỗi tế bào mới sanh tiếp tục duy trì bản chất tế-bào-gốc, hoặc trở thành một loại tế bào khác có chức năng riêng biệt, chẳng hạn như tế bào da, tóc, thần kinh, máu v.v., rồi tạo thành tim, phổi, ruột, v.v. Ngoài ra, có nhiều loại mô tế bào lúc nào cũng sản xuất tế bào mới để sửa chữa, thay thế tế bào chết trong cơ thể. Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC (Phần 5. KỸ THUẬT BIÊN TẬP HỆ-GEN)

Phần 5. KỸ THUẬT BIÊN TẬP HỆ-GEN

Biên tập hệ-gen (genome editing) là một diễn trình biên tập DNA của sinh vật bằng cách biến đổi, cắt bỏ. hay ghép thêm nucleotides vào hệ-gen. Diễn trình này hoàn thành nhờ vào công nghệ sử dụng enzyme nuclease làm cặp đôi DNA bị cắt xén hay sợi đơn DNA bị sứt mẻ một mãnh nhỏ ở vị trí mong muốn. Những vị trí DNA này bị biến đổi và được sửa chữa bằng tái-tổ-hợp gen đồng-hợp-tử hay dị-hợp-tử. Công nghệ biên tập hệ-gen rất hữu ích cho nhiều ứng dụng, như tạo đột-biến gen mong muốn, xắp xếp lại nhiễm thể và tạo sinh vật biến đổi gen.

Trong công nghiệp sinh học, các nhà khoa học dựa trên tính đột-biến (mutation) để biết vị trí của gen trong hệ-gen và xác định bản chất của gen trong việc sản xuất protein đặc thù, và tìm hiểu các bệnh liên quan do gen chi phối. Tiếp tục đọc

Trần Đăng Hồng, PhD – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC (Phần 4. KỸ THUẬT CHUYỂN NHÂN VÀ SINH SẢN VÔ TÍNH)

Chuyện con cừu Dolly

Năm 1958, John Gurdon ở Đại Học Oxford Anh quốc dùng kỹ thuật “chuyển nhân” (nuclear transfer) với con ếch, nhưng thất bại vì tế-bào- lai không phát triển thành con nòng nọc. Ông cũng thất bại với các động vật có vú. Các nhà khoa học đương thời đều nghĩ rằng kỹ thuật sinh sản vô tính (cloning) sẽ không bao giờ thành công mặc dầu tất cả tế bào trong cơ thể cùng chứa một hệ-gen.

Gần 40 năm sau, ngày 5/7/1996 cừu Dolly là con thú đầu tiên được ra đời bằng phương pháp ghép tế bào và sinh sản vô tính ở động vật có vú do Ian Wilmut, Keith Campbell và cộng sự thuộc Viện Nghiên Cứu Động Vật Roslin thuộc Đại Học Edinburgh tại Midlothian gần Edinburgh, Scotland, hợp tác với công ty sinh học PPL Therapeutics thực hiện và thành công. Tiếp tục đọc