Phạm hy Sơn – Những Điểm Đặc Biệt của Tục Ngữ Ca Dao

­­­­­­­­

                  Giống như những dân tộc khác, chúng ta có hai thứ văn chương: Truyền miệng hay văn chương bình dân và viết, hay văn chương bác học . So với văn chương bác học, văn chương bình dân, tức tục ngữ ca dao, có những điểm đặc biệt sau đây :

-Trước hết, kho tàng tục ngữ ca dao được sáng tác bởi những người  không biết chữ hay ít học . Điều này là tất nhiên vì tục ngữ ca dao ra đời trước chữ viết rất xa, từ lúc con người biết nói cách nay cả 100 ngàn năm trong khi chữ viết có cách nay khoảng 3.500 năm, như chữ Nho có vào thời nhà Thương, khoảng 1.500 năm trướcTây Lịch (TTL) .  Ở Việt Nam mãi thời nhà Trần cách nay  800 năm mới có chữ Nôm, nhưng phải là những nhà Nho thông thạo chữ Hán mới có thể đọc và viết được chữ Nôm .  Do đó, tục ngữ ca dao là văn chương truyền từ miệng từ người này qua người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác . Tiếp tục đọc

Phạm Hy Sơn – Nguồn Gốc của Tục Ngữ Ca Dao

Nhu cầu truyền đạt, diễn tả tâm tình của các sinh vật, kể cả con người, là nhu cầu không thể thiếu  . Các sinh vật dù nhỏ như con kiến cũng biết ra dấu chỉ cho nhau chỗ kiến thức ăn .   Giống chim –theo các nhà nghiên cứu về chim – có những loài hót được năm bảy bài.  Không phải tự nhiên chúng hót được mà phải đi học và tìm thầy để học .

Về nhân chủng học, thời tìền sử trải qua mấy triệu năm, con người cũng giống các sinh vật khác, chưa biết nói, “Nhưng rồi vào khoảng 80 – 100 ngàn năm trước đây, tiếng nói xuất hiện trong loài người và dần dần vưọt lên trên những tiếng hét vì hốt hoảng và những tiếng gào thét thất thanh báo nguy hay kêu gọi, để có thể thành được những lời truyền dạy cho người lớn, bảo ban trẻ con mà giữ lấy những kinh nghiệm và kỹ thuật sống còn trong thiên nhiên ác nghiệt .’’ (Trần ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, trg 58).  Giáo sư cổ sinh vật học và sự tiến hoá của con người  Paul Mellards tại Đại Học Cambridge căn cứ vào những đồ vật đào được ở Do Thái và giáo sư ngôn ngữ học Philip Lieberman của ĐH Brown nghiên cứu về sự tiến hoá của miệng, lưỡi, thanh quản con người đều cho rằng con người biết nói khoảng trên 100 ngàn năm nay . Tiếp tục đọc

Phạm Hy Sơn – TỪ CHIẾN LŨY ĐỒNG TÂM ĐỒNG BÀO TA CHIẾN THẮNG

Cả mười năm nay, các nhóm lợi ích và tham nhũng liên kết với chính quyền cộng sản ở Hà Nội, ở Bộ Quốc Phòng lăm le nuốt hơn 47 mẫu đất trồng trọt của đồng bào xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội .

Ngày 15/4 chúng lừa dụ các đại diện dân làng, trong đó có cụ Lê đình Kình 82 tuổi và ba người nữa ra Đồng Sênh để phân định và cắm cột mốc giữa đất trồng và đất Quốc Phòng . Khi bốn người ra, chúng đè bắt trói và đánh cụ Kình gãy xương đùi . Tiếp tục đọc

Phạm Hy Sơn – Chiếc Ghế Để Trống Ở Đức : Thêm Một Vết Đen Cho Chính Quyền CS Việt Nam

Chúng ta thường nói người phương Tây không thâm như người phương Đông, điều đó  không đúng trong nhiều trường hợp .  Hình ảnh buổi lễ phát giải Nhân Quyền năm 2017 do Liên Đoàn Thẩm Phán Đức trao cho LS Nguyễn văn Đài ngày 5-4 vừa qua trên khán đài có trưng bày một chiếc ghế bỏ trống mà mọi người đều biết  dành Luật Sư Nguyễn văn Đài.  Chiếc ghế trống ấy là một chứng minh hùng hồn nhất, rõ ràng nhất rằng chế độ hiện tại ở Việt Nam là một chế độ tù đày : Luật Sư Nguyễn văn Đài, một người vô tội đang bị tù đày ở Việt Nam, bởi chính quyền Cộng sản Việt Nam . Tiếp tục đọc

Phạm hy Sơn – Vài Cảm Nghĩ về Tục Ngữ Ca Dao

Tục ngữ Ca dao được sáng tác bởi những người dân nơi thôn dã ít học hoặc không biết chữ và được truyền từ miệng người này qua người khác nên gọi là văn chương truyền miệng vì không được ghi trong sách vở như văn chưong bác học do những người có học làm ra, in thành sách để phổ biến .

Vì vậy người ta không biết tác giả của tục ngữ, ca dao là ai và hầu hết không biết thời gian sáng tác .  Bất cứ dân tộc nào cũng có tục ngữ, ca dao và cho tới nay tuy văn chương bác học do những nhà văn, nhà thơ viết ra rất nhiều nhưng tục ngữ ca dao vẫn được sáng tá .  Cả hai cùng tồn tại song song với nhau . Tiếp tục đọc

Phạm hy Sơn – Con Người Việt Nam (tiếp theo)

thonxomIII – Tổ Chức Xã Thôn Việt Nam : Sở dĩ chúng tôi đề cập đến tổ chức xóm làng vì xã thôn đóng một vai trò rất quan trọng, như một thành lũy, trong việc bảo tồn văn hóa, nuôi dưỡng tâm tình người Việt . Có thể nói từ một gia đình nhỏ người Việt mở rộng thành một gia đình lớn hơn là làng xã, trong đó mọi người chung sống như một gia đình, cũng có bàn thờ trang trọng chung thờ thành hoàng (thần làng), có tài sản chung, phong tục tập quán chung, ai đáng cha kêu cha, ai đáng chú kêu chú, ai lớn tuổi hơn là anh chị . . . . Ngược lại, những người đáng tuổi cha, chú, anh chị phải coi người dưới là con, em mình . Mọi người sống có tôn ti, trật tự, yêu thương, tương thân tương ái, đùm bọc nhau khi có người gặp hoạn nạn . Tiếp tục đọc

Phạm hy Sơn – Con Người Việt Nam (tiếp theo)

treemvietnamBốn yếu tố chính bảo tồn nòi giống và văn hoá Việt Nam :

I- Lòng Yêu Nước của Người Việt Nam: Tình thương yêu và bảo vệ nòi giống của người Việt rất cao, họ coi tất cả mọi người như anh em cùng một cha một mẹ sinh ra . Huyền thoại con Rồng cháu Tiên làm người Việt tự hào về dòng dõi cao quý của mình và câu chuyện một mẹ sinh trăm con cho người ta biết tất cả mọi người trong nước là anh em ruột thịt, cùng một dòng giống nên phải thương yêu, đùm bọc, bảo vệ nhau .

Từ tinh thần ấy, người Việt gọi nhau là đồng bào có nghĩa là cùng trong một bọc do một mẹ sinh ra . Nên ngay từ buổi đầu dân tộc chúng ta đã sớm có những câu tục ngữ, ca dao kêu gọi, nhắc nhở lòng yêu nước, nhắc nhở bổn phận đối với giống nòi còn lưu truyền tới ngày nay : Tiếp tục đọc