Nguyễn Văn Nghệ – NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN KHÁM PHÁ THẤT CHÂU DƯƠNG, KHÔNG PHẢI LÀ HOÀNG SA (TRUNG QUỐC GỌI TÂY SA)

Trên trang web Tạp chí Thời đại có bài viết “Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông được đề cập trong tác phẩm Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên” (1)của tác giả Hồ Bạch Thảo. Tác giả Hồ Bạch Thảo cho độc giả biết là trong tác phẩm “Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên”, Hàn Chấn Hoa đã trưng dẫn nhiều sử liệu cổ như Tống sử, Nguyên sử, Minh sử, Thanh sử… để rồi quy kết những đảo ở Nam Hải (Việt Nam gọi là Biển Đông) là của Trung Quốc. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – CAP VARELLA “THẬT” VÀ CAP VARELLA “GIẢ”

   Trên bản đồ Việt Nam do người Âu châu vẽ vào những thế kỷ trước cho thấy  dọc bờ biển Việt Nam có một nơi mang tên “cap Varella” (mũi Varella). Ngoài ra cũng dọc theo bờ biển Việt Nam còn có một nơi mang tên “faux cap Varella” (mũi Varella giả).

Cap Varella “thật”

Trong tác phẩm Notes sur l’Annam II le Khánh Hòa (An Nam ký sự II tỉnh Khánh Hòa) của  Étienne Aymonier xuất bản năm 1886 cho biết giới hạn bờ biển phía bắc của tỉnh Khánh Hòa: Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – TA GỌI LÀ MŨI DINH; TÂY GỌI LÀ CAP PADARAN

Mũi Dinh (cap Padaran): nơi ghe thuyền qua lại cần lưu ý!

Hải đăng Mũi Dinh

Dọc ven bờ biển Nam Trung Bộ có một địa danh gọi là Mũi Dinh. Étienne Aymonier đã ghi lại cách gọi địa danh Mũi Dinh bằng ba ngôn ngữ: “Ce massif a du(*) être une ile(*) jadis, ainsi que celui du cap Padaran. Ce dernier massif appelé Chek Chebang “les monts fourchus” par les Tjames, est en effet bifurqué. Sa pointe sud- est est le Chek Dil des Tjames, le Mũi Dinh des Annamites, le cap Padaran des Européens”(1) ( Khối núi này có thể là một hòn đảo xưa kia, tựa như khối núi của mũi Padaran. Khối này sau này được người Chăm gọi là Chek Chebang(2) “những ngọn núi chia nhánh” đúng là nó bị rẽ đôi. Mũi đông nam của nó người Chăm gọi là Chek Dil, người An Nam gọi là Mũi Dinh, người Âu châu gọi là cap Padaran). Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – Ý NGHĨA CỦA CHỮ “VĂN” TRONG TỪ “VĂN MIẾU” – VĂN MIẾU THỜ AI?

       Đài RFA (Á châu tự do) có bài viết “Văn miếu xưa và nay” đã nhận định về việc một số địa phương ở Việt Nam cho xây dựng Văn miếu: “Vừa qua nhiều địa phương tại Việt Nam rộ lên việc xây dựng công trình phỏng theo Văn miếu ở Hà Nội, tuy nhiên sau khi hoàn thành các địa phương tỏ ra lung túng không biết đưa vị nào vào thờ chính tại Văn miếu địa phương của họ”. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã trả lời phóng viên về việc này: “Ở tỉnh Vĩnh Phúc người ta đầu tư xây dựng một cái Văn miếu với kinh phí 271 tỷ đồng chẳng hạn, nhưng bây giờ xây xong rồi vẫn bỏ không ở đấy, vì không biết phải đưa những người nào để vào thờ. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN TÌM HIỂU CÁCH SẮP ĐẶT CÁC THẦN CHỦ TRONG BẢO KHÁM Ở GIAN GIỮA HƯNG MIẾU VÀ THẾ MIẾU

    Hiện nay trong bảo khám ở gian giữa Hưng miếu có hai thần chủ của Hiếu Khang hoàng đế và Hiếu Khang hoàng hậu (song thân của vua Gia Long). Cả hai thần chủ đều nhìn về hướng nam. Bảo khám ở gian giữa Thế miếu có ba thần chủ: thần chủ chính giữa bảo khám là của vua Gia Long và hai thần chủ đứng hai bên là của Thừa Thiên Cao hoàng hậu và Thuận Thiên Cao hoàng hậu. Cả ba thần chủ đều nhìn về hướng nam.  Chúng ta cùng đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu cách sắp đặt các thần chủ trong bảo khám ở gian giữa Hưng miếu và Thế miếu có giống như cách sắp đặt hiện nay không? Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – CÁI NHÌN CỦA NGƯỜI XƯA VỀ ĐẢNG PHÁI

dangTôi có một người bạn vong niên trước năm 1954 là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Trên chiến khu ông được phân công phụ trách về báo chí, trong một lần nói chuyện với tôi về đảng này, phái nọ, ông đã dẫn lời Mao Trạch Đông: “ Đảng ngoại vô đảng, đế vương tư tưởng; Đảng nội vô phái, thiên kỳ bách quái!” (Ngoài đảng không có đảng nào nữa, là ý nghĩ của vua chúa; Trong đảng mà không có phe phái, là chuyện vô cùng kỳ quặc!). Nghe xong tôi liền hỏi ông vì sao “Đảng ngoại vô đảng” lại là “ đế vương tư tưởng?”. Ông đã chấp nhận với tôi làm người “bất tri vi bất tri” (không biết ,nói là không biết). Thắc mắc ấy vẫn luôn bám lấy tôi. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – NGUỒN GỐC ĐỊA DANH HÒA LAI Ở TỈNH NINH THUẬN

thap-cham-1-014f4Ở tỉnh Ninh Thuận, hiện có hai ngọn tháp Chăm đứng cạnh Quốc lộ I A, nhưng lại được gọi là Ba Tháp, bởi trong quá khứ tại đây có ba ngôi tháp nhưng có một ngôi tháp đã bị sụp đổ nên mới có tên gọi như vậy! Giới khảo cổ gọi cụm tháp ấy là tháp Hòa Lai.

Trong bài viết “ Nguồn gốc địa danh…” của Chế Vỹ Tân viết về địa danh Hòa Lai: “là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên Quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8 km( ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Tiếp tục đọc