NGUYỄN BẢO HƯNG – HEMINGWAY: nhà văn, con người và cõi sống

(Gửi D. cô em đã có lời khuyến khích anh nên viết tiếp để nói về Hemingway)

   Phần I – Hemingway: nhà văn

Ernest HEMINGWAY (1899-1961) là nhà văn Mỹ từng được giải văn học Nobel, nổi danh toàn cầu. Nhưng tôi chỉ biết đến tên ông khoảng đầu thập niên 1960, khi Sài Gòn rầm rộ cho ra mắt các bộ phim phỏng theo một số tác phẩm của ông như Le soleil se lève aussi, L’adieu aux armes, Pour ce qui sonne le glas, Le vieil homme et la mer… Nghĩ mình cũng dân sành điệu xi-nê chẳng thua ai nên hồi đó, mỗi lần nghe quảng cáo có phim mới phỏng theo truyện của Hemingway, thế nào tôi cũng phải đi coi bằng được, cho dù có phải đứng xếp hàng dài nghển cổ, thậm chi có lúc còn phải thúc cùi chỏ để giành giật cho được  tấm vé. Tiếp tục đọc

Nguyễn Bảo Hưng – “Paris est une fête” hay là câu chuyện về một cuốn sách

paris_est_une_fete_hemingway« Paris est une fête » là tựa một cuốn sách của Ernest Hemingway bình thường chắc ít ai buồn để ý, thậm chí được nghe nhắc tới. Bản thân tôi cũng không ngờ lại có cuốn sách này trong sự nghiệp đồ sộ của nhà văn Mỹ từng được giải Nobel, nếu đã không xảy ra biến cố đó. Cái biến cố thời sự làm tôi chú ý tới cuốn sách, ấy là vụ việc trong đêm thứ sáu 13-11-2015 quân khủng bố hồi giáo IS đã mở một loạt tấn công khủng bố tại bốn địa điểm khác nhau ở Paris, gây thiệt mạng cho 121 người và hơn hai trăm người khác bị thương. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BẢO HƯNG – DẤN BƯỚC THĂNG TRẦM (Phần IIb)

sisypheL’homme se découvre quand il se mesure avec l’obstacle.» Antoine de Saint-Exupéry (Œuvres – Terre des hommes – p.139 – Bibliothèque de la Pléïade, Editions Gallimard 1959 ) (Con người phát hiện được mình khi phải đương đầu với thử thách.)

Trước đây mỗi lần cầm đến cuốn tiểu luận tôi thường chú ý tới chương chót nhiều hơn, có lẽ vì nó được mang tiểu đề « Le mythe de Sisyphe » như tựa cuốn sách. Mặc dù chịu khó đọc đi đọc lại nhiều lần, nhưng có lẽ còn chưa tách thoát khỏi ảnh hưởng của những sự tích truyền khẩu, tôi vẫn quay về với hình ảnh thần thoại của một Sisyphe người hùng nổi loạn. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BẢO HƯNG – DẤN BƯỚC THĂNG TRẦM (Phần 2)

luocbotmi« L’homme se découvre quand il se mesure avec l’obstacle. » A. de Saint-Exupéry (Œuvres –Terre des hommes, p.139 – Bibliothèque de la Pléïade – Editions Gallimard 1959 ) (Con người phát hiện được mình khi phải đương đầu với thử thách.)

Trảng lớn, Phú quốc, Long giao, Suối máu !

Ôi ! Những năm tháng sống phấn đấu để khỏi bị nhận chìm trong vũng lầy tuyệt vọng.

Năm giờ kẻng báo thức. Tập họp điểm danh. Phần ăn tiêu chuẩn chưa kịp giắt lưng đã nghe tiếng thúc giục cuốc sẻng lên đường. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BẢO HƯNG – DẤN BƯỚC THĂNG TRẦM

traicaitao« Il n’y a pas d’amour de vivre sans désespoir de vivre . »

(Không thể biết yêu thương cuộc sống nếu không phải sống qua tuyệt vọng.) A. CAMUS (L’envers et l’endroit – Editions Gallimard 1958 – coll. Folio , p.107)

Sài gòn một ngày vào cuối tháng tư 1975.

Một ngày để chấm dứt một thời buổi loạn ly.

Một ngày để mở màn cho những đau thương đổ vỡ mới. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BẢO HƯNG – TRƯỜNG PHÁI ẤN TƯỢNG HAY LÀ NGÔN NGỮ HỘI HỌA SÁNG TẠO

monetNgày 15-4-1874 tại cơ sở của nhiếp ảnh gia Nadar số 35 đại lộ Capucines – Paris đã khánh thành cuộc triển lãm tranh của một nhóm họa sĩ ly khai khoảng 30 người trong đó có Monet, Renoir, Degas, Berthe, Morisot, Pissarot… Gọi là ly khai (dissidents) nghe cho xôm tụ, chứ thời bấy giờ họ bị liệt vào nhóm họa sĩ bị khước từ (les refusés) vì tranh của họ không được nhận trưng bày tại Phòng Triển lãm chính thức. Phòng Triển lãm chính thức thời ấy, được biết dưới tên gọi Le Salon officiel và đặt trụ sở tại Viện bảo tàng Louvre, là nơi hàng năm tổ chức trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc được đánh giá là có mỹ thuật. Đây chính là cơ hội để tác giả được quần chúng biết đến và đem lại cho họ danh vọng tiền tài. Tiếp tục đọc

NGUYỄN BẢO HƯNG – NGUYỄN TẤT NHIÊN, nhà thơ biểu tượng? (phần chót)

nguyentatnhienSau ngày 30-4-1975, thời gian còn kẹt lại ở Việt Nam, Nguyễn Tất Nhiên đã sinh sống ra sao ? Tôi nào có biết. Lo lắng cho số phận mình chưa xong, tôi đâu có thì giờ quan tâm đến chuyện người khác, nhất là giữa anh và tôi chẳng có một mối liên hệ thân tình nào. Mãi sau này tôi mới biết anh đã vượt biên trốn khỏi Việt Nam vào năm 1978. Thời gian ba năm kẹt lại ở Việt Nam anh có phải đi cải tạo như tôi, hay may mắn không thuộc diện phải ra trình diện học tập ? Nhưng dẫu có thế nào chăng nữa, tôi cũng phỏng đoán là anh không thể thích nghi với khung cảnh sống đột ngột đổi mới này. Bản chất con người thơ chân phương, chắc chắn anh cảm thấy bị chết ngộp trong cuộc sống khuôn đúc chỉ đòi rập ra một loại tình cảm đơn điệu. Làm sao anh tìm ra được cảm hứng trước cảnh người người buộc phải đeo mặt nạ để làm bộ nhảy múa reo mừng. Bởi vậy bất chấp gian nan hiểm nghèo, anh quyết định tìm đường ra đi. Tiếp tục đọc