Nguyễn Cung Thông – Tiếng Việt thời LM de Rhodes – sinh thì là chết?

Các phần trước của loạt bài “Sinh thì là chết?” (11.1, 11.2 và 11.3) đã ghi nhận khả năng liên hệ sinh 生 trong sinh thì với cách đọc Hán Việt thăng[2] 升 và phương ngữ ở phía Nam Trung Quốc (TQ) qua dạng sing/seng (shēng bình thanh, giọng BK bây giờ), hay là một cách dùng nhầm của tiếng Việt[3] (so với nghĩa sinh thì/sinh thời trong tiếng Việt hiện đại). Phần này bàn về khả năng sinh thì là kết quả thể hiện qua ngôn ngữ từ tư duy tổng hợp của người VN: kết hợp lòng tin Công giáo với truyền thống tôn trọng người đã ‘qua đời’ qua uyển ngữ Hán Việt (HV). Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A)

Phần này bàn về Kinh Lạy Cha (KLC) qua các dạng ghi nhận trong văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Phân tách kỹ hơn KLC sẽ tìm ra các dấu ấn của tiếng Việt cổ, sự thay đổi cách dùng trong tiếng Việt và ngay cả ảnh hưởng chính trị và thời cuộc. Cũng vào thời gian soạn phần 5A này, các vị giám mục Pháp đã quyết định đổi một chữ trong KLC “Ne nous soumets pas à la tentation” thành “Ne nous laisse pas entrer en tentation” (so với KLC tiếng Việt 2017 “Xin chớ[2] để chúng con sa chước cám dỗ”, tiếng Anh “lead us not into temptation”). Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Nguồn gốc tên gọi 12 con giáp – Tuất *swot chó (phần 12A)

­­­

Bài này viết về năm Tuất, năm có biểu tượng là loài chó trong 12 con giáp. Các dữ kiện ngôn ngữ, đặc biệt khi xem lại các từ Hán cổ liên hệ, đều cho thấy nguồn gốc phi-Hán (không phải của Trung Quốc) như nhiều người đã lầm tưởng từ Đông sang Tây và qua bao ngàn năm nay. Bài này là một phần trong loạt bài “Nguồn gốc Việt Nam của tên gọi 12 con giáp”. Tuất dùng để chỉ thời gian như năm, tháng, ngày, giờ (từ 7 đến 9 giờ tối); chỉ không gian như hướng tây tây bắc (WNW, West NorthWest) và tuổi có thể liên hệ đến vận mệnh con người (bói toán); có người lại coi tuổi con (thú) nào quan trọng hơn cả ngày tháng năm sinh của mình … Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Tiếng Việt thời LM de Rhodes-cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)

Phần này bàn về cách dùng đỗ như “đỗ trạng nguyên”, xuống thuyền/lên đất, trên và dưới vào thời LM Alexandre de Rhodes sang An Nam truyền đạo, cụ thể là qua tự điển Việt Bồ La và các tài liệu chữ Nôm hay tiếng Việt cùng thời đại. Với cách nhìn rộng ra hơn, từ trục không gian đến thời gian, ta có cơ sở giải thích các cách dùng đặc biệt này trong tiếng Việt. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ …) của các từ này. Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Tiếng Việt thời LM de Rhodes – cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)

Phần này bàn về cách dùng chớ, chớ gì và kín vào thời LM Alexandre de Rhodes sang An Nam truyền đạo, cụ thể là qua tự điển Việt Bồ La và các tài liệu chữ Nôm hay tiếng Việt cùng thời đại. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ …) của các từ này. Các cách dùng tương tương tự trong bản chữ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL) cũng được tham khảo vì khả năng xuất hiện cùng thời kỳ hay ngay sau thời VBL. Bài viết cũng bàn về cách hiểu và dịch lời cầu nguyện Amen, thường gặp trong các kinh truyện vì cũng cho ta nhiều dữ kiện thú vị. Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min … Tiếng Việt thời LM de Rhodes (phần 2)

Phần này bàn về các cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vào thời linh mục (LM) Alexandre de Rhodes đến An Nam truyền đạo. Cách gọi đại từ nhân xưng với các ngôi chính là vết tích của truyền thống ngữ pháp La Tinh như sẽ thấy rõ hơn ở phần sau. Bài này chú trọng đến cách dùng vào thời các giáo sĩ qua An Nam, chứ không phê bình cách phân loại này có chính xác hay không cho loại hình ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt. Một điều rất rõ qua các tài liệu vào thời này là LM de Rhodes phải đối phó với một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ, nhất là cách xưng hô thật là phức tạp khiến ông phải giải thích bằng nhiều trang giấy hơn so với các cách dùng khác như danh từ, động từ, giới từ … Tiếp tục đọc

Nguyễn Cung Thông – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)

rhodesPhần này bàn về các cách dùng xuống thuyền, lên đất, ra đời từ nhận xét của linh mục/LM de Rhodes trong cuốn từ điển Việt Bồ La (1651). LM de Rhodes đã phải cố gắng ghi chú thêm khi thấy các cách dùng này, rất khác biệt (hay có lúc ngược lại) với các cách dùng ngữ pháp truyền thống của tiếng Pháp, La Tinh … Thật ra khi hiểu cách nhìn tổng hợp của người An Nam từ xưa đến nay trong các trường hợp khác như thời gian, tín ngưỡng (kiếp trước, kiếp sau), cách xưng hô (vị trí trong xã hội và gia đình), các câu chuyện hàng ngày (ra chợ, thuyền đi trên sông …) thì ta có thể hiểu phần nào các cách dùng đặc biệt này. Tiếp tục đọc