Nguyễn Văn Nghệ – CAP VARELLA “THẬT” VÀ CAP VARELLA “GIẢ”

   Trên bản đồ Việt Nam do người Âu châu vẽ vào những thế kỷ trước cho thấy  dọc bờ biển Việt Nam có một nơi mang tên “cap Varella” (mũi Varella). Ngoài ra cũng dọc theo bờ biển Việt Nam còn có một nơi mang tên “faux cap Varella” (mũi Varella giả).

Cap Varella “thật”

Trong tác phẩm Notes sur l’Annam II le Khánh Hòa (An Nam ký sự II tỉnh Khánh Hòa) của  Étienne Aymonier xuất bản năm 1886 cho biết giới hạn bờ biển phía bắc của tỉnh Khánh Hòa: Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – TA GỌI LÀ MŨI DINH; TÂY GỌI LÀ CAP PADARAN

Mũi Dinh (cap Padaran): nơi ghe thuyền qua lại cần lưu ý!

Hải đăng Mũi Dinh

Dọc ven bờ biển Nam Trung Bộ có một địa danh gọi là Mũi Dinh. Étienne Aymonier đã ghi lại cách gọi địa danh Mũi Dinh bằng ba ngôn ngữ: “Ce massif a du(*) être une ile(*) jadis, ainsi que celui du cap Padaran. Ce dernier massif appelé Chek Chebang “les monts fourchus” par les Tjames, est en effet bifurqué. Sa pointe sud- est est le Chek Dil des Tjames, le Mũi Dinh des Annamites, le cap Padaran des Européens”(1) ( Khối núi này có thể là một hòn đảo xưa kia, tựa như khối núi của mũi Padaran. Khối này sau này được người Chăm gọi là Chek Chebang(2) “những ngọn núi chia nhánh” đúng là nó bị rẽ đôi. Mũi đông nam của nó người Chăm gọi là Chek Dil, người An Nam gọi là Mũi Dinh, người Âu châu gọi là cap Padaran). Tiếp tục đọc

Hà Văn Thùy- TRỞ LẠI VỚI CÂU HỎI: CON NGƯỜI RỜI KHỎI CHÂU PHI KHI NÀO?

Năm 2004 khi bắt đầu hành trình tìm lại cội nguồn dân tộc, chúng tôi buộc phải trả lời câu hỏi: Con người rời châu Phi khi nào? Nhờ tìm được đáp án, chúng tôi đã khám phá không chỉ nguồn gốc mà cả lịch sử văn hóa của tộc Việt. Nhưng nay, với những phát hiện mới của khảo cổ học, nhiều học giả đang đặt lại vấn đề này. Do vậy, chúng tôi xin được trình bày như sau.

  1. Tóm lược quá trình khảo cứu.

Tài liệu đầu tiên mà chúng tôi có để tìm về nguồn cội là công trình Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic Relationship of Populations in China)(1). Nghiên cứu này cho rằng: Tiếp tục đọc

Nguyễn Ngọc Chính – Phương tiện di chuyển của người Việt xưa

Trong suốt chiều dài lịch sử, hàng loạt các loại phương tiện giao thông, cá nhân cũng như công cộng, lần lượt xuất hiện tại Việt Nam. Theo luật đào thải tất nhiên của cuộc sống, chúng cũng lần lượt được thay thế bằng những phương tiện mới hơn nhằm phục vụ cuộc sống tốt hơn. Loạt bài viết này sẽ điểm qua những phương cách di chuyển xưa của người Việt mà cho đến ngày nay đã trở thành quá khứ. Tiếp tục đọc

Hà Văn Thùy – NHÌN NHẬN LẠI VIỆC ĐÁNH GIÁ TRIỆU ĐÀ VÀ NƯỚC NAM VIỆT TRONG LỊCH SỬ

Từ thời có Sử, các nhà nước quân chủ Việt Nam đều ghi công Triệu Đà và thừa nhận Nam Việt là triều đại chính thống của Việt Nam. Dù ở cuối thế kỷ XVIII Ngô Thì Sỹ có lên tiếng bài bác, cho Triệu Đà có tội đưa nước ta vào vòng nô lệ phương Bắc thì sử nhà Nguyễn vẫn ghi nhà Triệu là tiền triều. Quan niệm này được tiếp tục trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim rồi Bài ca Việt Minh của Hồ Chí Minh xuất bản tại Cao Bằng năm 1942 với hai câu thơ: Triệu Đà là vị hiền quân. Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời. Năm 1945, Chương trình Phổ thông Trung học của Chính phủ Trần Trọng Kim cũng coi nhà Triệu mở đầu cho lịch sử Việt Nam. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN TÌM HIỂU CÁCH SẮP ĐẶT CÁC THẦN CHỦ TRONG BẢO KHÁM Ở GIAN GIỮA HƯNG MIẾU VÀ THẾ MIẾU

    Hiện nay trong bảo khám ở gian giữa Hưng miếu có hai thần chủ của Hiếu Khang hoàng đế và Hiếu Khang hoàng hậu (song thân của vua Gia Long). Cả hai thần chủ đều nhìn về hướng nam. Bảo khám ở gian giữa Thế miếu có ba thần chủ: thần chủ chính giữa bảo khám là của vua Gia Long và hai thần chủ đứng hai bên là của Thừa Thiên Cao hoàng hậu và Thuận Thiên Cao hoàng hậu. Cả ba thần chủ đều nhìn về hướng nam.  Chúng ta cùng đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu cách sắp đặt các thần chủ trong bảo khám ở gian giữa Hưng miếu và Thế miếu có giống như cách sắp đặt hiện nay không? Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Nghệ – NGUỒN GỐC ĐỊA DANH HÒA LAI Ở TỈNH NINH THUẬN

thap-cham-1-014f4Ở tỉnh Ninh Thuận, hiện có hai ngọn tháp Chăm đứng cạnh Quốc lộ I A, nhưng lại được gọi là Ba Tháp, bởi trong quá khứ tại đây có ba ngôi tháp nhưng có một ngôi tháp đã bị sụp đổ nên mới có tên gọi như vậy! Giới khảo cổ gọi cụm tháp ấy là tháp Hòa Lai.

Trong bài viết “ Nguồn gốc địa danh…” của Chế Vỹ Tân viết về địa danh Hòa Lai: “là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên Quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8 km( ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Tiếp tục đọc