ĐÀM TRUNG PHÁP – “ANH MÊ ĐÓA HOA NHỎ NHOI TRÊN VÁY EM … ” (Victor Hugo)

 Bài viết này lấy hứng khởi từ cách sử dụng ngôn từ cực kỳ là “ngông” của Victor Hugo (1802-1885) trong đoạn chót bài thơ tình nồng nàn mang tên Pour Jeanne seule (Cho Jeanne đọc thôi) trong thi tập Les Chansons des rues et des bois (Những ca khúc của phố và rừng) :

Jeanne ơi, em có biết điều chi Et sais-tu ce qui m’occupe

đang bận lòng anh không nhỉ ? Jeanne ? C’est que j’aime mieux Tiếp tục đọc

GS ĐÀM TRUNG PHÁP – ANH NGỮ HÀN LÂM 06 – THE 12 VERB TENSES

 So với tiếng Việt thì verbs (động từ) tiếng Anh rắc rối hơn nhiều. Sự  khác biệt này là lý do tại sao học viên người Việt chúng ta thường  phạm nhiều lỗi với cách sử dụng các “tenses” (thời) trong tiếng Anh. Hơn nữa tiếng Việt không có những “irregular verbs” (động từ bất quy tắc) lạ lùng như tiếng Anh. Ta có thể nói trong lãnh vực này, tiếng Việt giản dị bao nhiêu thì tiếng Anh phức tạp bấy nhiêu. Trong khi tiếng Việt chỉ cần 3 function particles (tiểu từ chức năng) “đang, đã, sẽ” để “chia” tất cả các động từ cho ba ý niệm “hiện tại, quá khứ, tương lai” thì tiếng Anh có 12 tenses với cách dùng khác nhau để “conjugate” các verbs! Tiếp tục đọc

ĐÀM TRUNG PHÁP ĐIỂM SÁCH – TỪ ĐIỂN NHÂN DANH, ĐỊA DANH & TÁC PHẨM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TRUNG QUỐC (BS HOÀNG XUÂN CHỈNH)

Trong các sách vở, báo chí Anh Mỹ ngày nay viết về Trung Quốc, các tên người, tên đất, tên thời đại, tên tác phẩm văn học, vân vân, thường được viết bằng mẫu tự La Mã, ghi theo lối phát âm Quan Thoại. Ba lối viết được nhiều người biết đến là Yale, Wade-Giles, và Pinyin. Trong khoảng hai chục năm nay lối viết Pinyin (“phanh âm”) là lối phổ cập hơn cả và cũng được dùng rất nhiều trong các tài liệu dạy tiếng Quan Thoại cho người phương Tây.  Pinyin đã thay thế Wade-Giles, nhưng lối viết Wade-Giles vẫn còn được thấy trong những tài liệu xuất bản trước năm 1979. Tiếp tục đọc

ĐÀM TRUNG PHÁP – GIỚI THIỆU SÁCH FROM THE CITY INSIDE THE RED RIVER (NGUYỄN ĐÌNH-HÒA)

Đã từ lâu, tôi ngưỡng mộ các bài viết về ngôn ngữ và văn học Việt Nam mà Giáo sư Nguyễn Đình-Hòa được mời đóng góp trong các tự điển bách khoa như International Encyclopedia of Linguistics (Oxford University Press, 1992) và The New Princeton Encyclopedia of Poetry and Poetics (Princeton University Press, 1993), cũng như cuốn sách Vietnamese / Tiếng Việt Không Son Phấn (John Benjamins Publishing Company,1997) của ông.

Những đóng góp uyên bác của ông đã giúp thế giới bên ngoài hiểu biết một cách nghiêm chỉnh về ngôn ngữ và văn học Việt nam. Tôi cũng rất vui mỗi khi được giới thiệu những tài liệu quý báu vừa kể cho các sinh viên cũng như  giáo giới Mỹ tại Texas muốn tìm hiểu về văn hóa Việt. Tiếp tục đọc

GS ĐÀM TRUNG PHÁP – THÀNH NGỮ TIẾNG ANH KỲ 11 – [251-270]

251 bring to light: tiết lộ ra điều gì trước đó bị dấu kín – All the facts of the case were “brought to light” after investigations – [light = public knowledge].

252 bring to mind: gợi nhớ đến – This romantic movie “brings to mind” the first time I clumsily kissed a girl. – [Mở đầu bài hát Auld Lang Syne (tiếng Tô cách lan có nghĩa là Times Gone By) – để tống cựu nghinh tân lúc nửa đêm 31 tháng 12 hằng năm – tác giả Robert Burns đặt câu hỏi: Should old acquaintances be forgot / and never “brought to mind?” –  Đây là một câu hỏi tu từ (rhetorical question) không được tác giả cho câu trả lời, cố tình để người nghe phải tự hỏi lòng mình]. Tiếp tục đọc

GS ĐÀM TRUNG PHÁP – ANH NGỮ HÀN LÂM 05 – RUN-ON SENTENCE CÂU CHẠY TUỐT LUỐT

  1. Run-on sentence là lỗi rất nặng trong Anh ngữ hàn lâm. Ta phải biết cách sửa nó thành một câu đúng cú pháp. Hãy quan sát 10 run-on sentences dưới đây được đánh dấu bằng ký hiệu * ở đằng trước. Chúng không bình thường đâu!

* [Correct syntax is important everybody knows that.]

* [Thúy loves shopping, she does it as much as she can.]

* [Smoking causes lung cancer, however lots of people keep smoking.] Tiếp tục đọc

GS ĐÀM TRUNG PHÁP – ANH NGỮ HÀN LÂM 04 – SENTENCE FRAGMENT CÂU CỤT

 Fragments là những câu không trọn vẹn về hình thức cũng như ý nghĩa. Đứng “chơi vơi,” fragments là những lỗi rất nặng trong Anh ngữ hàn lâm. Ta phải biết cách tránh hoặc sửa những lỗi ấy.  Dưới đây là những thí dụ cho thấy các cách sửa fragments để chúng trở thành những yếu tố đúng cú pháp trong complete sentences.

Ký hiệu * được đặt trước mỗi fragment “cần phải sửa” cho trọn nghĩa • Ký hiệu >> có nghĩa là “cách sửa” • Ký hiệu = có nghĩa là “sau khi sửa thì trở thành.” Tiếp tục đọc