Đỗ Trường – GIÁO SƯ NGUYỄN XUÂN VINH – CHÂN DUNG TỪ MỘT NHÀ VĂN

Nguyễn Xuân Vinh
GS Nguyễn Xuân Vinh

Hè năm nay đến thật sớm. Tháng bảy, có những lúc nhiệt độ ngoài trời đã đẩy cái nóng ở châu Âu lên đến gần 40 độ. Vì vậy, buộc tôi phải tìm về với biển Sint Philipsland – Holand. Nắng gió nơi đây thêm phần hứng khởi cho việc câu cua, nhặt hào. Đang rung rinh, phấn khích chợt có tin nhắn từ Cali của một bác nhà văn già: Giáo sư, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã qua đời. Tôi lặng đi vài giây. Dẫu biết rằng, cái qui luật tự nhiên đó không ai có thể tránh khỏi, nhất là GS Nguyễn Xuân Vinh đã ở tuổi 92. Tuy nhiên, một thiên tài khoa học không gian mất đi để lại sự luyến tiếc trong lòng người. Nhất là nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh gốc gác có cùng quê ngoại Nam Định. Do vậy, tôi liền tìm đọc sâu về ông.

Và từ đó tôi nhận ra: Sự tưởng tượng và liên tưởng của nhà văn dường như có mối quan hệ đặc biệt, mang tính logic với tư duy toán học. Và mối quan hệ, tính logic này đã làm nên chân dung bác học, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Thật vậy, với ông, nếu toán học gói ghém cái cụ thể nhất, thì văn thơ mở cái trừu tượng của không gian vũ trụ. Hay nói một cách khác, văn thơ Toàn Phong đã vạch ra chân trời, buộc toán học Nguyễn Xuân Vinh mở ra con đường đi đến. Và cái đích ấy, chính là sự phát minh phương pháp quỹ đạo tối ưu từ toán học Nguyễn Xuân Vinh để đưa các Phi thuyền Apollo lên được mặt trăng, rồi thu hồi các Phi thuyền con thoi trở về trái đất an toàn. Vâng, có thể nói, ông đã trộn văn vào toán, trộn tình vào lý, trộn trừu tượng vào cái cụ thể để làm nên những điều kỳ diệu nhất cho khoa học, và cuộc sống: “Đời tổng hợp bởi muôn làn sóng cuộn/ Mà tình anh là quỹ tích của không gian/ Kiếp nhân sinh là hàm số tuần hoàn/ Nên quanh quẩn trên vòng tròn lượng giác.“ (Sóng Nước).

Nguyễn Xuân Vinh đã từng tham gia giảng dạy, thuyết trình nhiều năm ở các trường đại học lớn, và hội nghị quốc tế khắp nơi trên thế giới. Với nhiều công trình nghiên cứu không gian, và về toán học như vậy, tài năng, tên tuổi ông nổi bật trong giới khoa học vũ trụ thế giới. Và với tôi, ông là một nhà khoa học lớn nhất của Việt Nam từ trước đến nay.

Song song viết sách, báo khoa học, Nguyễn Xuân Vinh làm thơ, viết truyện, bút lực thật mạnh mẽ tài hoa, với thể loại văn học đa dạng. Tác phẩm nào của ông cũng để lại những trang văn đẹp, sâu sắc với tư tưởng mới, và truyền cái sinh khí đó đến người đọc một cách sinh động. Những tác phẩm: Đời phi công, Theo ánh tinh cầu, Tìm nhau từ thuở, và Đời vui toán học…là góc cạnh, cho từng giai đoạn gắn liền với cuộc sống của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Nhưng nếu buộc phải đưa ra một lời nhận định, lời bình thì với tôi, Đời phi công là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, xét về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Và đây cũng là tác phẩm viết về không quân hay, lãng mạn nhất mà tôi đã được đọc. Đọc nó, tôi hiểu thêm được phần nào về sự hình thành, củng cố Không lực VNCH (giai đoạn 1955-1962). Và không dừng lại ở đó, tác phẩm Đời phi công còn làm người đọc thấy được phẩm chất, tâm hồn nhà khoa học Nguyễn Xuân Vinh dưới khía cạnh một nhà văn.

Có thể nói, Đời phi công là cuốn sách độc đáo. Độc đáo bởi, Văn học sử Việt dường như chưa có cuốn truyện dài nào hay, sâu sắc được viết dưới hình thức, nghệ thuật thư từ. Và chín bức thư ấy, là chín chương sách gói gọn hồn vía, tự sự, với hành động, diễn biến tâm lý nhân vật. Nếu người viết không có tài thực sự, thì có sự trùng lặp hành động, tâm lý…dẫn đến chín chương tiểu thuyết ấy sẽ “lại gạo“ trở về chín trang thư sến, nhạt phèo. Do vậy, sử dụng hình thức, nghệ thuật thư từ để làm nên một tác phẩm văn học, ngoài tài năng, tìm tòi còn cần đến sự can đảm của tác giả nữa. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nghiền ngẫm, chợt cho tôi một suy nghĩ, Đời phi công thật ra là những trang hồi ký về một giai đoạn của tác giả mà thôi. Và câu hỏi được đặt ra: Tại sao Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh phải sử dụng thủ pháp nghệ thuật thư từ để viết tác phẩm này. Đây là thể loại dường như chưa có ai thử bút và rất khó thành công cho tiểu thuyết, truyện dài. Nhưng để cái lãng mạn, hào hoa ấy của người phi công (hay nghề phi công) đến với giới trẻ một cách nhanh, sâu sắc nhất, buộc nhà văn phải dùng thể loại, thủ pháp này. Do vậy, không chỉ cô Phượng, mà nhà văn có thể tưởng tượng ra những cô Thu, Lan, hay Đào, Cúc… khác, nhằm xây dựng, thiết lập thành đối tượng, nhân vật giao tiếp. Và thông qua nhân vật này, nhà văn muốn cài cắm cái tư tưởng của mình đến người đọc. Và quả thực, với tác phẩm Đời phi công, nhà văn Nguyễn Xuân Vinh đã thành công. Ông đánh đúng vào tâm lý khát khao cái mới của giới trẻ, và hun đúc thêm tình yêu quê hương, đất nước cho họ ở giai đoạn đó.

Đời phi công được viết, in ấn, phát hành năm 1959, khi tác giả Nguyễn Xuân Vinh đang là Tư lệnh Không quân, một lực lượng non trẻ, mới hình thành. Sự ra đời tác phẩm này mở ra cho thế hệ trẻ một ước mơ, một con đường bay về phía chân trời. Cho nên, tôi nghĩ, tính văn học cùng yếu tố chính trị đã làm nên tác phẩm Đời phi công. Và từ đó, ta có thể thấy, ngoài giá trị văn học, tác phẩm này còn mang lại cái giá trị lịch sử chân thực, sâu sắc về những ngày đầu chiến tranh.

Có thể nói, không chỉ trong thơ văn, mà cái tư tưởng canh tân, giải thoát cho đất nước bằng khoa học kỹ thuật đã có rất sớm trong Nguyễn Xuân Vinh. Bởi, ngay từ khi bước chân vào đời, ông đã nhận ra cái yếu kém, cũng như tư tưởng hủ lậu của con dân đất Việt, kể cả tầng lớp thanh niên: “Em chắc vẫn thường thấy, anh nói rằng, nước mình thiếu ngành chuyên môn và phần đông thanh niên mắc phải bệnh trọng văn khinh võ. Một ngày kia mình sẽ phải tiến kịp với mọi người. Một ngày kia mình phải có một quân đội hùng mạnh.“ (Đời phi công – chương 1). Cho nên, để thực hiện được những ước mơ, khát vọng đó, đối với Nguyễn Xuân Vinh văn thơ như một công cụ phá bỏ quan niệm cổ hủ ấy. Với biện pháp tu từ, hình ảnh so sánh hai người lính trước đây, và ngày nay, ông cho ta thấy cái giá trị của khoa học đối người lính trong chiến tranh, cũng như xây dựng, bảo vệ đất nước. Và chỉ có sự học hỏi để thay đổi nhận thức của con người, mới hy vọng mang lại tương lai tươi sáng, và cường thịnh. Do vậy, khoa học là con đường tất yếu để Nguyễn Xuân Vinh lựa chọn:

Cũng vì thế mà anh muốn trở thành một phi công và hơn thế nữa một phi công quân sự. Em cũng đừng vội kêu lên anh là xếp bút nghiên để khoác chiến bào. Trong thời ly loạn này dĩ nhiên mang nhung phục là bổn phận tất cả các thanh niên, nhưng câu chuyện xếp bút nghiên chỉ là câu chuyện cổ khi mà người tráng sĩ chỉ biết độc có một chuyện mài gươm dưới trăng, hát Bài ca chính khí, để rồi sáng hôm sau nghe tiếng tì bà giục lên ngưa, cố uống cạn chén rượu bồ đào cho say túy lúy trước khi ra đi. Người quân nhân hiện nay hơn lúc nào hết phải học hỏi nhiều cho mình mỗi ngày một tiến.“ (Đời phi công chương 1)

Bằng lời văn nhẹ nhàng, lồng hình ảnh vào không gian lãng mạn như thổi hồn vào chiều thu Paris, Nguyễn Xuân Vinh đưa tuổi trẻ đến gần hơn với tình yêu ánh sáng của khoa học. Vâng, có thể nói, thủ pháp lấy thiên nhiên, cảnh vật để miêu tả tâm trạng của Nguyễn Xuân Vinh không mới, song đọc nó làm tôi nhớ đến những trang thơ tuyệt đẹp về Mùa thu Paris của Cung Trầm Tưởng. Âu đây cũng là tài năng của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh vậy. Đoạn văn dưới đây, không chỉ chứng minh điều đó, mà còn gợi lại cuộc sống đầy hứng khởi, thi vị trong cái không gian tĩnh lặng của người học viên không quân, qua những hình ảnh ẩn dụ này:

Anh viết thư này cho em trong một quán rượu giữa khu Latin, một buổi chiều thu buồn về chầm chậm. Có qua Ba lê và lạc vào khu sinh viên này em mới có thể hiểu được rằng tại sao người ta có thể ngồi viết thư trong một quán rượu. Dọc theo hai bên đại lộ St. Michel từ đầu sông Seine tới vườn Luxembourg người ta chỉ thấy quán rượu, hiệu sách và sạp bán báo. Nói là quán cà phê thì đúng hơn vì thường thì ai cũng chỉ gọi cà phê hơn là gọi rượu. Vào trong quán tìm một bàn trong một góc kín đáo nhất, gọi một tách cà phê rồi trầm ngâm nhìn thiên hạ là một trong những cái thú của người sinh viên ở Ba lê.

Trong quán được sưởi ấm, một cái ấm vừa đủ để khách không đến nỗi co ro vì cái hàn bao la bên ngoài, nhưng cũng chỉ ấm đến độ người ta còn thấy trống trải nếu ngồi cô quạnh một mình.“ (Đời phi công-chương 2)

Đến với khoa học không chỉ dừng lại ở việc học, mà còn là sự tìm tòi, khám phá. Do vậy, Nguyễn Xuân Vinh dường như đã thi vị hóa từng hành động trong mỗi chuyến bay, để truyền cảm hứng ấy đến với giới trẻ chăng? Có thể nói, Nguyễn Xuân Vinh là một nhà văn có cái nhìn và quan sát tỉ mỉ. Từ những đặc điểm ấy, đã giúp cho lời văn của ông gợi cảm, giàu chất thơ khi miêu tả cảnh vật thiên nhiên hay nội tâm nhân vật. Thật vậy, cái giọng văn tuyền cảm, mộc mạc ấy, bật lên những hình ảnh rất đẹp trên trang viết Nguyễn Xuân Vinh:

Nắng chiều đã tắt hẳn, ánh đêm đã dâng lên. Dưới trăng dải mờ mờ, ánh đèn phi trường huyền ảo. Anh nhìn về phía chiếc xe vô tuyến cuối sân, đợi một ánh đèn xanh. Trong sương đêm mờ mờ một ánh đèn xanh chớp chớp gọi. Anh cho phi cơ từ từ ra sân. Hai hàng đèn chạy thẳng tắp. Địa bàn chỉ hai trăm tám mươi độ. Xa xôi là gió Đại Tây Dương đưa lại. Thêm một ánh đèn xanh chớp trong đêm. Anh nhìn một lần chót trong phòng lái. Mấy kim lân tinh chập chờn. Một đám mây đen lướt qua làm ánh trăng rằm mờ lại. Anh ấn tay ga. Thêm một lần nữa cánh gió quay tít lôi chiếc phi cơ chạy miết vào trong đêm. Thêm một lần nữa thân người phi công được giao cho nhịp máy. Chiếc phi cơ nhẹ nhàng cất cánh. Bóng trăng xuyên qua kẽ mây in hình phi cơ lên nền xi măng đang chạy miết.“ (Đời phi công-chương 3)

Với lời văn tự sự, Nguyễn Xuân Vinh từ thi vị hóa tình yêu đi đến lãng mạn hóa vùng trời bay. Rồi ông trộn tình yêu vào cái lãng mạn ấy, tạo một chất xúc tác dẫn đến phản ứng nội tâm sâu sắc cho người đọc, nhất là giới trẻ:

Anh đã cất cánh lúc trăng rằm vừa mọc làm mờ ánh sao hôm. Phi cơ sẽ trở về phi trường khi trăng còn đương chếch trên đỉnh đầu. Tuy em không ở gần anh nhưng anh tin rằng em đã cùng anh bay trong ánh trăng rằm đêm nay dưới trời Bắc Phi. Còn thấy giận anh nữa không, em Phượng?“ (Đời phi công-chương 3)

Không có trí tưởng tưởng, và liên tưởng chắc chắn không thể trở thành nhà văn. Những đặc điểm này, không thể tìm, không thể học, mà dường như thiên bẩm vậy. Cho nên, đọc và nghiên cứu Nguyễn Xuân Vinh, ta có thể thấy, sự (bác học) thiên phú ấy không chỉ về khoa học tự nhiên, mà còn ở cả khía cạnh văn chương. Và tất nhiên, sự thiên phú ấy chưa đủ làm nên một Nguyễn Xuân Vinh, nếu không có sự học tập, và nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo đến tận cùng của ông.

Tôi không rõ, khi ngồi vào buồng lái, người phi công có được mộng mơ suy tưởng hay phải tập trung tuyệt đối? Nhưng đọc những trang văn, hình ảnh với thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa, thông qua sự tưởng tượng và liên tưởng đến nỗi đau, và tương lai mịt mù của đất nước và con người, được viết khi người Pilot, nhà văn Nguyễn Xuân Vinh bay qua những xóm làng sa mạc ở Phi Châu, làm cho tôi rất khoái cảm. Thật vậy, đoạn trích dưới đây, sẽ cho ta thấy rõ điều đó, và chứng minh thêm tài năng, trí tưởng tượng và liên tưởng phong phú của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh:

Trên trời có muôn vàn vì sao, biết vì sao nào dẫn lộ trong đêm sáng trăng mờ này? Bầu trời trong suốt như pha lê. Vài màn sương mỏng lượn lờ trên thôn xóm. Thấp thoáng còn vài ánh đèn. Mỗi ánh đèn nhỏ bé loãng trong không gian mơ hồ biểu hiệu cho cả một gia đình. Trong đánh đèn le lói kia anh nhìn thấy cả một người cha đang ngồi đọc sách bên khung cửa, một người mẹ đang tính đến những dự định ngày mai và vài đứa nhỏ đang say sưa giấc ngủ. Có những ánh đèn từ những mái nhà khác vắng bóng người cha. Bà mẹ goá ngồi rầu rĩ bên thềm nhìn vao đêm tối như để tìm lấy một chút ánh sáng cho tương lai. Và còn nhiều ánh đèn khác. Trên quảng đường bay này phi cơ đã lướt trên ngàn vạn gia đình. Người phi công theo dòng đời trên mây đường trường ngang dọc có bao giờ nghĩ đến dừng ở một gia đình nào đâu?“ (Đời phi công-chương 3)

Tuy là một nhà khoa học luôn tìm tòi, khám phá cái mới, song hồn vía Nguyễn Xuân Vinh đeo nặng cái nếp cũ hồn xưa. Cho nên, đọc thơ văn viết về lính của ông làm tôi nhớ đến hình ảnh người chinh phu xưa của Đặng Trần Côn. Trở về mái nhà xưa, cày bừa, trồng cấy sau chiến tranh, ước mơ giản dị ấy của Nguyễn Xuân Vinh cũng là ước vọng của hàng trăm, hàng ngàn những người lính từ xưa đến nay: “Anh tin rằng, anh sẽ là một trong những người lính chiến đấu đến cùng để giữ lại một phần đất. Anh không dám nghĩ nhiều đến một ngày kia, khi khắp ruộng đồng cùng vang ca những khúc hát thanh bình, anh rời bỏ quân ngũ để về dọn lại thềm nhà cũ, xới lại mảnh vườn xưa, và dựng lên một mái tranh nho nhỏ, trả lại một chút nào niềm vui đã mất của người mẹ hiền.“ (Đời phi công chương 8).

Dù có xáo trộn thể loại, đổi mới thi pháp, song những thiên truyện Nguyễn Xuân Vinh vẫn mang hồn vía truyền thống cổ, với những cái kết có hậu. Văn ông giàu chất thơ, cùng những hình ảnh, lời văn rất đẹp. Có thể nói, Nguyễn Xuân Vinh là một trong những nhà văn tài năng hàng đầu của Việt Nam về sử dụng biện pháp tu từ. Đoạn kết thiên truyện Đời phi công dưới đây gói gọn toàn bộ đặc điểm ấy của thi ca Nguyễn Xuân Vinh:  

Anh ngồi viết cho em một buổi chiều nắng vàng chưa tắt. Ba năm về trước anh đã hứa những gì với em, chắc em còn nhớ. Chỉ độ hai tuần nữa anh sẽ gặp lại em. Nét cười có phác hồn tang hải, mái tóc có phai màu sương gió nhưng anh vẫn còn là anh của em như độ nào. Anh rời em một ngày đông lạnh lẽo ở Hà Thành và sẽ gặp lại em vào cuối một mùa xuân ở đô thị Sàigòn. Non nước kinh kỳ đà rời chỗ, còn em của anh có khác xưa không?“

Vâng, nhà văn Nguyễn Xuân Vinh không chỉ vẽ ra đường bay cho Phi thuyền Apollo lên mặt trăng, mà ông còn vẽ ra con đường ngắn nhất từ trái tim đến với trái con người bằng thơ văn của mình. Và Đời phi công dù là thể loại tiểu thuyết, hay bức thư dài, hoặc là những trang hồi ký… hoàn toàn không hề đổi thay giá trị đối với người đọc. Bởi, nó được tiết ra từ những cảm xúc chân thật nhất của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh. Như một kinh nghiệm sống nhà văn muốn gửi đến những người phi công tương lai, hay thế hệ trẻ vậy. Và có thể nói, Nguyễn Xuân Vinh luôn luôn gắn liền văn thơ, khoa học với cuộc sống và tình yêu. Do vậy, sách của ông dù là khoa học, hay văn chương luôn gây cho người đọc cảm giác rung động nhẹ nhàng, thú vị. Và tôi xin mượn Tình Hư Ảo, một bài thơ điển hình như vậy của ông để kết thúc bài viết này. Bài thơ khá dài, song có bố cục lo gic chặt chẽ, hồn vía toán học rất thú vị, do vậy tôi không thể cắt, trích đoạn:

Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác,

Nét diễm kiều trong tọa độ không gian.

Đôi trái tim theo nhịp độ tuần hoàn,

Còn tất cả chỉ theo chiều hư ảo.

Bao mơ ưóc, phải chi là nghịch đảo,

Bóng thời gian, quy chiếu xuống giản đồ.

Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô,

Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.

Anh chờ đợi một lời em giải thích,

Qua môi trường có vòng chuẩn chính phương.

Hệ số đo cường độ của tình thương,

Định lý đảo, tìm ra vì giao hoán.

Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn,

Tính không ra phương chính của cấp thang.

Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng,

Em trọn vẹn thành phương trình vô nghiệm.“

Leipzig ngày 29-8-2022

Đỗ Trường

 

 

 

 

Am Dienstag, 16. November 2021 um 18:05:05 MEZ hat ton t <tonwordpress@gmail.com> Folgendes geschrieben:

Dạ cám ơn anh nhiều.

Sẽ đọc rồi đăng cho bà con thưởng thức

Chúc anh vui mạnh

P

Am Di., 16. Nov. 2021 um 11:52 Uhr schrieb Do Truong <dotruong07@yahoo.de>:

                VĂN HỌC MIỀN NAM – MỘT GÓC NHÌN

Vào năm 2007, ở trong nước tái bản một số tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu. Rồi gần đây nhất, người ta cho in lại Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng và đọc một số truyện ngắn của Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn trên Radio làm cho bác Nguyễn hàng xóm, tiến sĩ ngôn ngữ học Đức, ghé tai tôi: Dường như người ta đang rón rén hồi sức cấp cứu để Văn học miền Nam (giai đoạn 1954-1975) sống dậy, sau mấy chục năm truy sát, đốt phá, tưởng chừng đập chết ăn thịt ngay thì phải? Sống ở nước ngoài đã quá nửa thế kỷ, nhận xét được như bác Nguyễn, quả thực cũng không có nhiều người. Tuy nhiên, tôi vẫn phải cự lại: Nhìn cái vỏ thì bác nói có phần đúng. Nhưng khi tìm tòi, nghiên cứu ta có thể thấy, Văn học miền Nam không cần phải (hồi sức cấp cứu) như vậy. Bởi, tuy bị bức tử, song cũng như âm nhạc, sức sống của nền văn học ấy vẫn mãnh liệt lắm. Nó không chỉ âm thầm đi sâu vào lòng người ở ngay đó, mà còn sinh sôi nảy nở ngoài cương thổ, nơi có mấy triệu người Việt nữa kìa!

Có lẽ, không hoàn toàn đồng ý với những suy nghĩ của tôi chăng? Nên bác Nguyễn hơi nhíu mày, máy mắt. Nhưng chưa tìm ra lý lẽ bắt bẻ, nên bác đành phải lắc gật, lắc gật… Thật vậy, có được sức sống lâu dài ấy, cũng bởi Văn học miền Nam chứa đựng những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hai giá trị cơ bản của văn học này, dường như ta rất ít gặp ở những tác phẩm ngoài Bắc trong cùng giai đoạn chiến tranh 1954-1975. Bởi, tính tuyên truyền đã bóp nghẹt những giá trị ấy. Dù miền Bắc có rất nhiều nhà văn tài năng. Gần đây ở trong nước nảy nòi ra một cụm từ mới: Văn học đô thị miền Nam. Nghe hơi bị giả giả, sến sến. Vậy thì giai đoạn 1954-1975 miền Nam còn có văn học nông thôn, rừng núi với những tác giả: Anh Đức, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, hay Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Bạch Đằng…nữa chăng? Không! Dứt khoát không có cái gọi văn nghệ đô thị, văn nghệ nông thôn như vậy. Bác hàng xóm tiến sĩ ngôn ngữ chém tay phầm phập, khẳng định cứ như đinh đóng cột. Bởi với ông, Văn nghệ giải phóng, giải pheo gì đó, cùng các tác giả này, đều là cánh tay nối dài của văn nghệ tuyên truyền, định hướng miền Bắc mà thôi. Lần này, có lẽ bác hàng xóm có lý, tôi cứng họng không cãi được câu nào. Do vậy, cũng theo ông, từ con Sông Bến Hải trở vào chỉ có một nền Văn học miền Nam duy nhất (chứ không có văn học đô thị, đô thẹo gì ở đây cả).

Thật vậy, dù đánh tráo khái niệm, hay khoác cho một chiếc áo, một tên gọi mới, thì thực chất Văn học miền Nam không hề bị méo mó, đổi thay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào cái giá trị hiện thực, và nhân đạo của Văn học miền Nam (trong chiến tranh) dưới ngòi bút của những nhà văn người lính mà thôi.

*Giá trị hiện thực.

Hiệp định Genève cắt đôi hình đất nước, kéo theo gần một triệu người di cư, trốn chạy từ Bắc vào Nam, với qui mô chưa từng có, kể từ ngày lập quốc. Và trong dòng người ấy, có rất nhiều văn nhân, nghệ sĩ tài năng như: Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Bằng, Nguyễn Sĩ Tế… Họ đã mang theo văn hóa đặc trưng vùng, miền làm cho ngôn ngữ Văn chương miền Nam thêm phong phú, đa sắc. Tuy chưa đến độ hoàn hảo, nhưng cánh cửa tự do đã mở cho văn học, cũng như báo chí miền Nam lúc đó. Chính vì vậy, sự tiếp nối Văn học tiền chiến, cùng tiếp cận, giao thoa với văn hóa phương Tây đã cho Văn học miền Nam một sắc thái, diện mạo mới, như một lẽ tự nhiên vậy.

Có thể nói, chiến tranh tuy tàn khốc, nhưng đã sản sinh ra một loạt các nhà văn, nhà thơ tài năng xuất thân từ những người lính: Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, Tô Thùy Yên, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Trần Dzạ Lữ… Những tác phẩm còn nguyên mùi khói thuốc, vang tiếng đạn bom của họ như một luồn gió mới làm thức tỉnh, và giải tỏa sự bế tắc của Văn thơ miền Nam đang gà gật lúc đó. Và những tác phẩm ấy gắn liền với hiện thực của xã hội, sự tàn khốc chiến tranh, cũng như thân phận người lính. Cái bi ai, cùng với tương lai mịt mù của những thế hệ trẻ bị ném vào chiến tranh, như lời thán ca vọng lên trong thơ, Trần Hoài Thư đã chia sẻ sự cảm thông, hay cho người đọc một nỗi đau nhức nhối ở trong lòng:

Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo

Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn

Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm

Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích

Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu

Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích

Đàn ngựa rũ bờm, không biết về đâu“ (Thế hệ chiến tranh)

Sự đói khát, gian nan ấy được Tô Thùy Yên đưa vào trong thơ một cách chân thực. Đọc lên, có lẽ ai cũng phải rùng mình cảm thương cho thân phận người lính: “Trên người bạn gục đạn mươi viên/ Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc/ Trong vết thương người bạn nín rên/ Người chết mấy ngày chưa lấy xác/ Thây sình mặt nát lạch mương tanh…”(Qua Sông). Cùng thời điểm đó, nếu đọc Văn chương miền Bắc, ta bắt gặp cái không khí hân hoan trái ngược hẳn với hiện thực sầu bi nơi bom đạn chết chóc. Sự thần thánh hóa chiến tranh và con người mang tính tuyên truyền như vậy, thì giá trị của nó chỉ (nhất thời) ở thời điểm đó mà thôi:“Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.” (Phạm Tiến Duật). Thật vậy, chỉ có hiện thực mới làm nên giá trị văn học. Và bút ký Những Ngày Gãy Vụn là một trong những tác phẩm như vậy của Phan Nhật Nam. Cái hiện thực ấy, được ông tái hiện lại dưới ngòi bút tài hoa của mình. Những trang văn rùng rợn, bi thương đó, đọc lên ai cũng phải bùi ngùi, xúc động:

Thoạt đầu còn e ngại nhưng đến xác thứ tư thứ năm lớp thịt nhũn của xác chết tiếp xúc với bàn tay hóa thành quen. Đi từ nơi để xác trở vào rừng, tôi không dám nhìn vào hai bàn tay của mình, thịt da người chết đã phết một lớp dầy trên da tay. Hai giờ chiều, xác chết đã nhặt được hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bóc hẳn lớp da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi …trời miền Nam bắt đầu vào mùa mưa, đất đỏ từ lối đi vào đến nơi chứa xác lầy lội tưởng như có pha máu người. Thân nhân người chết than khóc, lăn lộn trên lớp bùn non, áo sô trắng lấm đất đỏ như dấy máu. Hơi đất, hơi người sống, người chết, mùi hương đèn lẫn lộn ngây ngấy nồng nặc, choáng váng…“.

Nếu Phan Nhật Nam bước vào cuộc chiến bằng bút ký, thì ở mặt trận Phong Điền, người lính Trần Dzạ Lữ trải nỗi đau đó vào những trang thơ của mình. Và Bữa Cơm Ngoài Chiến Trường một bài thơ ngũ ngôn mộc mạc, giản dị được Trần Dzạ Lữ viết cách nay đã nửa thế kỷ, song đọc nhiều lần vẫn cho ta sự ám ảnh với những cảm xúc ban đầu. Hình ảnh cùng cực của người lính với sự tàn khốc của chiến tranh này, không chỉ có giá trị văn học, mà nó còn là chứng tích của lịch sử:

bốn năm thằng lơ láo

áo quần rách tả tơi

ăn cơm bên xác người

tay bốc tay cầm súng

ăn xong múc nước ruộng

uống đại cho qua ngày

quê nhà em có biết

chinh chiến thân lưu đày

ăn được là điều may

có khi hai ba ngày

không ăn chẳng có uống

ta nằm với cỏ cây…”

Đạn bom, gian khổ nơi chiến trường chưa hẳn là điều đáng sợ, bởi nó không thể giết chết niềm tin, lẽ sống của người lính. Song chính cái khối ung nhọt ở nơi hậu phương mới giết chết linh hồn, khát vọng của họ. Khi người lính nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng. Và cũng chính những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng, hay những ông vua tôn giáo này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Hiện thực và sự chán chường đó đã được nhà văn, người lính Phan Nhật Nam đưa vào tác phẩm Dấu binh lửa, một cách sinh động. Có thể nói, nếu không có sự can đảm của nhà văn thì chắc chắn không thể có những trang viết chọc thẳng vào cái ung nhọt của thượng tầng xã hội như vậy. Và chính nó đã làm nên một tác phẩm có giá trị lâu dài:

Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.“ (Dấu binh lửa)

Gian khổ, khốc liệt đưa đến cái bi quan chán chường của người lính là vậy, nhưng ở đâu đó sau trận chiến, ta vẫn sự hồn nhiên sảng khoái của họ, dưới ngòi bút của các văn nhân, thi sĩ: “Ta chắt cho nhau giọt rượu sót/ Tưởng đời sót chút thiếu niên đây/ Giờ cất quân, đưa tay bắt/ Ước cõi âm còn gặp để say.(Tô Thùy Yên). Ở giai đoạn này, các nhà văn, nhà thơ viết và khai thác tâm lý người lính một cách chân thật. Bởi vậy, hình ảnh họ với rượu chè, gái gú ngang tàng, cùng những khẩu ngữ trần trụi làm cho những tác phẩm văn học ấy sinh động, mới lạ, gần gũi và chân thực hơn: “Mai ta đụng trận ta còn sống/ Về ghé Sông Mao phá phách chơi/ Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/ Đốt tiền mua vội một ngày vui…Nếu ta lỡ chết vì say rượu/ Linh hồn chắc sẽ thành mây bay” (Nguyễn Bắc Sơn). Những khẩu ngữ trần trụi, đôi khi được cho là tục tĩu chẳng có tí tẹo gì liên quan đến thi ca thơ phú cả, (đại kỵ với văn thơ truyền thống, bác học) nhưng khi được đặt đúng trong văn cảnh, nó trở nên hay đến bất ngờ cho người đọc. Và Hành Quân là một bài thơ như vậy của Linh Phương: “Chiều qua sém chết vì viên đạn/ Du kích bên sông bắn tỉa hù /Cũng may gặp phải thằng cà chớn/ Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô”. Có thể nói, Linh Phương là nhà thơ tài năng, một gương mặt tiêu biểu Văn học miền Nam. Để Trả Lời Cho Một Câu Hỏi được ông viết vào năm 1970 là một trong những bài thơ hay và bi thương nhất của nền Văn học Việt Nam. Ngay sau khi ra đời, bài thơ đã được Phạm Duy phổ thành bản nhạc: Kỷ Vật Cho Em. Cái thân phận mỏng mảnh, và bi thảm của người lính trong thơ làm cho ta phải lặng người, xúc động khi đọc. Song có lẽ, nó chỉ mới nói lên được phần nào sự rùng rợ, tàn khốc của cuộc chiến mà thôi:

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Không bằng chiến trận Plei Me

Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giã

Anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về hòm gỗ cài hoa

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng…”

Giai đoạn chiến tranh (1954-1975) Văn học miền Nam dường như không có nhiều tác phẩm viết về đề tài nông thôn, nơi hậu phương? Ngoài những cuốn: Sông Sương Mù, và Những Cơn Mưa Mùa Đông của Lữ Quỳnh, Sợi Khói Bay Vòng của Phạm Ngọc Lư… Và gần đây tôi được đọc Địa ngục có thật của Dương Nghiễm Mậu. Đọc nó, ta không chỉ hiểu được văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền, và mối quan hệ, tình làng nghĩa xóm, mà còn thấy sự chết chóc, tàn nhẫn của chiến tranh ở đây không kém nơi chiến trường. Nếu ta đã đọc Dải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, thì chắc chắn sẽ trấn tĩnh hơn, và giảm bớt được nỗi kinh hãi khi đọc bút ký Địa ngục có thật của Dương Nghiễm Mậu. Có thể nói, không chỉ truyện, mà bút ký của Dương Nghiễm Mậu cũng có lời văn sáng, và rất đẹp. Cùng với Phan Nhật Nam, bút ký của ông mang đến cho tôi nhiều cảm xúc nhất khi đọc. Dù bút pháp, văn phong của hai nhà văn này hoàn toàn khác nhau. Chẳng vậy, mà bác tiến sĩ ngôn ngữ hàng xóm bảo, đọc Địa ngục có thật, đêm ngủ cứ giật mình thon thót, bởi ám ảnh. Vâng, đó mới chỉ là một phần của sự thật được Dương Nghiễm Mậu đưa lên trang viết. Và còn bao nhiêu cái chết, với những hố chôn người tập thể nữa, mà nhà văn chưa tìm bới ra được: “Người ta chỉ cho chúng tôi đi tới nữa, con đường hơi vòng, qua chiếc cầu sắt chúng tôi kinh hoàng với khung cảnh trước mắt: trên khoảng đất trống ven sông một nhà sạp chạy dài, trong đó hơn mười chiếc quan tài đủ cỡ để song song với nhau sau những bàn thờ, quanh đó những người mặc áo, đội khăn tang, trong đó có xác một học sinh đệ nhị, một ông già 68 tuổi… Người ta vẫn còn tiếp tục tìm xác, chỉ mới có 32 xác được tìm thấy… Còn những ai nữa sẽ được nhận ra. Còn những ai nữa nằm trong những cái hố nhỏ chất bẩy tám người chỉ cần lấy tay moi nhẹ là thấy. Những đau khổ không nói thành lời. Những sự việc không có lời giải thích. Tại sao vậy? Tại sao vậy?” (Địa ngục có thật)

Thành thật mà nói, nếu văn thơ không đi thẳng vào đời sống xã hội, một cách trung thực nhất, đó chỉ là những trang viết chết. Do vậy, đọc và nghiên cứu sâu về Văn thơ miền Nam, ta có thể thấy, tuy chưa thật hoàn hảo, nhưng giai đoạn 1954-1975 các nhà văn miền Nam đã không chịu sự kiểm soát, và áp đặt của quyền lực. Sự thật, công lý cho người dân là nơi ngòi bút của họ hướng tới. Cho nên, hiện thực là một trong những giá trị làm nên nền Văn học miền Nam (sống) là vậy.

*Giá trị nhân đạo

Nếu không có thơ văn đích thực, thì chúng ta và các thế hệ sau này chắc chắn sẽ không hiểu sự thật về bản chất của cuộc chiến này, cũng như tâm trạng người lính với những năm tháng tang thương đó. Văn học như một chiếc cầu nối lịch sử đến với con người vậy. Và chính những nhà văn người lính đã nối những nhịp cầu ấy. Thật vậy, giữa sự sống và chết rất mỏng manh nơi chiến trường, vậy mà ta vẫn thấy tính nhân bản của con người chợt hiện lên, đi vào những câu thơ có tính sảng khoái, nhẹ nhàng làm nguội đi cái không khí nghẹt thở đó: “Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng/ Xinh đẹp như con gái Sài Gòn/ Ta nổi máu giang hồ hảo hán/ Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân” (Linh Phương). Và cái tình người ấy, dường như xuyên suốt trang thơ của người lính. Một ngày ngưng chiến (1972), nhà thơ người lính Phan Xuân Sinh ngất ngưởng bên ly rượu cùng người lính phương Bắc. Tình đồng loại ấy đã cho Phan Xuân Sinh cảm hứng viết nên tác phẩm: Uống rượu cùng người lính phương Bắc hay đến nghẹn ngào. Trước đây mấy năm, khi viết chân dung nhà văn Trần Hoài Thư, đọc đến: Một Ngày Không Hành Quân, tôi cứ ngỡ đó là bài thơ độc nhất vô nhị của Văn học miền Nam. Và nó đã làm cho những giọt nước mắt của tôi rơi ngay trên bàn phím này: “Tôi rót mời một người lính Bắc/ Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật/ Trên người vẫn còn sót lại bài thơ/ Trên đồi cao mây vẫn xanh lơ/ Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng/ Tôi với hắn đâu có gì thống hận/ Bài thơ nào cũng viết để yêu em”. Nhưng tôi đã lầm. Do vậy, khi gặp bài Uống rượu cùng người lính phương Bắc của Phan Xuân Sinh, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Nó vẫn cho tôi cảm xúc nghẹn ngào ban đầu. Và tôi nghĩ, cũng như Trần Hoài Thư, khi Phan Xuân Sinh viết: Uống rượu cùng người lính phương Bắc, đã dứt bỏ hoàn toàn mọi áp lực xung quanh, chỉ còn lại trái tim đa cảm, bao dung đang rung lên của người nghệ sĩ. Và ngay từ năm 1972, Phan Xuân Sinh đã nhận ra, cuộc chiến này bạn và ta (những người lính hai phía) cùng nhân dân đều bại:“Ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu/ Chỉ có bạn, có ta là thua cuộc”. Dường như, với ý tưởng này Phan Xuân Sinh người lính phương Nam, để cho Nguyễn Duy người lính phương Bắc sau này viết ra những câu thơ: “Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh. Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”. Và cái tư tưởng nhân bản ấy của người thi sĩ đã xóa nhòa lằn ranh giới của chém giết, hận thù:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi

Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí…

Những thằng lính thời nay không mang thù hận

Bạn hay thù chẳng một lằn ranh

Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau

Nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu

Bày làm chi trò chơi xương máu

Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù

Ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu

Chỉ có bạn, có ta là thua cuộc…” (Uống rượu cùng người lính phương Bắc)

Không chỉ khi hưu chiến, mà ngay trên chiến trường đẫm máu, lòng nhân đạo, tính vị tha hiện lên đầy ăm ắp trang viết của người lính. Buổi dừng chân của nhà văn Lê Bá Lăng là một trong những bút ký điển hình như vậy. Chưa biết nhiều về Lê Bá Lăng, song đọc một số bút ký, truyện ngắn của ông, tôi thấy, cái nào cũng thấm đẫm tình người. Là một sĩ quan ngày cũng như đêm hành quân tác chiến, Lê Bá Lăng hiểu hơn ai hết nỗi đau của người lính ở cả hai phía. Do vậy, sự cảm thông với người lính như một nguyên tắc bất dịch trong ông:

Thì cái vụ thằng chả bữa hôm ở Lang Xá Bàu đó, ông đừng đưa vội lên Đại Bàng thì tụi tui giàu to biết mấy. Chỉ cần hai thùng nước lã là nó chỉ, nó khai hết…Tôi nói, thôi dẹp cha chuyện đó đi, khai thác tù binh là bổn phận của tiểu đoàn, đâu phải quyền tao. Tụi mày than phiền mãi, chán phèo…

-…Ông nhân đạo quá. Đ.M…Việt Cộng nó giết mình như ngóe mà bắt được thằng nào ông cũng cấm đánh đập…” (Buổi dừng chân- Lê Bá Lăng)

Dường như, Thái Luân (Nguyễn Hồng Phúc) bước vào chiến tranh bằng trái tim của người nghệ sĩ. Cho nên, không chỉ với người lính, sự bao dung, lòng nhân ái của ông đến với cả mọi tầng lớp người trong xã hội. Thi tập Vùng tủi nhục ra đời năm 1966 gây tiếng vang trên văn đàn, song mang nhiều phiền lụy đến cho Thái Luân. Đứng về phía những cô gái làm cái nghề được cho là đi ngược lại đạo đức của xã hội, trong lúc nước sôi, lửa bỏng như vậy, ngoài sự cảm thông, tôn trọng, ta còn thấy lòng can đảm của Thái Luân. Và Lời cám ơn bar, là một bài thơ được ông viết trong hoàn cảnh ấy. Nó đã phá vỡ tư tưởng cổ hủ, và bóc trần bộ mặt thật của con người, xã hội lúc đó. Có một điều đặc biệt, bài thơ có tính khẩu ngữ trần trụi này, nếu tách ra, nó chỉ là những câu nói thường nhật. Nhưng ghép lại, nhìn tổng thể, nó trở thành bài thơ rất mới, lạ ở thời điểm đó:

Xin cám ơn những cô gái bán bar nhỏ con

Đã gồng mình chịu đựng

Vì cuộc sống

Của các cô

Và của Việt Nam.

Thưa thầy giáo, thưa công chức:

Xin đừng vênh vênh cái mặt đạo đức

Chửi người ta

Con gái Huế bây giờ đi bán bar!” (Thái Luân- Lời cám ơn bar)

Tuy là một sĩ quan trực tiếp cầm súng ngoài mặt trận, nhưng cái tư tưởng chán ghét chiến tranh, khinh bỉ những kẻ gây ra cuộc chiến đầy ăm ắp trong thơ Thái Luân. Mượn sân khấu hề chèo, Thái luân chọc thẳng vào cái ung nhọt của xã hội. Thông qua bài thơ: Bi hài kịch với những hình ảnh ẩn dụ, Thái Luân cho ta thấy, một sự mỉa mai, châm biếm rất sâu cay về hiện thực cuộc sống:

Đạo diễn đưa tay lên,

Đạo diễn đưa tay xuống,

Bi hài kịch còn dài

Bi hài kịch chưa thôi.

Diễn viên và khán giả

Ai cũng buồn như ai!” 

Tuy nhiên, Bi hài kịch, hay Lời cám ơn bar chưa hẳn là những bài thơ hay của Thái Luân, khi nó nằm trong mạch của bài viết, mà tôi lấy làm dẫn chứng. Nhắc đến Thái Luân (Nguyễn Hồng Phúc) người đọc sau này biết nhiều hơn với những tác phẩm rất hay như: Nửa Hồn Xuân Lộc, Tháng Tư, lính không cần hớt tóc, hay Mặc kệ ai bỏ làng bỏ nước… dưới bút danh Nguyễn Phúc Sông Hương.  

Có thể nói, những nhà văn miền Nam (1954-1975) không chịu ảnh hưởng, chi phối bởi bất kể thế lực, đảng phái nào. Cái tôi, và tự do tư tưởng, sáng tạo của họ đã được coi trọng, phát triển. Với tư tưởng như vậy, nên nền Văn học miền Nam được hình thành bởi những giá trị hiện thực, và nhân đạo là điều hiển nhiên. Với tôi đó chính là một nền văn học đích thực.

Tuy nhiên, khi đi sâu vào đọc, nghiên cứu, ta có thể thấy miền Nam không phải không có một bộ phận văn thơ tuyên truyền, tâm lý chiến phục vụ cho chiến tranh. Thứ văn thơ tuyên truyền, tâm lý chiến thời vụ này, đã ngỏm củ tỏi ngay sau khi nó ra đời. Sách báo miền Nam vẫn còn kiểm duyệt, và đục bỏ những trang viết có thể gây quá bất lợi cho cuộc chiến, khi in ấn, xuất bản. Những lý do, việc làm này đã dẫn đến hạn chế và nhược điểm không nhỏ cho Văn học miền Nam ở giai đoạn này.

Leipzig ngày 15-11-2021

Đỗ Trường

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s