Lê Phùng Xuân Nguyễn khắc Tung – Ngôi nhà của Ngoại

                   nhà nam bộNgôi nhà của Ngoại, ở Châu Bình, lợp ngói âm dương, cũ kỹ, có từ hồi nào Xuân hổng biết nữa. Lớn lên, Xuân đã thấy ngôi nhà đã có ở đó với cái dạng hình bánh ít, giữa cái sân trước rộng rinh dùng để phơi dừa. Một dãy lu vú da bò chứa đầy nước mưa bên hàng hiên nhà. Xuân, các em và tụi bạn thường hay lủi vào kẹt lu chơi trốn bắt cút. Trước nhà là cái cầu đúc nhỏ bắc ngang con rạch. Qua cái cầu đúc, phải đi trên những tảng đá ong, vòng vo ngoằn ngoèo theo cái hàng rào quít tàu và trà được cắt xén cẩn thận cao khỏi đầu người, rồi mới vô tới căn nhà ăn và nhà bếp rộng rãi.

Sau nhà bếp là một dãy nhà lớn rộng để chứa và sấy dừa vào mùa mưa. Lúc nào bên hông dãy nhà nầy cũng có một hai đống dừa khô độ một hai thiên. (Một thiên là một ngàn. Ở  quê Xuân, người ta gọi một thiên dừa chớ hông ai gọi là một ngàn dừa). Và những ổ tèn hen đùn lên cùng khắp sân. Có bầy ngỗng dữ dằn, cổ dài ngoằn, luôn luôn lúc nào cũng rượt đuổi bọn Xuân.

Ông Ngoại của Xuân, Ông Ba Hạo, có đến bốn bà vợ. Ổng chết từ lúc não lúc nao, chắc lúc còn trẻ nên ông cố  Lê Phùng Xuân chia phần, cho người vợ trẻ nhứt, bà ngoại của Xuân ba mẫu vườn dừa, năm mẫu ruộng ở ngoài lộ ngang. Bà Ngọai, quê ở Giồng Trôm, đã một lần góa chồng, dốt đặc cán mai. Bà hay nói những thứ chữ hơi lạ như “tư niên”(quanh năm), hồi nẫm(hồi xưa), đi hược(đi học), vịt cồ (vịt trống), gà cồ, cua kình (cua lớn), sít rịt… Từ khi về với ông Ngoại, bà quán xuyến công việc nhà rất giỏi. Xuân lớn lên đã thấy một mình Ngọai tính nhẩm từ trăm cau, chục sa bô chê, chục mãng cầu xiêm… Đống dừa mấy thiên? Ngoại đều biết răng rắc bằng cách bẽ từng đọan cọng lá dừa.

Ông Cậu Năm Kình hổng làm gì được hết. Tối ngày ổng chỉ ho sù sụ vì chứng ho lao đã hành ổng từ khi ông Cố cho ổng lên Sài Gòn học. Ông Cậu mãi mê thức đêm thức hôm đọc ba cái Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Tự Lực Văn Đoàn. Ổng có rất nhiều sách- nhưng đặc biệt là hông có truyện Tàu- dấu trong các cái lu vú bò. Khi nào hô có Tây ruồng là Bà Ngoại phải lo tuồn ba cuốn sách đó vào những cái lu đã chôn sẳn sau vườn. Ổng lại còn có tật cà lăm nữa. Nói một tiếng, rặn gần hồi lâu mới ra khỏi miệng. 

Mới có  tám, chín tuổi nhưng Xuân cũng đọc được: Tôi là Mẹ, Chiếc Bóng Song The, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tố Tâm và cuốn mà Xuân mê nhứt là Đồng Tiền Vạn Lịch. Thằng nhỏ nầy hay lò dò đến gần mấy cái lu, đợi ổng lên cơn ho, lén lén rút đại một cuốn rồi bỏ chạy. Ông Cậu có ngó thấy, chưa nói được một tiếng là Xuân đã tuôn ra tới đầu bờ dừa, nằm gác chơn lên gốc bụi nhàu đọc ngấu nghiến trong buổi trưa hè đầy nắng loang lỗ.

Nắng trong vườn dừa  buổi trưa mát rượi. Hông có một ngọn gió. Vắng lặng. Thoảng có tiếng cu kêu xa xa và tiếng gà  cồ gáy. Thằng bé đọc đã, nằm ngủ thiu thiu. Nước lớn dần dần len vào các bờ mương. Cá nóc nói bắt đầu nhảy lên, nằm phơi mình trên mấy trái dừa điếc và mo nang đầy bùn sình. ( Cá nóc nói có hình dạng như cá thòi lòi nhưng nhỏ con hơn, chỉ bằng ngón tay giữa là cùng. Nóc nói ở trong mương vườn, hông thấy ra ở vùng nước sâu, háu ăn nên trẻ con thường bắt để làm mồi câu cua biển )

Nhà Ngoại còn có hai cây me to bên hông sân, ngập bông khi mùa gió chướng và đầy trái vào mùa quết bánh phồng mì, bánh phồng nếp. Bông me, đọt me non nấu canh chua cá chốt ăn với tép bạc kho nước cốt dừa. Có bụi chuối hột đầy trái chín. Đám con nít hông dám ăn, sợ ỉa hông ra. Bắp chuối và cây non nấu canh chua lươn con mẻ. Khi ra giêng, còn có hoa ô môi nở màu tím rịm, từng chùm phủ kín cây, đua sắc với bông vông nem đỏ choét ở ngõ vào nhà. Có chim trao trảo kêu ‘ trao trao’ nhảy nhót đầy trong lùm cây sa bô chê, lê ki ma, mãng cầu xiêm, vú sữa. Có chim chìa vôi hiền lành liệng qua lại trên cành ô môi. Có con chim khách đen thẩm, đuôi dài kêu như có khách đến nhà. Có bầy chim se sẻ và cu lửa, cu đất thỉnh thoảng sà xuống sân mổ những viên sạn nhỏ. Có những com chim sâu ô đen tuyền im lặng chuyền qua chuyền lại tìm sâu trong lùm cây buổi trưa hè nắng có sao…

Từng ấy ghi đậm trong trí óc non nớt của Xuân về vùng đất của Ngoại ở Châu Bình. Nhưng còn nữa, còn nhiều nữa mà Xuân hông nhớ hết. Có cái đáng nhớ hơn hết là Ngoại hông bao giờ quánh đòn, hông bao giờ trách mắng anh em Xuân. Cùng lắm là: “ Ông bà cố tổ mầy, thằng chó đẻ nầy, mầy phá lắm à nghen! ”, rồi Bà vừa cười vừa lấy tay xoa đầu Xuân.

Cái thằng mới có cở tuổi đó mà đã giúp Ngoại lượm dừa rụng từ sáng sớm, hái sa bô chê, hái cau… Hông hiểu sao Xuân khoái nhứt là cái vụ hái cau. Miệng nó ngậm con dao bầu nhỏ bén để bửa cau khi Ngoại ăn trầu. Bụng bó mo cau. Nó có bao giờ mặc áo đâu, ở trần trùng trục tối ngày. Hai chơn kẹp vào nài, Xuân leo thoăn thoắt, đến buồng cau, thử hai trái bìa rồi đến trái giữa. Một tiếng hô: Dầy rồi Ngoại ơi! là nó cứa hai cái rẹt rẹt hai bên mép. Buồng cau rời khỏi thân cây. Một tay giữ chặt buồng cau, một tay ôm thân cau, Xuân tuột một cái rột là xuống tới đất. Bỏ đó, nó đi đến những cây cau khác. Cau hiểm hay là cau lồng tôm, nó đều biết cách thử và hái được hết. Đôi khi nó hông biết tại sao có những buồng cau rất nặng, nó hông xách nổi ở dưới đất mà lại ôm trọn được buồng cau để tuột xuống. Hay là nó say mùi bông cau? À! À! À hén, nó biết rồi. Ôm thân cau tuột thật lẹ làm cho nó thấy tê tê đầu con cu. Hèn chi nó mê cái mửng đó!

Xuân ít khi nào thấy Ngoại bị bịnh, chỉ lâu lâu thấy bà nhai một vài viên thuốc tể uống với nước đậu nành rang. Trà của Ngoại là bông đực mãng cầu xiêm cắt nhỏ phơi khô, xong rang cho vàng ươm thơm lừng, đổ xuống nền đất nạp thủy thổ. Trà của Ngoại còn là đậu ma hái ngoài bờ dừa rang với đậu đỏ, đậu đen. Ngày nào cũng có ba bốn tô bự chảng nước trà loại nầy để Ngoại uống từ sáng đến chiều. Mấy hôm nào bị trúng mưa, bà sụt sùi. Bà lấy một viên thuốc tể hiệu Cữu Long Hoàn, nhai nhót nhét rồi uống một vài hớp nước hoặc hái mấy trái nhàu chín màu trăng trắng chấm với muối, ăn một cách ngon lành. Xuân hông chịu được mùi trái nhàu chín, nó khai ngấy, thum thủm như mùi nước đái con nít. Tụi Xuân thích nhứt là những ngày nắng hè gay gắt Ngoại vò cho một diệm lá sâm hái ngoài bờ dừa. Mỗi đứa ăn một tô với đường tán gọt nhỏ hay đường thùng. Có thế mà ngon, vì hổng có đường thì ăn với muối kia mà!

Ngoại tom góp đủ thứ để nuôi anh em Xuân. Ngoại bán cơm dừa sấy hay phơi khô có giá hơn dừa tươi. Từng lít nước màu nấu bằng nước dừa, từng trăm cau, từng trăm sa bô chê (khi Sa bô chê tới lứa, Ngoại kêu anh em Xuân hái xuống, phơi đầy sân một nắng, xong cho vô khạp da bò có lót lá chuối khô, đốt một bó nhang để vô giữa, đậy hùm lại độ ba ngày là sa bô chê trở mình ) và chục mãng cầu xiêm, từng bó lá dừa, từng nãi chuối tá quạ và từng ôm củi bẹ dừa, từng trái ô môi chín khô quăng lên nóc nhà .

Những thứ đó Ngoại chứa sẳn theo mùa, đợi ngày con nước rằm. Ghe bầu vào tới cầu ở rạch cái trước nhà. Ngoại đem đổi lấy gạo, nước mắm, muối, đường… Đôi khi đổi được một miếng thịt ba rọi, thịt đầu heo thì đem đi kho với dừa cứng cạy, với tép đổ nò. Cây mái dầm mọc đầy dẫy ven bờ rạch. Ngoại làm cách nào hông biết để thành món dưa chua. Xuân hông bao giờ quên được cái mùi thum thủm của món dưa chua mái dầm ăn dậm với nước mắm kho quẹt trong những ngày mưa dầm rả rích tháng bảy. Còn có cả thịt nhái, thịt cóc xào với lá nhàu hay lá cách. Và còn tô canh cải trời nữa chứ. Ờ hé!, những ngày tháng nầy có nấm mối mọc ngoài vườn. Ngoại đổ bánh xèo với nấm mối, tép chạy nò. Bánh xèo cái nào cái nấy vàng hực, ngầy ngậy mùi nước cốt dừa. Bọn Xuân ăn bánh xèo cuốn với lá đọt mọt trắng muột, lá cách, với ngò gai thơm mọc tràn sau vườn nhà.

Ra giêng, mùa nắng gắt. Nước sông mặn. Ban đêm lấy tay khỏa, nước lấp la lấp lánh như ma trơi. Bắt đầu có sam, rạm. Ngoại cho đấp đập mương vườn ngăn nước mặn tràn vô. Bọn Xuân tắm nước mặn. Mắt cay xè. Họng đắng nghét. Vậy mà cũng ráng dầm mình suốt buổi rồi chạy vào mương vườn múc nước xối ào ào. Có hôm Ngoại buồn tình. Bà bẽ cây lá cách làm roi, vừa cười, rượt bọn Xuân. Tụi bây phá nước ngọt của tao. Bọn trẻ, ở truồng dòng dỏng, tuôn chạy, rồi quay lại cười. Coi vậy, chớ nhằm con nước rong rằm và ba mươi, nước sông trở nên măn mẳn hay ngòn ngọt được một vài đêm.

Cái nò ở cái xẻo bên hông vườn nhà là nguồn cung cấp cá tép hằng ngày cho gia đình. Mỗi ngày có hai con nước lớn, nước ròng theo con trăng. Tép bạc, tép đất, bống dừa, bống cát… thì lúc nào cũng có. Còn cá kèo và những con rạm, con sam, con lươn, con lịch… chạy theo mùa, theo con nước. Cá chốt thì nhiều, nhưng dơ lắm, hay bám theo những dề cứt trôi lều bều lúc nước nhửng lớn ở ngoài rạch cái. Gặp con nước ươn, con nước kém, hoặc là những dịp rái giỗ ngoài rạch lớn thì hông có con gì. Đôi khi bọn anh em Xuân thèm quá, lén Ngoại đổ trộm để bắt tép, cua… nướng ăn. Còn con rạm, con sam, và con lươn, con lịch với con cua bọn nầy đi câu hay đi móc hang lúc nước ròng là những món ăn chơi của bọn Xuân. Hay là nghịch ngợm hơn, đào miết để bắt tèn hen nướng ăn chơi. Tư niên chỉ có mùi cá hông mà sao hổng thèm đến các thứ khác được?…

Gà chưa gáy sáng, Ngoại choàng mình thức dậy. Đâu phải tiếng chim sấm bay trong mùa nầy? Chim sấm bay nhiều đợt từ Nam ra Bắc vào mùa gió chướng mà? Tiếng gầm rú của tàu đổ bộ ngoài vàm sông Ba Lai? Chắc Tây ruồng rồi. Trong khi mọi người lo gom góp quần áo cuộn lại trong khăn, Ngoại đã nấu được nồi cơm nhão, dùng mo cau nhồi thành những cục cơm vắt, cuộn lá chuối rồi bỏ vào bao lác.

Trời chưa hửng sáng, đã có tiếng súng gần lộ ngoài. Ngoại lật đật hối Cậu Năm chui xuống lu đã chôn giữa bụi quít tàu sau nhà rồi dùng lá dừa phủ lên. Kỳ nầy Ngoại hông kịp dẫn bọn Xuân trốn vào rừng cây bình linh có nhiều bụi mây và lứt cao ngập đầu mà đẩy tụi nó chui vào đít bộ ván giữa nhà bếp. Xong Ngọai lấy vỏ dừa khô chất kín chung quanh… 

Hổng biết độ bao lâu. Đột nhiên có tiếng súng nổ ngoài sau vườn và nhiều tiếng la hét bằng giọng mình và giọng gì lạ quắc mà Xuân nghĩ chắc là Tây. Xuân có bao giờ thấy Tây đâu. Nghe mọi người nói là tụi nó ác dữ lắm, đi ruồng tới đâu là bắn giết, chặt đầu người, còn bắt đàn bà con gái hãm hiếp. Nó nghe nói mà ớn luôn. Họ lại còn nói Tây mặt gạch và Tây Sê nê ga le còn hung dữ hơn nữa. Xuân nghe lén chị Năm Hơn ở xóm ngoài bị bốn năm thằng Tây mặt gạch tụi nó hiếp tới chết luôn. Xuân nhớ có lần, Ba Má dẫn Xuân đi mít tinh chống Tây ở đình Bình Khương, miệt dưới Châu Bình. Xuân còn nhớ đêm đó, nó trông thấy nhiều cờ đỏ sao vàng của Việt Minh  quơ lên quơ xuống và tiếng hô đả đảo Tây vang trời.

Bất thình lình, có những tiếng xí xô xí xào quanh chỗ Xuân và tiếng lụp cụp quăng đồ vật lên mặt ván.Cả gia đình nằm im thin thít, chết điếng, hông dám cựa quậy. Mẹ nói nếu để Tây bắt được thì nó bắt đem về bên Bình Đại; nếu không thì nó bắn giết cho chết luôn. Sợ nhất là đứa em út. Rủi nó khóc lên thì sao? May mà nó sợ quá, nó nín khe.

Có những thứ gì liệng len keng trên bộ ván và giọng nói của đám người càng lớn càng nhiều.Cùng lúc có tiếng gà mái kêu quang quác và tiếng la hét hô bắt nó, bắt nó. Xuân nghĩ chắc bọn lính tìm ra nơi gà mái đang ấp và đã hốt trọn ổ trứng gà rồi.

– Mầy hỏi quan lớn có đốt nhà nầy hông mậy?

– Hông. Ổng thấy nhà nầy có  tượng Đức Mẹ ẳm chúa DêSu, có ông Thánh GIuSe, lại còn có khung hình thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nữa nên ổng hông cho đốt.

Ông Hương Cả Lê Phùng Xuân-người thường gọi ông Cả Non- đã đến lập nghiệp ở vùng đất hoang vu Châu Bình từ lâu đời. Gia đình thờ cúng ông bà. Khi gặp một linh mục ở Đà Lạt đã trị cho ông hết bệnh ban cua dai dẳng, ông tin lời Chúa và theo đạo Thiên Chúa. Theo lời bà Ngoại kể lại, ông có rất nhiều sách viết chữ Nho, ông biết kê đơn bốc thuốc và giỏi võ. Đến đời ông Ngoại- Lê văn Hạo- con cái đều được đi học. Má Xuân học ở Giồng Trôm, còn Cậu Năm Kình “hược” ở Sài Gòn. Gia đình rất sùng đạo. Chủ nhật nào cũng phải thức dậy từ khuya để đi lễ tận nhà thờ Giồng Khương, sát bên Lương Quới. Vùng Ba Châu có nhiều người theo đạo, nhưng chỉ có một nhà thờ đó mà thôi.

Ông Cố cho lập bàn thờ Đức Mẹ ở gian giữa nhà. Gian nầy có bộ tràng kỷ đen, cẩn xà cừ. Một bên là bộ ván gỗ mun và bên kia là bộ bàn ghế dùng để ngồi uống nước trà. Phần sau là buồng ngủ, có cái “giường xe” to lớn, đựng đầy tô chén kiểu dùng vào dịp giỗ quãy. Phần sau nhà nầy là phần Xuân sợ nhất vì bao giờ cũng tối mò và đầy muỗi.

Nằm im lìm nín thở dưới đít bộ ván, Xuân nhớ lại Ngoại đã kể với nó về Ông Tán Kế (Lê tấn Kế) bị Tây chém đầu ở Châu Thới(?), về Một On (Le Roy) phục kích đánh tan tác bộ đội của Chín Tá, Việt Minh, ở gần cầu sắt Châu Bình năm 1947(?), gần lộ giữa. Bà nói ông Ngoại kể chết nhiều lắm, chôn xác một ngày không hết .Xuân sợ quá, lỡ Tây mà nó bắt được là nó bắn chết. Xuân mắc đái gần chết mà không dám đái ra quần.

Cảnh vật chung quanh im ắng đã từ lâu. Cả nhà vẫn còn nằm nín thinh. Đột nhiên có tiếng gáy của con gà cồ gần bên bộ ván. Bà Ngoại và Má biết đám lính đã rút đi hết rồi nên tốc vỏ dừa hai bên. Tụi Xuân lật đật chui ra. Trên mặt bộ ván bày la liệt  những lon dẹp và tròn mà bọn này không biết là thứ gì. Mỗi đứa cầm lên một thứ, bắt đầu hửi. Có mùi thịt. Tụi nó liếm một cách ngon lành. Nhưng có liếm mút được một cách trọn vẹn đâu vì tiếng hét của Bà Ngoại và Má.

– Quăng đi. Mau. Có thuốc độc trong đó. Chết hết bây giờ!

Tư niên chỉ có mùi cá hông mà sao hổng thèm đến các thứ khác được? Cả bọn ngẩn ngơ. Xuân xách chét, kéo tụi em ra bờ dừa xiêm. Xuân trèo lên vặn một vài trái cho rớt rồi tuột xuống, vạt soèn soẹt ở đít dừa, chia nhau uống ừng ực. Mùi cá mòi và mùi thịt hộp vẫn còn dây dưa quanh miệng…    

                                 Florida ngày 21-6-2022

                       Lê Phùng Xuân Nguyễn khắc Tung

(Trích trong truyện :Trăng Suông của Lê Phùng Xuân)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s