Lê quang Thông – THỜI NGỒI GIỮA CHỢ

chotroi3_lfrm

Tôi lao vào một chuyến vượt biển mới, sau một thời gian hoàn hồn, bình tĩnh trở lại, từ đêm chạy trối chết ở Bến Tu. Nhờ rừng dương cao quá đầu người, dài theo bờ biển Quảng Ngạn. Nhờ sợ quá hoá mạnh, nên đạn rít, đèn pin quét, tiếng quát đứng lại đe dọa…mặc kệ, tôi thoát trong đường tơ kẻ tóc. Cứ nghĩ tới câu “Cái đầu Vĩnh Tu, cái khu Chợ Đò” mà dân Huế hay nói, mới thấy tượng hình chuyện đi trên cát, huống chi là chạy. Dân địa phương chắc vóc dáng phải sexy lắm ? Bây giờ cái đầu ra xa hơn Vĩnh Tu về hướng Bắc : Thanh Hương, và cái khu, ngày mai mới ngồi xe đi Ưu điềm, rồi ngồi đò qua phá Tam Giang.

Đêm trước đó, tôi nói chuyện với ba tôi, người duy nhất tôi cho biết chuyến đi. Ông đem cuốn Kiều ra và nói tôi bói một quẻ xem sao. Bói Kiều là một nghi lễ trong nhà, không những khi Tết đến Xuân về, mà bất cứ lúc nào, khi hoang mang trước một quyết định. Đêm đó tôi lật Kim Vân Kiều truyện, chỉ bốn câu sau :
… Phận sao đành vậy cũng vầy
Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh
Cũng đừng tính quẩn lo quanh
Tan nhà là một thiệt mình là hai…
Ba tôi đọc xong, không nói thêm gì, đứng dậy thắp hương trên bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên, rồi trở lại ngồi bất động. Hồi lâu, ông nắm hai tay tôi nói nhỏ :
-cứ như bốn câu Kiều đã nói, chuyện này được mách bảo không thành, con đừng liều lĩnh nữa.

Ba tôi không nói ai mách bảo. Cụ Tiên Điền hay Cô Kiều ? Xin cám ơn Cụ và Cô. Con cũng biết cuộc đời mình bây giờ đã “như chẳng đậu những ngày còn xanh” nhưng con không chấp nhận chuyện “phận sao đành vậy”. Vì thế mà dấn mình “tính quẩn lo quanh”. Lần này mọi chuyện sắp xếp đã đâu vào đó. Kế hoạch thông suốt. Vừa thất bại chuyến gần đây, vì gặp chuyện mù mờ, bây giờ đầu não là một người khả tín, đâu sợ bị lừa đảo.

Tôi được hẹn năm giờ chiều có mặt ở chợ Ưu điềm. Từ đó sẽ có ghe ra phá Tam Giang qua Thanh Hương, và tối sẽ ra khơi. Ăn trưa xong, tôi lên xe đò Huế đi Ưu điềm. Xe ra quá Phò Trạch thì bị bể bánh sau, phải dừng lại thay. Các xe chạy sau vượt qua, đã nghe bạn hàng nhắn nhau ơi ới. Một xe dừng hẳn lại, vì xe bể bánh phải gởi một gói thư từ, công văn gì đó, cho kịp phân phối. Nhờ vậy tôi thấy được khuôn mặt chú tổ chức chuyến đi, lo lắng và tái hẳn khi thấy tôi còn kẹt ở đây. Tôi ra dấu thay bánh gần xong, trước khi xe chú vụt đi. Hồi lâu từ phía Bắc chạy vô một đoàn xe thồ, lo chở bạn hàng cá ra chợ trước, sợ cá ươn. Họ nói với nhau không gấp gáp, chưa buôn bán gì được vì đang náo loạn ngoài chợ : một đám từ Huế ra, kéo xuống ghe đi Thanh Hương. Công an chận hỏi, một thanh niên vụt chạy bị công an rượt theo bắt được và trói hết cả đám dẫn vô trụ sở xã…Rồi có mấy chuyến xe mới ra, chuyến nào cũng thêm vài mống bị bắt.

Không nấn ná, tôi lén băng qua quốc lộ 1, đi vô phía ga Phò Trạch. Ít lâu sau, tôi nhảy lên tàu chợ từ Quảng Trị đi Huế và xuống ở cầu An Hoà lúc nhá nhem tối. Từ đó đi thẳng lên nhà O tôi, gần chùa Kim Long, ở lại mấy hôm đợi mua vé tàu và xuôi nam luôn. Sợ loanh quanh ở Huế trước sau cũng bị bắt, tôi gởi gắm vợ đang có bầu 5 tháng và đứa con gái 3 tuổi nhờ ông bà nội bảo bọc.

Vào tới Sài Gòn, mới thấy lo. Cuộc phiêu lưu bắt đầu với số không. Đêm đầu tiên kéo về nhà một anh bạn lai rai. Hai ông bạn Kỹ sư còn đi làm cho nhà nước, đang cùng nhau đóng hai cái hộp gổ đựng thuốc điếu, sẽ bán về đêm trước nhà thờ Đức Bà, kiếm tiền chợ. Chân ướt chân ráo mới ngày đầu tới Sài Gòn, thấy cảnh đó tôi cảm nhận khó sống. Nhưng hít một hơi dài, nói như Papillon đêm đầu tiên trong ngục Conciergerie : mình năm nay chưa đến 30 tuổi, sức khỏe không có vấn đề, mình phải sống. Cứ từ từ đừng rối trí. Rồi đường đi sẽ ló ra, lo chi.

Đúng là lạc quan tếu để yên tâm, nhưng có thể điều đó làm chính mình phấn chấn, và nhiều bất ngờ theo tới chỉ trong tuần đầu tiên ở Sài Gòn. Một người anh của bạn thân, kêu ở chung trong căn phòng thuê sau lưng Đại học Vạn Hạnh. Rồi một người biết nhau từ Paris nhân gặp tình cờ trong sinh nhật con người bạn, kéo về ở, nhà cạnh trường đua Phú Thọ. Chưa hết, một người bạn rũ đi ghe về miền Tây buôn khóm, mía… từ miệt dưới lên Sài Gòn.

Chưa chọn lựa lối nào, thì một đêm bị kiểm tra hộ khẩu dưới Phú Thọ. Cũng may, từ cổng vào đến nhà còn một sân dài khoảng 10m. Khi thức dậy vì tiếng đập cổng rầm rầm, tôi kịp leo lên cây mít sau nhà trong lúc người bạn ra mở cổng. Thoát. Chỉ bị ổ kiến lửa trong bộng cây mít cắn đầy người, sốt li bì mấy hôm. Rồi vài ba hôm sau, bị soát nhà lúc nửa đêm khi đang đánh cờ với anh bạn trong cư xá đường Hàm Nghi quận 1 của hảng đóng tàu nhà nước, nơi đứa cháu anh ta, đang được lưu dung làm kỹ sư. Sự thể không trầm trọng. Công an để ngủ qua đêm, chỉ thâu hết giấy tờ, và hẹn sáng mai đến đồn ở công viên Quách thị Trang, chợ Bến Thành làm việc. Anh bạn định bỏ không đến, vì giấy tờ là đồ giả. Tôi nói với anh ta, giấy tờ mình giả nhưng thằng cháu kêu anh bằng chú ruột là thiệt. Mình không thể liều như vậy, liên lụy đến nó. Tôi sẽ vô bót trước, nếu ra lại được, anh hãy vô. Nếu tôi không ra, phải tính chuyện tốn tiền.

Không ngờ, chỉ tốn một gói thuốc Samit, nửa lít nước bọt thanh minh thanh nga chuyện ở lại đêm không khai báo, và thành khẩn ngồi nghe dạy về quy định cư trú, tạm trú. Nhận lại giấy tờ, tôi ra khỏi đồn công an nhẹ nhõm, không nghĩ đơn giản như vậy. Chắc nhờ mặt mũi có cảm tình, ăn nói biết điều, và biết điều hơn là gói Samit, rất có giá lúc đó. Hai đợt bị bố ráp trong một tuần, tuy qua được, nhưng đe dọa thường trực. Buổi sáng cà phê với bạn bè quên đi, nhưng chiều lại lo âu không biết tối nay ngủ đâu. Bạn bè, bà con hầu như đều đã thăm viếng, niềm nở lạt dần không giống ngày mới từ Huế vô. Thời buổi ai cũng sợ liên lụy, nên trước sau tôi cũng phải tìm ra một lối hợp thời để sống.

Tuần kế tiếp tôi nhảy xuống ghe, đi cùng người bạn lần đầu tiên đường thủy từ sông Sài Gòn về kinh Chợ Gạo, ra vàm Kỳ Hôn, vô sông Tiền. Rồi ghé Vĩnh Long, qua sông Hậu về Cần Thơ…Chuyến đi này mở mắt cho tôi biết sông nước miền Nam, biết tình người Nam kỳ Lục tỉnh, như một khám phá quê hương trù phú, bao dung. Quan trọng hơn là biết một lối sống, mà tôi theo đuổi một thời gian dài sau này, khả dĩ nuôi được thân qua ngày, và nuôi được ý nguyện tìm cơ hội thoát khỏi Việt Nam. Người bạn mua một chiếc ghe Cần Đước, cùng với đứa em lên về Sài Gòn – Bạc Liêu đã được vài chuyến. Tuy ở Huế không chơi thân với nhau, nhưng vô Sài Gòn gặp nhau, vài buổi cà phê, bia hơi…chuyện trò rồi trở nên thân thiết.

Tâm đắc nhất là cùng chung ý hướng : lên về Cà Mau buôn bán cho quen đường, và chuyến cuối hai đứa bốc vợ con lên ghe, trực chỉ Thái Lan. Tất cả đang còn nằm trong mơ mộng, chưa có một kế hoạch cụ thể, một trù tính thời gian hợp lý…nhưng đem tới nhiều hứng khởi, nhất là đi trên sông nước học nhiều điều lạ, và cuộc sống lênh đênh thú vị không thể tưởng tượng. Một chuyến đi mở đầu cho một lối sống buôn bán trên sông về sau. Tuy không phải từ đó mà vượt biển thành công nhưng ít ra đã trãi qua một thời gian không lo âu về chuyện sinh sống, hộ khẩu…Tôi rất biết ơn người bạn đó. Anh ta sau qua Úc, dĩ nhiên không bằng chiếc ghe Cần Đước hồi đi buôn. Coi bộ không mặn nồng lắm khi nhắc chuyện cũ, có lẽ ngại vì thường về bên nhà, nên liên lạc qua email đâu chỉ một lần…và bặt tăm. Sau này khi rời sông nước lên bờ, lúc ngà ngà với bạn bè, tôi thường mơ màng chìm đắm trong tiếng đàn, câu ca vọng cổ những chiều trên sông Gành Hào, hay một bến bờ nào đó dọc sông Trèm Trẹm.

Lên bờ vì đã ước hẹn, vợ tôi sẽ đem các con từ Huế vô Sài Gòn trước Tết Nguyên đán. Ban đầu tá túc nhà anh chị con ông bác của nhà tôi. Dần dà quen mặt ở hẻm Tân Đức, đường Trương minh Giảng, chúng tôi được hàng xóm đối diện nhà anh chị kêu cho mướn căn lầu có bao lơn rộng rãi, lối đi riêng. Thời giá lúc đó là ba tháng gần một chỉ vàng.

Việc đoàn tụ vợ chồng con cái ở Sài Gòn bắt đầu rất liều lĩnh. Tôi quyết định cứ đem vợ con vào, rồi tính, biết đâu may mắn đến. Mà thiệt, trước hết tôi được nhận vào Trung tâm Dịch thuật, đóng ở Toà Đại sứ Nhật bản trước 1975, trực thuộc Thành ủy Thành phố HCM. Trung tâm cấp giấy xác nhận thành viên, và yêu cầu các Quận, Phường địa phương giúp đở việc tạm trú. Giấy rất có giá trị nhờ hàng chữ “Trực thuộc Thành Ủy…”.
Sau này mới biết đó là sáng kiến của ông Kiệt, nhằm cứu vãn tình thế những năm 80, quá nhiều người bỏ việc vượt biên, vượt biển, hay từ các nơi về Sài Gòn. Mở vòng tay đón nhận vẫn còn kiểm soát được hơn là thả lõng. Được nhận vào Trung Tâm Dịch Thuật là một may mắn đến rất tình cờ.

Trong vòng bạn bè quen biết, chúng tôi trao đổi những tin tức nghe ngóng. Nộp đơn ở Hội Trí Thức yêu nước, vì nghe nói có sắp xếp giờ dạy Toán, nếu thành Hội viên thì còn mua được nhu yếu phẩm gạo, nước mắm, cá linh v.vv
Có lần, cả tháng dài lo chuẩn bị hồ sơ nộp đi Côte d‘Ivoire . Nghe nói có sự trao đổi giữa chính phủ hai nước. Côte d‘Ivoire nhận Bác sĩ, Kỹ Sư, Giáo Sư …từ Việt Nam vào xứ Ngà Voi và trao cho Việt Nam một máy Nông nghiệp đổi lấy một người. Toàn là nghe nói, chẳng ai thấy thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, mà thiên hạ vẫn bu kín từ ngoài vào trong sân một Villa ở đường Yên đỗ. Mỗi người một bì hồ sơ, nộp cho một người ngồi thâu nhận, không biết của cơ quan nào. Ôi giấc mơ được đổi đời mình bằng một cái máy cày. Đầu tư mà không tốn kém bao nhiêu, ngoài tiền copy giấy tờ, chụp ảnh và một khoản lệ phí liên lạc với bên Côte d’Ivoire. Nhưng phải sắp hàng vài ngày, vì quá đông, không thể giải quyết hết trong một buổi.

Chỉ ở Trung Tâm Dịch Thuật là cụ thể nhất. Tôi được nhận hồ sơ và hẹn trở lại sau một tuần gặp đồng chí Thường vụ Trung Tâm. Một cô làm Thường vụ cho biết tôi được nhận, được cấp giấy chứng nhận thành viên Tổ Pháp văn, ngành Khoa học Kỹ thuật. Cô vui vẻ cho biết mình gốc Sịa, Huế và hỏi tôi vài câu về thời gian tu nghiệp Giáo Dục Toán học ở Pháp. Có thể nhờ chuyện tu nghiệp này và chút tình đồng hương mà tôi gặp may chăng ? Sau đó qua phòng Tổ để sinh hoạt. Nhìn quanh ít người quen. Tôi có cảm tưởng đa số là dân tay ngang về sinh ngữ. Đọc,nói không biết tới đâu…nói chi đến dịch. Nhưng kệ, ai sao mình vậy. Một bản dịch cỡ DIN A4 được tính ra bằng giá một tô phở Pasteur vào lúc đó. Chừng vài tuần sinh hoạt, chúng tôi nhờ bác Bút, một bác trên trung niên, đầy nội lực tiếng Pháp, ăn phở giúp anh em. Chúng tôi chỉ tham gia họp tổ, và tự do chạy gạo, bác Bút bao sân một mình thoải mái.

Thứ nữa, tôi liên lạc được với Émile, người cha nuôi ở Paris, và Émile bắt đầu gởi cho những thùng thuốc Tây rất có giá. Pharmacie DAO, ở đường Gay-Lussac, quận 5, Paris, có một sáng kiến thương mãi hay, làm người ở Pháp giúp thân nhân ở Việt Nam dễ dàng. Émile chỉ cần điện thoại tới Pharmacie DAO đặt gởi về địa chỉ và tên người nhận, thùng thuốc A, B, C…tương ứng với giá 200, 300, hay 500 Franc…rồi chuyển tiền cho Pharmacie DAO. Khoảng mười ngày sau ở Sài Gòn tôi nhận giấy báo. Gia đình tạm ổn, an cư và không lo vợ con đói, tôi bắt đầu ra chợ Tân Định buôn bán thuốc Tây với hai anh học trước một hai lớp, cùng từ Huế.

Buôn bán theo lối góp vốn, thu thuốc từ các thùng hàng ngoại quốc gởi về, rồi bán ở chợ Tân Định. Sinh hoạt hằng ngày giữa chợ rất vui. Nhìn quanh từ đầu đường Nguyễn hữu Cầu phía Hai bà Trưng đến phía cuối Nguyễn phi Khanh toàn là dân Huế. Dân bỏ Huế, dân đi tù Cải tạo về sớm, dân Huế ngụ cư Sài Gòn từ trước 1975…Bên trái là mấy anh đã lớn, lịch sự, ân cần với em út, có anh Liên Bình, dòng dõi Đức Kỳ ngoại Hầu Cường Để, với nụ cười hiền hoà mà mấy mươi năm qua tôi còn nhớ. Bên phải là sạp của anh Lê khắc Cầm, người dịch “The martyred“ của Richard E. Kim, một văn sĩ Mỹ gốc Đại Hàn, ra “Chúa đã khước từ”, một thời sách được nhiều người đón nhận.

Chúng tôi biết rất rõ nhau, nhưng ra giữa chợ không ai nhắc chi đến quá khứ và vui đùa với nhau suốt ngày. Ai cũng biết đây là nơi nương náu tạm thời, tựa nhau mà sống hơn là phân định rành rỏi tôi thế này, anh thế kia. Và phân định để làm gì nữa, khi mà có người trước 75 đã nằm vùng, sau 75 đã làm lớn, rồi bỏ Huế vào đây ra giữa chợ, có gì khác gì kẻ mới về sau gần 5 năm cải tạo. Cũng cò kè thêm vài đồng một hộp thuốc, cũng thấp thỏm láo liên trước những buổi lùng soát của Công An chợ. Chúng tôi có chung một tương lai bấp bênh, không biết sẽ ra sao, cứ được ngày nào hay ngày nấy. Những lo lắng dấu dưới những tiếng cười thật sảng khoái, nhưng kỳ thực không dấu được kẻ đồng cảnh ngộ trong những chiều Sài Gòn đột nhiên đổ mưa, ngồi thu mình một góc trên sạp hàng, nhìn bong bóng nước, chảy bên mép đường, buồn như cuộc đời mình.

Rồi trời lại nắng, lại tươi sáng. Không khí ủ ê qua đi. Cô Mỳ Quảng biết chính xác lúc này là lúc đưa tới sạp hàng các tô mỳ sợi vàng, bắt mắt. Với nụ cười thân thiện, gương mặt duyên dáng, các tô mỳ được đón nhận nồng nhiệt như cô. Giọng hát anh nào đó nhại Lê Uyên Phương “ Qua đi qua đi những cơn mưa, mỳ với người đều ưa…” Buổi sáng có phở gà Tân Định nổi tiếng. Buổi trưa cơm tấm, cơm sườn, rồi ăn chơi, ăn dặm, có mì Quảng, chè, Sâm bổ lượng…rồi nhiều món khác bưng tới tự động như thói quen, và cũng không ai nỡ từ chối vì hấp dẫn quá. Sau vài tháng ra giữa chợ, buôn bán có vẽ thành công, dù gọi góp vốn nhiều lần và hàng ngậm chất đống ngày càng nhiều. Riêng chúng tôi cũng thành công, ít ra là trở thành những tay ăn hàng chuyên nghiệp.

Giữa chợ có nhiều mánh khoé buôn bán, lừa lọc mà ai cũng vấp vài lần. Như chuyện mua bán hàng ngậm. Ví dụ một người ở chợ khác có quá nhiều hộp Campolon Vitamin B12 cần phải bán. Họ sẽ cho người đi tìm mua dọc theo các sạp. Giá thị trường khoảng 100 đồng, họ sẽ mua vài hộp với giá 105. Chuyện diễn ra khoảng vài hôm, và ngưng lại đôi ba bửa. Sau đó có người đi bán Campolon. Ngoài chợ mua 100 và cò kè nhiều lúc 102, 105 vì trước đây đã bán được giá đó. Và nội trong một tuần hàng nào ít nhất cũng mua vào vài chục hộp. Bọn bán thuốc ngậm thành công, chuyển vai quản lý một lượng thuốc ngậm qua 3 dãy sạp từ đầu Hai bà Trưng vào đến cuối chợ. Ngậm cho đến một ngày nghe ai hỏi cũng mừng, xuống đến 75, 80 đồng cũng bán vì kẹt tiền thu mua thuốc mới. Chuyện này xãy ra thường, phải ngồi lâu giữa chợ mới dè dặt khôn ra.

Một lần có người kêu mua một số lượng lớn thuốc chích vitamin B12, bao bì đàng hoàng do bộ Y tế VNCH sản xuất, có câu ghi trên ampule “chỉ dành cho súc vật” khiến cả lô đến hàng ngàn ống, chẳng ai thèm để mắt. Một anh quen, ôm hết, và bắt đầu cạo hàng chữ đó… bán cho con buôn miền Tây. Anh phân bua, tao phải kiếm tiền nuôi 5 đứa con, mà có hỏi mấy ông Bác sĩ rồi, không có gì nguy hiểm. Bằng lưỡi lam, cả nhà thi nhau cạo…và trong vòng một tuần đẩy hết về dưới miền Tây, kiếm được khá bộn tiền. Sau đó bạn hàng hay hỏi, để đóng lên Nam vang. Thời buổi kiếm đồng tiền khó khăn, nên gặp cơ hội là nhắm mắt làm liều. Lương tâm có mọc răng, cắn chút đỉnh, rồi cũng nằm yên với cách lý giải tự cho là hợp tình, hợp lý. Với túi tiền đầy, coi bộ chuyện gì cũng hợp lý.

Ở giữa chợ Tân Định, có những tình huống éo le, bây giờ nhớ lại buồn cười. Có lần chúng tôi sở hữu một loại thuốc thu mua đâu đó với giá rất rẽ. Đưa toa thuốc bằng tiếng Anh hỏi mấy ông bạn bác sĩ, mới biết đây là một loại bột chữa bệnh Mồng gà, một bệnh da liễu ở đàn ông : con chim bị sưng lên ở đầu mào có hình thù như mồng một con gà trống. Cách chửa trị cũng đơn giản. Làm sạch phần sưng như cái mồng con gà đi, sau đó bôi thuốc này lên vết thương. Một thời gian vết thương sẽ khô, gở lớp vảy đóng trên thằng nhỏ, và súng ống hoạt động như cũ. Thuốc dùng trong quân đội Mỹ, cách hướng dẫn ngắn gọn, ngay cả tên thuốc chỉ gồm hai ba chữ viết tắt và một dãy số, đến bây giờ không thể nhớ lại chính xác. Chỉ nhớ bán rất được, một đồn năm, năm đồn mười, có lúc tuần nào cũng có người tìm.

Một buổi sáng, tôi ngồi một mình trên sạp hàng. Mấy anh kia uống cà phê ngoài đường Trần Quang Khải. Một tay Công An mặc áo vàng, lon lá hẳn hoi, gương mặt hình sự, giọng Quảng Bình, hỏi đích danh tên tôi, với chi tiết người Huế. Tôi nhanh miệng trả lời đó là ông anh tôi, đang uống cà phê sáng. Anh ngồi đây trông hàng cho tôi một chút, tôi đi kêu về. Rồi tôi biến ngay, sau khi tạt qua quán cà phê báo cho hai anh kia. Đến gần trưa tôi mới ghé lại chợ. Té ra một đồng chí công an bị hư súng, đi tìm thuốc trị bệnh mồng gà, hỏi dò la mấy cậu bán thuốc phía đầu chợ, được chỉ xuống sạp hàng chúng tôi.

Từ đầu tới cuối chợ tập trung biết bao người lỡ thời, tụ họp buôn bán qua ngày, và chờ cơ hội ra đi. Có độ, ngày nào cũng có sạp bỏ trống. Chủ nhân chắc chắn đã dọt. Hai bên phải trái tự động lấn qua, chia đôi, làm như không có gì xảy ra. Mươi ngày nữa tháng có khi người vắng mặt trở về từ chuyến đi thất bại, hoặc có khi cả năm vì chuyện dọt không thành, đương sự ở tù đâu đó, hết hạn lại ra chợ. Trong các năm đầu thập niên 80, tình trạng đó xảy ra hàng ngày.

Lâu lâu chợ lại xôn xao một chút vì ca sĩ Duy Trác mới đi qua, hay cô Hà Thanh ghé đầu chợ. Một dịp tụ tập nhắc lại mấy giọng ca tuyệt vời đó qua những ca khúc để đời. Duy Trác hát Áo lụa Hà Đông không làm dáng mà “thương màu áo ấy vô cùng” nghe tình quá chừng. Còn Hà Thanh, người đẹp xứ Huế, nội cái tên Trần thị Lục Hà, đã xao xuyến bao tấm lòng ngưỡng mộ.

Bạn bè ghé suốt ngày, uống cà phê với nhau ngay trên sạp hay kéo đi nhậu. Lúc đó đi nhậu thường là uống bia hơi. Nhiều chổ chiều về rất đông đúc náo nhiệt, như khu chợ Đũi ở góc Võ văn Tần, Trần quý Cáp, bò bảy món Duyên Mai. Dân thích rượu thì kéo nhau qua quán Bìm Bịp, đâu đó bên Phú Nhuận, uống rượu ngâm chim Bìm Bịp, hay Rivalet, một loại Cognac Chợ Lớn. Mồi nhậu rất phong phú. Có món Ngọc Kê, không biết lấy đâu ra mà dái gà nhiều thế. Chiều nào cũng nhậu, và thường về nhà trong tư thế nghiêng ngửa, lè nhè lảm nhảm trên xích lô.

Lúc này đám bạn bè thân thiết cùng bỏ Huế chạy vô đây lại ít gặp nhau. Có bạn yên ổn nhờ có bên vợ đã từ lâu ở Sài Gòn. Có bạn xấc bấc xang bang. Tôi nhớ lần ghé sau cùng thăm vợ chồng đứa bạn thân nhất, phải loanh quanh trong một khu đầy mộ, leo lên trụt xuống, cứ sợ té bể túi hột vịt lộn mua làm quà. Chúng tôi chưa có một lần bàn tính với nhau một con đường thoát hiểm, dù dư biết khả năng từng đứa. Đối xử với nhau bí hiểm, có vẽ phân nhóm quan hệ. Tôi thường bị coi là nói do rượu mỗi khi có dịp gặp nhau qua ly bia hơi. Tôi chỉ biết tiếc khi nghĩ đến một nhóm bạn, ngày xưa rất tương đắc nhau qua những chuyện lấp biển vá trời.

Lần sau cùng vui vẽ đầy đủ bạn bè là đầu năm 82 : đêm tiệc tiễn gia đình Robert đi Tây theo diện con lai, ở Arc en ciel, Chợ Lớn. Robert hay thường gọi là Be, là một đứa bạn bè đều thương. Tây lai, đẹp trai và nỗi tiếng ở Đại học Huế qua bản Tân cổ Võ Đông Sơ Bạch thu Hà trong đêm Văn nghệ Tết 1970 ở Giảng đường C Đại học Khoa học Huế. Be làm hồ sơ đi Pháp rất nhanh từ một giấy rửa tội ở nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng. Chúng tôi uống với nhau đến say mèm, và tôi lớn tiếng hẹn gặp Be ở Paris vào tháng 10 tới. Bạn bè lại chế diễu rượu nói chứ không phải tôi nói. Lúc đó ra khỏi Việt Nam như thoát khỏi địa ngục. Tôi hay rượu hay tôi nhờ rượu nói giấc mơ đó ra thôi.

Đến tháng Giêng, tôi được tin nhắn về Rạch Sỏi để ra khơi. Về đến nơi, mới hay công việc mua bán bãi không êm xuôi, một số người ở địa phương bị bắt, phải chờ cô Sáu, người tổ chức, thương lượng chuộc ra. Luẩn quẩn Rạch Sỏi, Tà Niên, Lộ Tẻ Long Xuyên sáu ngày, khi cô Sáu cho biết phải hoãn chuyến đi ít ra vài tháng, tôi trở lại chợ Tân Định sau một tuần vắng bóng.

Lại mua bán, lại ăn hàng giữa chợ, lại chiều chiều có bạn ghé đón đi nhậu. Chiều nào cũng say, vì thấy tuyệt vọng trước chuyện đi xa. Lần ở Rạch Sỏi hôm tháng Giêng, tôi có nghe chuyện đi canh me trên sông Cái Lớn. Hầu như đêm nào cũng có ghe vượt biển. Sắm một chiếc ghe nhỏ, đi câu hay buôn bán ve chai, miễn sao sống qua ngày, nghe ngóng và chờ cơ hội. Nhất định phải thu xếp về sông Cái Lớn trước các tháng trời êm, biển lặng.

Sau tháng Giêng tôi quyết định chia tay với nhóm buôn bán chung, giải quyết phần thuốc còn riêng của mình và chỉ thu mua vài nơi quen biết, nhận quà đều từ nước ngoài. Tôi vẫn ra chợ, hàng gởi trong nhà ngay sau sạp hàng, buôn bán bằng một danh sách các loại thuốc hiện có. Có ngày, chạy cho đầy toa của các bạn hàng ở các chợ Rạch Giá, Cần Thơ…ngày mai họ ghé lấy. Tôi tính trong vòng một tháng, giải quyết cho xong việc buôn bán ở chợ.

Tháng Tư cô Sáu lại nhắn về gấp. Tôi thử thời vận một lần cuối. Nếu như còn trục trặc, tôi nhất định sống lênh đênh trên sông Cái Lớn. Hai hôm trước ngày đi Rạch Giá, tôi ra chợ thăm một vòng, rồi lên đầu chợ tìm ông già Tàu. Ổng nhắc hai câu thơ tôi ngẫu hứng, những chiều ngồi uống pặc xỉu, đọc cho ông nghe, coi chữ nghĩa ổn chưa :
Hữu thì mai ẩn tại trung thị
Cảm khái hùng tâm tiếu ngạo sầu
Ông cười, nửa đùa nửa tra mánh :
-Nị hết “mai ẩn tại trung thị” dồi phải hông ? Nhìn nị vui, ngộ piết liền à.

Tôi cũng chẳng vui chi, đầu óc đang ngổn ngang trăm mối. Nhưng tôi cũng biết như ông già Tàu piết : mình đến lúc phải chấm dứt thời ngồi giữa chợ.

Lê quang Thông
Frankfurt, Germany

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s