Trương Văn Dân – Đỗ Trường, ký ức và nỗi niềm

sách-đỗ trường

Trong những ngày giãn cách vì đại dịch, có lẽ món quà ý nghĩa nhất là những quyển sách. Nó là người bạn đồng hành cho ta kiến thức, cảm xúc và niềm vui mà không làm phiền hay đặt cho ta bất kỳ điều kiện nào.

Trên chuyến bay về tâm dịch Italia vào tháng 3-2020… tưởng kéo dài cùng lắm 3 tháng, cao tay 6 tháng là cùng.. nhưng đâu ngờ đến nay gần 2 năm mà đại dịch vẫn chưa thấy dấu hiệu chấm dứt. 10 quyển sách mang theo chỉ vèo 1 cái là đọc hết, bạn bè Ý có tặng thêm chừng 30 quyển, cả tiểu thuyết, truyện ngắn và tiểu luận bằng tiếng Ý… nhưng 2 quyển Sau tiếng chuông chùaVề miền ký ức của Đỗ Trường gửi tặng làm tôi rất vui.

Khoảng 6,7 năm gần đây tôi thường đọc Đỗ Trường, anh là một nhà văn viết về nỗi đau cuốn hút và những bài phê bình thẳng thắn với nhận định khách quan bằng một giọng văn đầy cá tính.

Đỗ Trường sinh năm 1960 ở Nam Định nhưng lớn lên ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm 1980 anh theo học Khoa Anh Ngữ tại Đại học Ngoại Ngữ rồi nghỉ học đi buôn và theo lao động xuất khẩu sang CHDC Đức.

Sau khi có đời sống ổn định ở Đức, anh dành nhiều thời gian hơn để viết. Có lẽ những năm tháng sống xa đất nước, dù an lành hay đầy đủ đến đâu cũng khiến anh thấy tâm hồn chông chênh và trống trải nên quay về với hoài niệm. Tuy đã in nhiều sách nhưng sự ra đời của Về miền ký ức, in sau các tập truyện khác, chứng tỏ dù viết gì thì cũng quay lại tuổi thơ để níu giữ nhớ thương như thuở sống ở quê nhà.

Tuy đến với văn chương khá muộn nhưng phải nói, bút lực, văn phong của ĐT già dặn, bản lĩnh, viết, kể và nhận định với giọng văn đặc trưng đã làm nên một chân dung nhà văn đất văn học Nam Định.

Về miền Ký ức là tập sách mới nhất, tuy kể về bạn bè nhưng hấp dẫn như đọc chuyện Lương Sơn Bạc. Người đọc mới đầu có thể hoa mắt vì số nhân vật đã đông mà khi nói về nhân vật chính ĐT còn nhắc thêm những tên tuổi khác: “Từ đêm 1983 đang ngủ ở nhà Nguyễn Xuân Diệm và Pham văn Hạnh trên gác xếp.. nghe tiếng gõ cửa, gọi tên mình. Người đó là Thuấn cu Trâu. Có lẽ từ 1978, sau bữa nhậu ở nhà Hoàng thế Hoan lớp A (cùng với Nguyễn Đức Năng (E), Nguyễn văn Thạch (E) Thông (C) không gặp lại Thuấn…..), năm năm gặp lại, Thuấn không hề thay đổi…” nhưng tôi chắc là do anh cố tình điểm danh tất cả vì biết đây là quyển sách duy nhất viết về các bạn. Viết cũng như thắp một nén tâm nhang gửi đến những người đã khuất, tuy lan man nhưng không quá sa đà để lạc mạch truyện đang kể.

ĐT là người nhạy cảm, anh nhớ về bạn bè với sự quý mến vì “người bạn nào cũng có thể cho mình một chút niềm vui và mình học từ họ một cái gì mà mình còn thiếu”. Giọng văn nghiêm túc, cảm động nhưng có lúc cũng pha trò rất có duyên. Đọc đến đoạn bạn Thông khen anh đàn hát tôi không thể nhịn cười: “Tao mà ăn thua gì! Mày mà là đàn bà, với cái tính khí này, nghe cái gã Ngô Thanh Hoàn đàn hát thì muốn chửa vói nó ngay!

ĐT không chỉ ghi chép theo trí nhớ mà còn đưa trái tim vào truyện kể nên những trang hồi niệm của anh sống động như bạn bè chỉ mới chia tay ngày hôm qua.

Phần lớn các bạn của ĐT trong Về miền ký ức đều có 1 số phận kỳ lạ nên khi đọc tôi liên tưởng đến các tập truyện “Ngôi nhà số 11” “Tưởng chừng đã quên” của nhà văn Nguyên Minh: những con người bình thường mà có số phận như tiểu thuyết, khỏi cần hư cấu gì nhiều vì chính hoàn cảnh lịch sử đẩy họ vào những tình huống rất éo le. Có khi thật bi đát.

Chỉ qua vài nét về một nhân vật nhưng anh có khả năng cho người đọc thấy một hiện thực xã hội … khiến họ có khi phải trăn trở hay những đêm buồn mất ngủ!

Đọc Về miền ký ức mới thấy ĐT từ nhỏ khá nghịch ngợm… “Tuổi đang lớn, thằng nào không nghịch mới là.. không bình thường” đã từng học võ, đánh đấm,… Lớn hơn còn buôn lậu, liều lĩnh cho bạn mượn “thẻ thương binh” (?).. Một lần dám ra đứng lớp dạy thay bạn mà lớp toàn là cán bộ cao cấp của huyện! Có lẽ những kinh nghiệm đó cho anh một vốn sống phong phú, cần thiết cho việc viết lách sau này.

Giống như nhà văn Văn Biển là cháu ruột của thủ tướng Phạm văn Đồng, ĐT cũng có họ hàng với chủ tịch nước Trường Chinh nhưng cả hai đều không thích chính trị, không muốn dựa dẫm hay đi theo con đường quan lộ mà chọn con đường riêng của mình.

Yêu văn một cách chân thành nên ĐT không thích cái tật sính thơ văn của những người quyền thế. Chuyện kể về người bạn cũ làm nổi lên sự khó chịu này. “Không hiểu văn thơ nó có bùa mê thuốc lú gì, khi khố rách áo ôm, cấm thấy bác nào nhòm ngó, ấy vậy mà lúc có tý chức quyền, tiền bạc, lăn xả vào cứ như ma ám. Có bác đánh đùng một phát đẻ đến năm, bảy tập, thơ chẳng ra thơ, vè chẳng ra vè, thế rồi thuê các bình luận gia ùa vào bóng kích. Ông khác chức cao, nhiều tiền hơn, thuê hẳn mấy bác phó lảy nhạc, cho các em chân dài ca chơi. Thế mới kinh!

Vũ Ngọc Kiên là một ông quan như thế. Sau khi in tập thơ “Lửa đêm” được bạn bè, đồng nghiệp kể cả các nhà phê bình ngợi khen nhưng trong thâm tâm không cảm thấy tin tưởng. Khi nghe chính con trai mình bảo: “Thơ của bố đáng vất vào sọt rác. Người ta khen vì bố có quyền, có tiền mà thôi” Kiên bực mình cho đệ tử tìm ĐT để tặng tập thơ “nhờ viết vài lời nhận xét thật công bằng chứ lòng ấm ức không chịu nổi.” ĐT cầm tập thơ và nghĩ “tâm hồn lưu manh, trộm cướp như thằng này mà cũng làm thơ, quả thật xã hội loạn cả rồi!”

Loạn, vì “nhà thơ” Vũ Ngọc Kiên là bạn thời thơ ấu: thuở nhỏ đã ăn cắp xe đạp ở trường, vào tù chỉ học toàn chuyện không hay. Sau trốn qua Đức còn tổ chức ăn cướp các đồng hương. Trong 1 vụ cướp may có mặt ĐT đang ngồi với gia chủ, nhờ nhận diện ra Kiên nên đã không xảy ra án mạng. Hai mươi năm sau Kiên đã hoá thân thành Quốc và là phó cục trưởng của một bộ quan trọng. Đây là đoạn đối thoại của hai người bạn cũ “…Tôi không thể nào tin nổi, đất nước có một người thân phận bất minh như ông lại có ngày làm đến phó cục trưởng?

Ông hiểu thế chó nào được! Cái nơi ông bỏ nó ra đi đến hơn 30 năm.. có ông quái nào là mình nữa đâu… Tôi biết ông ghê tởm cái quá khứ trộm cướp của tôi… nhưng… tôi chỉ là con tép riu so với những kẻ vừa cướp vừa phá một cách hợp pháp..” (trang 262, VMKU)

Các câu chuyện như vậy được ĐT kể lại tự nhiên như trôi thuyền trên một dòng sông, nhưng đoạn kết như vừa ra cửa biển, người đọc thấy một điều gì lớn lao hơn về thời cuộc.

Dị ứng với cái ác và sự bất công nên ĐT luôn đứng lên bênh vực kẻ yếu và phê phán quan tham. Chắc anh cũng từng đọc và đồng cảm với nhà thơ Phùng Quán :

..Tôi có quyền gì được lên xe xuống ngựa

khi gót chân nhân dân tôi nứt nẻ bụi đường.(PQ)

Trong tản văn “khi nào chúng ta sống thật và minh bạch” ĐT kể chuyện xảy ra trong gia đình: “…mấy chục năm về trước. Họ Đặng bên mẹ tôi có rất nhiều người làm quan to, có bác chức tước còn xếp ngồi chiếu trên so với đồng chí Phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Có lần, năm mới hay giỗ chạp gì đó, các bác tề tựu đông đủ. Tôi lúc đó rượu đã tưng tửng, tranh luận, to tiếng với mấy ông em ở mâm dưới, thốt ra câu:

– Không có gì dễ bằng làm quan thời nay, vì xảy ra việc có ông quái nào dám gánh trách nhiệm đâu.

Tôi liền bị ông cậu thứ hai, trong ban bí thư trung ương đoàn, nắm cổ lôi ra ngoài, bàn giao cho mấy ông em áp tải về nhà. Lần sau tôi không được phép đến, nếu cố tình lò dò đến chỉ được phép ngồi mâm các bà.”

Rồi “Cho đến hôm nay, sau mấy chục năm, nếu như phải cãi nhau với mấy ông em, tôi vẫn phải thốt ra câu này:

– Chẳng có cái nghề nào dễ bằng làm quan thời nay.

Nhưng rất tiếc cậu của tôi đã trên tám mươi, già rồi không còn đủ sức nắm cổ tôi, kéo ra khỏi mâm cỗ.”.

&

Trong phê bình văn học Đỗ Trường cảm nhận tác phẩm dựa trên văn bản chứ không quan tâm tác giả là ai, ngồi chiếu trên hay chiếu dưới, là người miền Nam hay miền Bắc mà phân tích cặn kẽ đưa ra dẫn chứng để làm bật chủ đề rồi công tâm nhận định theo quan điểm văn chương của mình. Các bài viết của ĐT trong sáng, dễ hiểu, linh hoạt nhưng không nặng nề thuật ngữ, “vận dụng” các “nghiên cứu” để phô trương lý thuyết khô khan, biến tác phẩm thành trừu tượng, mù mờ. Các đánh giá trích đoạn và bình luận của anh thường khá thuyết phục.

Khi tìm hiểu và thấy hình ảnh người lính thám báo trong Nỗi buồn chiến tranh anh anh thẳng thắn phê phán Bảo Ninh đã bóp méo, viết không đúng sự thật; hay thấy những chi tiết không chính xác trong Xung đột anh đã không ngần ngại :“Ngày còn cắp sách đến trường, đọc những trang sách này (xung đột) của Nguyễn Khải, tôi thấy khoái, phục ông lắm. Tuy nhiên, bây giờ đọc lại, thấy nhạt nhẽo, thiếu tính chân thực, chất tuyên truyền giả dối làm người đọc phải nhíu mày, đỏ mặt. Chẳng vậy, đến cuối đời bác Đại tá nhà văn Nguyễn Khải phải: Đi tìm cái tôi đã mất. Vâng, nếu kiếp sau có trở lại làm văn nhân, xin bác Nguyễn Khải có viết lại xung đột, xung đẹo ở Qũy Nhất quê em nên trung thực chút chút. Chứ cứ coi người đọc suốt đời là một đứa trẻ, ngượng chết đi được”.

Thực ra có một số nhà văn một thời được hoan nghênh nhưng về sau tự thấy nó giả dối, xu thời, nhạt nhẽo nên xấu hổ không dám đọc lại “tác phẩm” của mình. Họ còn sợ con cháu về sau tủi hổ.

Trong 1 lần dự đại hội văn học nghệ thuật ở Leipzig (Đức) một PGS TS dạy văn học hiện đại ở đại học TH Hà nội biết ĐT từng viết về Bảo Ninh nên có đưa bài viết của mình về Nỗi buồn chiến tranh cho anh đọc. Chờ đọc xong ông hỏi, thế nào? “Được nói thật chứ?” “ Ông cứ nói hết suy nghĩ”. “Thế em nói nhé: Viết phê bình mà không dám viết hết, lựa lời nói để vừa lòng ai đó, chán hơn cơm nếp nát.” Bác này hơi buồn “Trước ông học hay nghiên cứu ở đâu?” “Thưa bác, cũng định làm học sinh của bác. Nhưng thi phát nào trượt phát ấy, rồi theo nghề úp mặt vào chảo bác ạ ”. “Ông cứ đùa, phải có thầy chứ” “Dạ… các thầy em là thầy Lễ, thầy Chiếm, thầy Dương ạ”. “Thế các thầy ấy giảng sư ở trường nào?” “Ối giời ơi, thầy em quê mùa, sáng dạy học, chiều xắn quần lên tới bẹn đi cày ngoài đồng ạ.”- Bác PGS TS đứng dậy, lầm bầm,“ông là chúa đùa dai”… (trang 226- về miền ký ức)

Tôi chưa từng bao giờ gặp ĐT ngay cả khi đọc được bài viết “TVD, người tìm lại một nửa linh hồn”1 . Anh đọc Hành Trang ngày trở lại và tiểu thuyết Bàn Tay nhỏ dưới mưa của tôi là do một người bạn của tôi gửi tặng. Mỗi lần tôi in sách là nhà thơ Nguyễn Đức Minh, sống gần Dresden (Đức), nhờ người mua vài chục quyển để giới thiệu và tặng cho bạn bè ở Việt Nam và ở Đức.

Mãi đến 2 năm sau tôi qua Đức mới được Minh đưa đi gặp ĐT. Cuộc gặp đã cho tôi nhiều ấn tượng và bất ngờ vì trên trang viết con chữ anh tung hoành ngang dọc để nói lên những nghịch lý, bất công kể lại những câu chuyện đau thương và xót đắng…Thế nhưng khi gặp tôi chỉ thấy một con người nói năng nhỏ nhẹ, dáng dấp khoan thai như một ông đồ. Nhìn vẻ hiền lành của anh thật không dễ nhận ra anh là tác giả của những truyện ngắn dữ dội và đầy tính nhân bản mà tôi từng đọc.

sách-đỗ trường2

Khi bước vào nhà tôi hơi khựng lại: Trong 1 chiếc tủ kiếng khá cao đặt trong phòng khách, trên đầu tủ và các kệ có chưng đầy các loại cúp đủ mọi hình dáng, kích cỡ và màu sắc. Anh cho biết có hai con gái đều là cầu thủ bóng bàn đội tuyển trẻ quốc gia CHLB Đức, hiện đang chơi cho hạng nhất của Đức (1. Bundesliga). Các con được mẹ huấn luyện từ bé, vì vợ anh Vũ thị Hoà từng là một cao thủ trong đội bóng bàn của Hà nội.

Hôm đó ngoài vợ chồng ĐT – Hoà, tôi, Elena, Đức Minh còn có thêm vợ chồng Nam Võ và Thu Huệ. Gọi Dương Hoài Nam là Nam võ vì anh là một võ sư và một nhạc sĩ, một lãng tử “gươm đàn nửa gánh”. Võ sinh của anh toàn là người Đức. Câu nói của Nam đã làm tôi quý mến vì đó cũng là nguyên tắc cứng của các võ sư Bình định quê tôi: “Mong ước lớn nhất, mong ước tột cùng trong đời của Nam chính là: Học Võ để cả một đời không phải đánh ai.” Mới đây (3.9.2021) Nam Võ cũng là người Việt đầu tiên nhận được một giải thưởng cao quý của Chính phủ: Quỹ hội nhập Đức đã tổ chức trao giải thưởng về biểu tượng gắn kết xã hội cho đại diện từ nhiều quốc gia. Vui vì anh đã mang vinh quang ra nước ngoài nhưng điều hiếm hoi và xúc động nhất là cháu Dương Kiều Mai, nữ diễn viên điện ảnh (đã đóng nhiều phim võ thuật của Đức) vinh dự là người trao giải cho bố!

Nam Võ thân thiện, vui nhộn, cởi mở nên không khí khá sôi động và tự nhiên. Đến một lúc anh cầm đàn ra hát để tặng các bạn phương xa. Nam Võ hát rất say mê, thả hồn trong lời nhạc. Những bài hát lãng mạn thỉnh thoảng xen vào các bài hát Nga, Đức, hay nhạc Ý lời việt như Trở về mái nhà xưa

Sau một lát anh chuyển đàn cho Đỗ Trường. Mái tóc dài nghệ sĩ, hai hàng ria mép không dày và khi hát bài Nỗi lòng người đi đôi mắt ĐT mơ màng “…Tôi xa Hà nội năm lên 16 khi vừa biết yêu..” giọng trầm ấm đã làm không gian chùng lại. Tâm trạng của những người con xa xứ như đang xâm chiếm những trái tim nhạy cảm. Nhưng ánh mắt ĐT không hẳn chỉ là buồn vì nỗi nhớ quê, có một cái gì đó lúc ấy tôi chưa thể định hình nhưng cảm nhận được một nét u uẩn khác thường.

Cuộc gặp đó chỉ vài giờ mà gắn bó những người bạn vừa mới quen nhau. Trên đường về tôi nói với Minh, buổi gặp mặt thân tình chỉ tiếc là nói chuyện văn chương “hơi ít”! Minh cho biết, nếu có đề cập đến thì ĐT cũng tránh và lái qua chuyện khác thôi.

Minh kể là mấy năm trước ĐT có viết mấy bài tản văn, nói thẳng suy nghĩ của mình và phê phán những tiêu cực ở quê nhà khá mạnh bạo nên có va chạm với cơ quan an ninh. Chị Hoà lo lắng, ôi làm vợ nhà văn thật khổ, khuyên chồng không viết nữa nên khi có mặt vợ ít khi anh chạm đến văn chương. Tuy thế anh vẫn viết lén, viết chui, kiểu như Phùng Quán sau thời Nhân Văn Giai Phẩm.2

*

Nhìn chung ĐT đọc nhiều, kiến văn phong phú và có khả năng nắm bắt được những chi tiết, nhìn ra tổng thể và cốt lõi tác phẩm, một yếu tố quan trọng đối với một nhà phê bình. Anh viết chân dung mà làm người đọc bị lôi cuốn, không thể dứt, như đang theo dõi một câu chuyện hấp dẫn.

Tuy không ưa chính trị nhưng ĐT là người trực tính, viết không e ngại nên những bài tản văn của anh là những nhận định về thời cuộc, mạnh mẽ nói lên suy nghĩ của mình. Có khi cảm xúc đưa con chữ của anh đi khá xa …

Trong văn chương có thể nói ĐT là một cây bút tả chân hiện thực và chuyển tải những thông điệp nhân văn đầy tình người. Đọc anh người ta thấy những trăn trở của một tấm lòng thiết tha đau đớn,.

Phía sau những truyện ngắn mang tựa đề đơn giản, có khi mộc mạc như “Mắm cáy”, “Gỏi nhệch”, “ Sau tiếng chuông chùa”, “Chiến tranh đã qua lâu rồi” “Nguyện ước cuối” “Ngôi mộ gió” “Tấm hình cũ”, “Cũng một kiếp người”… không ai có thể ngờ là những con chữ trong đó bừng bừng ngọn lửa, dữ dội, thiêu đốt trái tim người đọc, đẩy cảm xúc của họ vào hoảng loạn trước những sự thật trần trụi và dữ dội. Những phận người theo đó nổi trôi, bập bềnh như những chiếc lục bình mong manh, bất lực cuốn theo dòng đời, không chỉ ở quê nhà mà còn lạc loài qua xứ lạ, rồi cuối cùng tấp vào bến bờ bất hạnh, ngập chìm trong máu và nước mắt.

Đọc những truyện ngắn của ĐT người đọc không thể không nghĩ đến thân phận con người. Riêng tôi thường thầm hỏi, nếu sinh ra mà để sinh tồn, con người phải gian ác, hành hạ, đoạ đày nhau, giòng họ này tàn bạo vơi họ tộc kia, nước này tranh giành vơi nước khác, máu chảy thành sông, oán thù và oan khiên chồng chất thì cuộc sống ấy có ý nghĩa gì không?

Vừa là nhà văn vừa là nhà phê bình nên ĐT có 1 lợi thế lớn, giống như một cầu thủ có khả năng của 1 huấn luyện viên am hiểu chiến thuật nên mặc sức tung hoành trên sân cỏ, đi những đường bóng đẹp để phát ra những cú sút hiệu quả. Có lẽ nhờ thế mà tác phẩm của anh ít khi thấy sự xoàng xĩnh, nhiều lời ít ý, làm người đọc chán nản buông sách.

Đọc ĐT khá nhiều nhưng có lẽ truyện ngắn mà làm tôi ám ảnh nhất, bố cục hay và những tình tiết của câu chuyện gia đình được anh viết như trích ra từng giọt máu để phủ lên chữ nghĩa. Mở đầu anh viết như chuyện dạo chơi “Thấy mẹ buồn, nên tôi thi vào trường ngoại ngữ” nhưng đó chỉ là khởi đầu của chiếc đinh vít. Từ từ anh dẫn người đọc đi thăm người chú và chiếc đinh vít siết dần khi nghe bà nội mình kể chuyện ngày xưa, thời cải cách ruộng đất với những cuộc đấu tố kinh hoàng. Áp lực càng lúc căng tăng trong một truyện ngắn có cái tựa thật hiền: “Những ngày không bình yên3.

Chỉ xin trích 1 vài tiểu đoạn.

– Ông bà tôi là người đầu tiên trong làng bị bắt và tịch thu tài sản. Mấy ngày đầu ông bà tôi vẫn còn hy vọng là sẽ có lúc ông chủ tịch Phi về cứu. Đúng như thế, trong lúc nước sôi lửa bỏng, chủ tịch Phi về thật. Nhưng ông vừa cất tiếng thì liền bị đội Đông dộng một báng súng vào mặt, phọt máu ra đằng mũi, vu là việt gian quốc dân đảng rồi bị tra khảo, tra tấn tàn bạo. “Chỉ có mấy ngày, hàng răng cửa của ông bị gẫy sạch, mặt sưng vêu lên, hai mắt húp lại… Người ông mềm oặt, chi chít những vết thâm, phù. Hôm mang ra đấu ở sân đình, hai du kích nắm bả vai ông, kéo rê, như bọn trẻ nghịch kéo một con chó chết… Thế mà không hiểu bằng cách nào, và lấy đâu ra sức lực, đêm hôm đó ông dùng mảnh sành tự rạch bụng mình, lôi hết cả ruột ra ngoài…”

– “Bà tôi và bác Âm, hôm đấu tố bị tát, vả nhiều nhất vì can tội cãi và cứng đầu. Nhìn thấy chiếc răng hàm bọc vàng, một bấn cố nhảy xổ lên bóp miệng bà, thò tay vào móc. Bà tôi lắc lắc đầu, nghiến chặt răng, bà bần cố kêu rú lên, máu vọt ra. Máu từ miệng bà tôi, máu từ tay bà bần cố thấm xuống cả sân đình. Say máu, bà bần cố cầm cả cái guốc cứ nhè vào miệng, vào răng bà tôi mà ghè. Cả hàm răng của bà tung ra, người gập xuống như thân chuối gẫy. Bà bần cố nhặt chiếc răng vàng chùi chùi vào áo, rồi giơ lên, cười sằng sặc…

Gần sáng, tỉnh dậy, ông bà tôi nghe tiếng bác Âm đang lạy và tế sống mình, rồi tiếng xé quần áo, bện thành dây thừng, xoàng xoạc ở bên kia tường. Bà tôi khóc rống lên, gào người đến cứu, nhưng tiếng kêu ấy không xé nổi màn đêm đen dầy đặc đó. Ông tôi bảo, đằng nào cũng phải chết, bà hãy để cho nó đi…”

Thú thật, khi đọc truyện ngắn này tôi đã không dám đọc 1 lèo, vì có lúc phải dừng lại, hồi hộp, nín thở, ngạt thở, phẫn uất, rờn rợn, đớn đau, và nước mắt tuôn trào trong một lòng thương cảm.

Nhưng con đinh vít của ĐT vẫn tiếp tục siết :

– “Buổi sáng, ông bà tôi nhìn thấy, người ta kéo tấm thân trần truồng của bác Âm ra giữa sân, bó bằng một manh chiếu rách. Ông già coi miếu và nhà đòn, đặt bác lên cái gạc tre, ì ạch kéo đi. Hai chân của bác thò cả ra ngoài, lê trên mặt đường…

Trưa hôm đó, ông tôi ngồi úp mặt vào hai đầu gối. Tưởng ông đói và ngủ, lúc sau bà lay nhẹ, ông đổ kềnh ra, tay vẫn còn đang bóp cổ mình, mặt sưng to như cái cơi trầu. Bà vuốt ngực, hà hơi, một lúc ông tôi sống lại. Bà khóc, lạy, xin ông đừng chết trước. Đến lúc phải chết, thì cả hai cùng đi”.

Vụ tự sát của nhà văn Hemingway trước ngày sinh nhật lần thứ 62 thường được giới văn chương xem là khủng khiếp: ông đặt báng của khẩu súng săn hai nòng trên sàn nhà, tựa trán lên hai họng súng rồi kéo cò. Nhưng so với cách tự bóp cổ mình để tự sát này có lẽ chưa thấm vào đâu.. Chỉ có sự tuyệt vọng tận cùng mới có được ý chí và sức mạnh đó.4

– “Sau một chập xỉa xói, đấm đạp, ông bà tôi được nghe lời tuyên án của chủ tọa, thay mặt tòa án nhân dân: Kết án tử hình vợ chồng địa chủ cường hào Đỗ Văn Điếm (tức Cửu Điếm) làng Cát Chử, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Bản án được lập tức thi hành.”

Hình như lần nào cũng vậy, đọc xong, tôi gấp sách bước ra khỏi nhà để hớp 1 chút không khí. Lúc đi dạo tôi thường tự hỏi, mình đã đọc bao nhiêu chuyện oan nghiệt cuả một thời đầy biến động, năm tháng nặng như chì, trong đó có máu và nước mắt cùng tiếng cười điên dại của những người được sinh mà chưa được sống như 1 con người. Rồi khi lịch sử qua đi thì những kinh nghiệm đau thương ấy có giúp cho thế hệ tương lai tránh dẫm chân vào bánh xe lầm lỗi của cha ông? Hay máu của lịch sử đã khô và trong hững hờ của lãng quên, chúng ta vẫn ích kỷ và lầm lũi đi trong bóng tối vì luôn thiếu một chiếc la bàn nhân bản? Hỏi và chưa bao giờ tôi có được câu trả lời. Nhưng khi nhớ đến đôi mắt u uẩn của Đỗ Trường tôi chợt hiểu là trong lòng anh vẫn còn những vết thương chưa thành sẹo.

Hỏi và chưa bao giờ tôi có được câu trả lời. Nhưng khi nhớ đến đôi mắt u uẩn của Đỗ Trường tôi chợt hiểu là trong lòng anh vẫn còn những vết thương chưa thành sẹo.

Milano, năm covid thứ 2
28.9.2021

1 https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=2260522390892003&id=100008027929101

Hay http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=24886

2 Phùng Quán là người “Cá trộm rượu chịu văn chui”. Vì hai bài thơ “Chống tham ô lãng phí” và “Lời mẹ dặn” viết năm 1957 mà Phùng Quán phải trải qua 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút. Bị treo bút đối với một nhà thơ là điều cực hình, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” kiếm từng đồng nhuận bút, phải câu trộm hơn chục tấn cá ở Hồ Tây để nuôi gia đình và đãi bạn bè…Tuy vậy về sau ông được giải thương nhà nước. https://tuoitre.vn/trao-giai-thuong-cho-nhung-tac-pham-xung-dang-188502.htm

3 https://kontumquetoi.com/2016/11/28/nhung-ngay-khong-binh-yen-truyen-do-truong/

4 Trước đây tôi cũng có đọc chuyện một người tự treo cổ trong một căn hầm thấp và hẹp nên ông ta phải đu hai chân lên mới có thể chết! Tiếc là không còn nhớ là chuyện thật hay chỉ là hư cấu?

Trên thế giới cũng có những thử nghiệm kỳ lạ mà con người từng thực hiện. Một nhà khoa học pháp y và tội phạm học người Romania tên là Nicolas Minovici đã tự treo cổ mình 12 lần để… nghiên cứu!: “Tôi tự treo cổ mình 6, 7 lần trong từ 4 đến 5 giây để làm quen” và cho biết “đã có thể chịu được đến 25 giây khi treo cổ ở tư thế bình thường với chân lơ lửng cách sàn vài mét

Minovici đã công bố nghiên cứu về treo cổ dài 200 trang với 2 ngôn ngữ. Phiên bản tiếng Romania được phát hành vào năm 1904 đã đóng góp không nhỏ cho y học và pháp y học.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s