Ngô Khôn Trí – VÌ SAO ĐẤT NƯỚC TRIỀU TIÊN BỊ CHIA ĐÔI?

korea -bản đồ

Ngày 24/9/2021 vừa qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cho biết Hoa Kỳ đã nhiều lần khẳng định không có ý định thù địch và sẵn sàng đối thoại với Bắc Triều Tiên (BTT) mà không cần điều kiện tiên quyết. Sung Kim, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng đã tuyên bố Hoa Kỳ đã nhiều lần bày tỏ sẵn sàng gặp ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào nhưng BTT có vẻ thờ ơ với đề xuất này.

Điều này rất hiếm xảy ra trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, nhất là đối với một nước nhỏ có dân số bằng khoảng 8% dân số của mình, có GDP chỉ bằng 1,6% GDP của mình. Thế thì tại sao Hoa Kỳ phải hạ giọng để mong được đối thoại với BTT?

Để có được câu trả lời đầy đủ, cần tìm hiểu về lịch sử vì sao đất nước Triều Tiên bị chia đôi.

Khoảng một tháng trước khi Thế chiến Thứ hai chấm dứt, dự đoán rằng Đức và Nhật sẽ phải đầu hàng nên 3 nhà lãnh đạo của 3 cường quốc: Stalin (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô), Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ) và Churchill (Thủ tướng Anh), đã gặp nhau từ ngày 4–11/2/1945 tại cung điện Lavida, gần thành phố Yalta, miền nam Ukraina, để bàn về việc hậu chiến là sẽ thành lập một tổ chức giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới (sau này là Liên Hợp Quốc), đồng thời phân chia khu vực chịu ảnh hưởng của 2 cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ (chia chiến lợi phẩm?).

Theo đó, Liên Xô duy trì ảnh hưởng Đông Âu, Đông Đức, Đông Berlin, quần đảo Kuril (Nhật), Bắc Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc và Mông Cổ.  Hoa Kỳ duy trì ảnh hưởng ở Tây Âu, Tây Đức, Tây Berlin, Nam Triều Tiên, Nhật Bản.Từ đó, thế giới bị chia ra thành 2 hệ thống xã hội đối lập: Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Cũng từ hệ quả đó đất nước Việt Nam mình bị chia đôi thành Nam Bắc theo vĩ tuyến 17 bởi Hiệp định Geneve 1954.

Vào thời điểm đó, tại bán đảo Triều tiên, Nhật Bản đang chiếm đóng từ năm 1910. Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản, vào ngày 9/8/1945, bắt đầu tấn công phía bắc và dừng quân lại ở vĩ tuyến 38 độ bắc theo như thỏa thuận với Hoa Kỳ. Phần phía Nam dành lại cho Quân đội Hoa Kỳ tiến vào chiếm đóng vào đầu tháng 9 năm 1945.-

Sự việc này xảy ra sau khi Tổng thống Mỹ Roosevelt đã qua đời vào ngày 12/4/1945, Truman là Phó Tổng thống lên thay thế, là người thuộc Đảng Dân chủ kiên quyết chống chế độ cộng sản. Ông đã loại bỏ hàng ngàn người tán thành chủ nghĩa cộng sản trong các cơ quan nhà nước, ông đã từng tuyên bố: “Chủ nghĩa cộng sản là mối đe dọa đến sự tồn vong của Mỹ cũng như các nước đồng minh”. Ông đã ra lệnh thả 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima (6/8/1945) và Nagasaki  (9/8/1945), gởi quân tham chiến ở Triều Tiên. Ông đã thực hiện Kế hoạch Marshall để tái thiết nền kinh tế Tây Âu, nhằm mục đích kiểm soát Tây Âu giống như Liên Xô kiểm soát Đông Âu. Ông đã sáng lập nên Học thuyết Truman, chính sách của Truman đã trực tiếp dẫn đến học thuyết Domino, mở đường cho việc Hoa Kỳ đưa quân tham chiến hoặc tài trợ cho các cuộc đảo chính tại hàng loạt các quốc gia trên thế giới nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Ông cũng là người đặt bút ký thành lập NATO, một liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương để kiềm chế Liên Xô vào ngày 4/4/1949.  

korea.tt

Theo thỏa thuận ban đầu, Liên Xô giải giới quân Nhật ở phần phía bắc và Hoa Kỳ ở phần phía nam. Thế nhưng, vào ngày 8/9/1945, khi trung tướng John R. Hodge của Hoa Kỳ đến Incheon để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38, ông đã sử dụng nhiều người đã từng cộng tác với Đế Quốc Nhật vào làm trong lực lượng cảnh sát quốc gia do đó gặp phải nhiều cuộc biểu tình phản đối và ông từ chối công nhận chính phủ lâm thời của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc do bởi tư tưởng chống cộng của họ.

Tháng 12 năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Triều Tiên dưới một Ủy ban Liên hiệp Mỹ-Xô. Thỏa thuận cũng nói rằng Triều Tiên sẽ được độc lập sau bốn năm được quốc tế giám sát. Tạm thời, cả Hoa Kỳ và Liên Xô cho phép phần họ quản lý có một chính phủ do người Triều Tiên lãnh đạo. Riêng tại phía Nam, một nhóm cánh tả chống ủy trị vì người Triều Tiên đã chịu nhiều đau khổ dưới ách thực dân của Nhật Bản trong suốt 35 năm nên đa số chống đối một thời kỳ kế tiếp dưới sự cai trị của ngoại quốc. Hội đồng Đại diện Dân chủ ra đời được sự tiếp sức của Hoa Kỳ nhưng có một nghịch lý là nhóm này lại chống các thỏa ước do chính Hoa Kỳ bảo trợ.

Tháng 9/1947, Mỹ đưa vấn đề Triều Tiên lên Liên Hợp Quốc nhưng bị Liên Xô phản đối vì cho rằng đây là sự can thiệp vào nội bộ của Triều Tiên. Cuối cùng Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết vào ngày 14/11/1947, tuyên bố rằng một cuộc bầu cử tự do trên toàn bán đảo Triều Tiên sẽ được tổ chức, quân đội nước ngoài phải rút lui, và thành lập một Uỷ ban của LHQ về Triều Tiên gọi là UNTCOK.  Liên Xô và chính quyền phía Bắc tẩy chay bầu cử, cho rằng LHQ không thể bảo đảm bầu cử công bằng vì chỉ tổ chức ở miền Nam. 

Tại miền Nam, Mỹ đã chủ động ủng hộ một chính phủ lâm thời do Lý Thừa Vãn đứng đầu, ông là người đã từng tham gia vào các hoạt động chống Nhật, bị bắt giam và được thả năm 1904, sau đó theo học trường Giám lý của Mỹ, cải đạo qua Thiên Chúa Giáo và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Chuyển qua Mỹ, lấy bằng Cử nhân Nghệ thuật tại Đại học George Washington năm 1907, Thạc sĩ Văn học tại Đại học Harvard năm 1908, bằng Tiến sĩ tại Đại học Princeton năm 1910 . Ông đã từng gặp Tổng thống Theodore Roosevelt. Từ năm 1918 đến năm 1924, ông được thăng chức vụ cao trong chính phủ lâm thời. 

Ngày 3/4/1948, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra trên đảo Jeju để phản đối cuộc bầu cử sẽ tiến hành vào ngày 10/5/1948 do UNTCOK tổ chức nhằm hình thành một chính phủ mới cho toàn thể Triều Tiên nhưng chỉ tổ chức ở miền Nam. Chính quyền Lý Thừa Vãn tiến hành một số chiến dịch quân sự chống lại các phần tử nổi dậy phe cánh tả, quân đội ra tay trấn áp và tiêu diệt cuộc khởi nghĩa, khoảng 30.000 người thiệt mạng và khoảng 40.000 người khác phải sang Nhật Bản lánh nạn. Ngày 15/8/1948, sau 1 cuộc bầu cử mà nhiều chính trị gia bị tẩy chay, Lý thừa Vãn trở thành tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc (Đại Hàn Dân Quốc).

korea-1

 

 

korea-2

Trước diễn biến trên, miền Bắc Triều Tiên đã đáp lại bằng một cuộc bầu cử quốc hội, vào tháng 9/1948, Bắc Triều Tiên (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) tuyên bố thành lập, đứng đầu bởi lãnh tụ Kim Nhật Thành, một cựu chiến binh từng tham gia kháng chiến chống Nhật suốt 20 năm. Kim Nhật Thành tiến hành chương trình cải cách ruộng đất rộng lớn trên toàn miền Bắc, khoảng 400.000 người BTT đã bỏ chạy xuống phía nam.

Năm 1949, cả hai lực lượng của Liên Xô và Hoa Kỳ rút khỏi Triều Tiên. Chiến tranh lạnh giữa Bắc và Nam Triều Tiên bắt đầu. BTT cho rằng mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo nên tuyên bố là sẽ không bao giờ chấp nhận việc phân chia biên giới giữa hai miền.

Từ năm 1949 cho đến đầu năm 1950, đã xảy ra nhiều cuộc xung đột quân sự dọc theo ranh giới. Kim Nhật Thành đưa ý muốn thống nhất đất nước bằng vũ lực, ban đầu Mao Trạch Đông phản đối, Stalin do dự vì không muốn bị lôi cuốn vào cuộc chiến mà có thể kích động gây ra một cuộc chiến với Mỹ. Ngày 19/1/1950, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô rằng ông ta có kế hoạch tấn công xuống phía Nam để “thống nhất đất nước”. Stalin gửi một bức điện thể hiện ủng hộ, nhưng không nói gì với Mao Trạch Đông. Kim Nhật Thành bảo đảm với Stalin rằng ông ta có thể chiếm xong Hàn Quốc trước khi Mỹ đưa quân can thiệp.

Ngày 25/6/1950, BTT xua 135 ngàn quân vượt qua vĩ tuyến 38, tấn công NTT, chiếm được Seoul chỉ sau 3 ngày, nhanh chóng chiếm được tới 95% lãnh thổ miền Nam sau 2 tháng chiến đấu ngoại trừ thành phố cảng Pusan và đảo Jeju. NTT lâm vào hoàn cảnh gần như đầu hàng, quân NTT do thua sút về quân số và vũ khí (không có xe tăng và máy bay tiêm kích ) nên đã tháo lui toàn bộ và đào ngũ, quân số từ 100.000 người giảm xuống còn 25.000 người. Lý Thừa Vãn và các quan chức cao cấp trốn chạy khỏi Seoul, chuẩn bị thành lập “Chính phủ lưu vong” ở Nhật Bản.

Tổng thống Truman chủ trương chống đối lại chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ nơi đâu mà nó tìm cách mở rộng (học thuyết Truman) nên đã đệ trình lên Liên Hợp Quốc (LHQ) ngay ngày 25 tháng 6. Trong lúc Liên Xô vắng mặt vì phản đối Hội đồng Bảo an rằng chiếc ghế của Trung Quốc ở Hội đồng Bảo an phải được chuyển từ Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 82 kêu gọi: -Chấm dứt tất cả các hoạt động thù địch và BTT phải rút lui về vĩ tuyến 38;-Thành lập một Ủy ban Đặc trách về Triều Tiên để giám sát tình hình và báo cáo lại cho Hội đồng Bảo an;-Yêu cầu tất cả các thành viên của Liên Hiệp quốc ủng hộ nghị quyết này và tự kiềm chế không giúp đỡ cho chính phủ BTT. Liên Xô tẩy chay, BTT cũng không đồng ý và lý giải rằng cuộc xung đột này là một cuộc nội chiến. Lực lượng Mỹ có thêm binh sĩ và tiếp viện đến từ 16 quốc gia thành viên khác của LHQ, bao gồm: Canada, Úc, New Zealand, Anh, Pháp, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hy Lạp, Hà Lan, Ethiopia, Colombia, Philippines, Bỉ, Cuba và Luxembourg.

Tình thế đổi chiều khi Mỹ can thiệp vào cuộc chiến, Tổng thống Truman đã ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của NTT và điều động quân sĩ đang đóng tại Nhật Bản đến hỗ trợ cho lực lượng Lục quân của NTT, thành lập vành đai Pusan cản lại bước tiến quân cuối cùng của BTT. Truman quyết định gửi quân đội mà không xin phép tuyên chiến từ Quốc hội, nên bị chỉ trích là đã vi phạm tinh thần và nội dung của Hiến pháp Hoa Kỳ. Chính vì thế, một số người Mỹ gọi “Chiến tranh Triều Tiên” là “Cuộc chiến tranh của Truman”.

Quân đội Mỹ đã dùng oanh tạc cơ B-29 từ căn cứ ở Nhật Bản, 40 phi vụ mỗi ngày thi nhau đánh bom các kho tiếp liệu chính và phá hủy 32 cây cầu thiết yếu, các nhà máy lọc dầu và hải cảng để làm cạn kiệt lực lượng BTT. Lực lượng BTT bị kéo giãn ra trên toàn bán đảo, đường tiếp liệu cũng bị dội bom. Kim Nhật Thành khiếp sợ, khẩn cầu Stalin hỗ trợ. Stalin không muốn gửi quân đối mặt với nguy cơ gây chiến với Mỹ nên đã gừi 1 bức điện cho Mao Trạch Đông : “Theo tình hình hiện nay, nếu TQ có thể hỗ trợ quân sự cho BTT thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của TQ”.

Thế nhưng, khi quân đội Mỹ và binh sĩ Liên Hợp Quốc ào ạt vào Pusan, Liên quân có đến 180 ngàn quân , trong khi BTT chỉ có 100 ngàn quận, và được trang bị trên 500 xe tăng nên Liên quân bắt đầu phản công. Stalin buộc phải gửi hàng trăm máy bay chiến đấu MiG sang Triều Tiên. Không quân Liên Xô đào tạo các phi công TQ hoặc dùng phi công của mình mặc quân phục TQ và nói tiếng Trung, vẫn giữ danh nghĩa rằng Liên Xô không can thiệp để tránh xung đột trực tiếp với Mỹ.

Tuy nhiên, vào ngày 15/9, Tướng MacArthur đã ra lệnh đổ bộ từ biển vào phía sau phòng tuyến của BTT tại Incheon. Nhờ được tăng viện từ Liên Hợp Quốc, vũ khí mạnh hơn và nhờ có thám báo của các du kích quân NTT, lực lượng Mỹ dễ dàng đổ bộ lên Incheon và nhanh chóng tái chiếm Seoul. Quân đội BTT bị cắt đứt tuyến tiếp vận nên nhanh chóng rút lui về phía bắc. Sau khi tái chiếm, Lý Thừa Vãn ra lệnh thảm sát những người dân bị tình nghi ủng hộ BTT, gây ra cuộc thảm sát giết chết khoảng 100 đến 200 ngàn người.

Liên minh do Mỹ dẫn đầu đã đẩy lui quân BTT chạy về phía bắc vĩ tuyến 38. Mục tiêu giải cứu chính phủ NTT đã đạt được nhưng quân đội Mỹ tiếp tục tiến quân vào BTT do quá hăng say trong chiến thắng và viễn cảnh thống nhất Triều Tiên dưới tay chính phủ Lý Thừa Vãn. Sự kiện này đánh dấu khoảnh khắc quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khi quyết định muốn “tiêu diệt” một quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản, thay vì đơn thuần “ngăn chặn” mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản. 

Đầu tháng 10/1950, Liên minh vượt qua biên giới tiến vào BTT. Quân đoàn 10 của Mỹ từ biển đổ bộ vào  Wonsan và Iwon, kết hợp với quân NTT tiến đánh và chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19 tháng 10. Đến cuối tháng 10, quân đội BTT tan rã, 135.000 lính bị bắt làm tù binh.

Tại thời điểm này TQ rất lo ngại nếu quân đội Mỹ không dừng lại ở sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và TQ mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ TQ. Tướng MacArthur cho rằng việc mở rộng chiến tranh vào TQ là điều cần thiết nhưng Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý. Tuy nhiên, MacArthur vẫn ra lệnh ném bom các căn cứ nghi ngờ có khả năng tiếp tế cho BTT nằm tại lãnh thổ TQ.

Trung Quốc cảnh cáo rằng họ sẽ can thiệp để bảo vệ nền an ninh quốc gia nhưng MacArthur tin rằng TQ không dám liều lĩnh vì không có lực lượng không quân. Ngày 8/10/1950, một ngày sau khi quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Mao Trạch Đông ra lệnh quân đội di chuyển đến sông Áp Lục, đồng lúc cầu viện Liên Xô yểm trợ không quân trước khi đưa quân vào Triều Tiên. Mao nói với Stalin rằng sự can thiệp vào Triều Tiên là một hành động tự vệ cần thiết vì nếu để cho Hoa Kỳ chiếm đóng toàn Triều Tiên, chúng tôi phải chuẩn bị chờ Hoa Kỳ tuyên chiến với chúng tôi. Tuy nhiên, sự yểm trợ không quân của Liên Xô chỉ giới hạn không quá 60 dặm Anh (100 km) từ mặt trận. TQ rất giận dữ trước việc tham chiến có giới hạn của Liên Xô vì họ cứ đinh ninh rằng họ đã được hứa cung ứng yểm trợ không quân toàn diện. Mỹ biết rõ rằng Liên Xô muốn né tránh sự leo thang chiến tranh dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân với Mỹ.

Tối ngày 19/10/1950, trong cơn mưa lạnh, 4 quân đoàn bộ binh và 3 sư đoàn pháo binh Quân Chí nguyện cùng một lúc vượt sông Áp Lục, tiến vào Triều Tiên. Ngày 25/10/1950, quân đội Mỹ ngạc nhiên khi đối diện với số quân TQ đông đảo có khoảng 270 ngàn người. Sau vụ đụng độ ban đầu, quân TQ rút lui vào vùng núi. Quân Mỹ nghĩ rằng sự rút lui là một dấu hiệu yếu thế nên đánh giá sai lầm về khả năng tác chiến của quân TQ. Vì thế, quân Mỹ và các lực lượng Liên Hợp Quốc tiếp tục tiến công về sông Áp Lục. Quân TQ bí mật di chuyển vào đêm khuya, đóng quân vào những vị trí không bị phát hiện, đợi thời cơ thuận lợi phản kích đánh lui quân Mỹ đến phía nam sông Thanh Xuyên, tiến vào Triều Tiên vào ngày 7/11. Tại thời điểm này, quân số TQ đã lên đến hơn 380.000 quân, chiếm ưu thế hơn so với 220.000 quân của Mỹ và Liên Hợp Quốc.

Cuối tháng 11/1950, Ở phía Tây, quân TQ đánh bại sư đoàn 7 của quân NTT, đánh mạnh vào sườn các lực lượng còn lại của Liên Hợp Quốc và sư đoàn 2 quân Mỹ. Ở mặt trận phía đông, đánh quị sư đoàn thủy quân lục chiến 1, sư đoàn bộ binh 2 quân Mỹ. Tướng McAthur buộc phải ra lệnh rút lui toàn bộ. Tại miền đông, sư đoàn Bộ binh số 7 Mỹ bị bao vây, mặc dù cuối cùng phá được vòng vây và rút lui nhưng số thương vong lên đến 15.000 người. Cuối tháng 12 năm 1950, trước nguy cơ đối diện với sự bại trận hoàn toàn và đầu hàng, 193 lượt tàu chở khoảng 105.000 binh sĩ, 98.000 thường dân, 17.500 xe các loại, và trang thiết bị, rời khỏi Bến cảng Hungnam để đến Pusan. Seoul bị bỏ lại và bị các lực lượng TQ và BTT chiếm đóng vào ngày 4/1/1951.

Cuối tháng 1/1951, nhờ chiến dịch “Roundup” của Tướng Ridgway , quân đội Mỹ và lực lượng Liên Hợp Quốc đã tiến tới sông Hán và tái chiếm Wonju. Giữa tháng 2, TQ phản công nhưng bi một tiểu đoàn Pháp tại Triều Tiên đánh trả dữ dội và phá vỡ cuộc tiến công của TQ. Qua trận đánh này, Liên quân đã học được cách đối phó với các chiến thuật tấn công của TQ và có thể giữ vững trận địa của họ. Và sau đó đã tái chiếm lại được tất cả các lãnh thổ phía nam sông Hán.

Ngày 7/3/1951, Quân đoàn 8 của Mỹ đã đẩy lui quân TQ và BTT ra khỏi Seoul, đây là lần thứ tư trong một năm thành phố này đổi chủ. Seoul ở trong cảnh hoang tàn đổ nát; dân số của thành phố trước chiến tranh là 1,5 triệu người đã giảm xuống còn 200.000 người và thiếu thực phẩm trầm trọng.

Ngày 11/4/1951, Tổng thống Truman tước quyền Tướng MacArthur.Tư lệnh tối cao mới là Tướng Ridgway , ông củng cố các lực lượng Liên Hợp Quốc và mở cuộc phản công cho đến khi họ tới được phòng tuyến Kansas, cách vĩ tuyến 38  khoảng vài dặm về phía bắc. Sau đó, TQ đã mở 2 cuộc tấn công nhưng bị chống trả quyết liệt. Quân Mỹ và quân Liên Hợp Quốc quyết định dừng lại ở phòng tuyến Kansas, nằm ở phía bắc Vĩ tuyến 38, không tiếp tục các hành động tiến công vào BTT.

Cuộc chiến bước vào giai đoạn bế tắc. Các cuộc thương thuyết hòa bình băt đầu từ ngày 10/7/1951 nhưng không đạt kết quả do bởi bất đồng về các điều kiện đưa ra. Trong thời gian này, Dwight D. Eisenhower, một vị Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ và cũng là tư lệnh tối cao đầu tiên của NATO, thuộc Đảng Cộng hòa, đắc cử tổng thống vào ngày 29/11/1952. Ông đã từng đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân để buộc TQ đồng ý ngưng bắn nhưng vì muốn thực hiện lời hứa lúc tranh cử là tìm kiếm giải pháp kết thúc cuộc xung đột Triều Tiên nên cùng với Liên Hợp Quốc chấp thuận lời đề nghị ngừng bắn của Ấn Độ. Lệnh ngừng bắn được thiết lập vào ngày 27/7/1953, một vùng phi quân sự được thiết lập quanh vĩ tuyến 38, quân đội BTT đóng giữ một phía và phía bên kia là quân đội NTT và Mỹ. Kaesong, nơi diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình, vốn là cố đô của Triều Tiên, là phần đất của miền Nam trước khi các cuộc xung đột bùng nổ nhưng bây giờ là một thành phố đặc khu của miền Bắc.

Từ ngày 25/6/1950 cho đến ngày 27/7/1953, chiến tranh Triều Tiên được diễn biến theo 4 bản đồ dưới đây. Vùng màu đỏ thuộc Bắc Triều Tiên và Vùng màu xanh thuộc Nam Triều Tiên.

korea.karte

Cho đến ngày nay, Nam và Bắc Triều Tiên vẫn đang ở trong tình trạng chiến tranh vì chưa có một hiệp định hòa bình nào được ký kết.

Kể từ đó trở đi, Mỹ áp dụng lệnh cấm vận đối với BTT nhằm mục đích cô lập, gây khó khăn để BTT ngưng chính sách thù địch, lệnh cấm vận càng thắt chặt hơn nữa khi BTT tổ chức các vụ đánh bom chống lại Hàn Quốc vào những năm 1980 và tìm cách phát triển vũ khí nguyên tử. Hiện nay, BTT đang hứng chịu 11 lệnh trừng phạt của Mỹ và Liên Hợp Quốc. Hoa Kỳ là nước thắng trận trong Thế chiến Thứ hai nên luôn xem mình là người dẫn dắt trật tự thế giói. Do đó, chính sách đối ngoại của Mỹ là nhất quán cho dù có thay đổi tổng thống, tức là không để đối thủ Nga và TQ mở rộng tầm ảnh hưởng của mình và không để cho chủ nghĩa cộng sản lan rộng.

Qua cuộc chiến này, BTT hiểu rõ rằng sự giúp đở của ngoại bang (Liên Xô và TQ) có giới hạn, họ giúp đở BTT vì BTT thay mặt họ chiến đấu chống lại chính sách thù địch của Mỹ và vì họ không muốn đổ máu nếu tạo ra chiến tranh trực diện vối Mỹ. Để bảo vệ lãnh thổ và thống nhất đất nược, BTT biết phải dựa vào sức mạnh của chính mình. Do đó, kể từ năm 1960, BTT bắt đầu nghiên cứu phát triển tên lửa mặc dù gặp nhiều khó khăn do Mỹ cấm vận. Vào cuối tháng 5/1993, phóng thành công tên lửa đạn đạo tầm trung Nodong, rồi đến Taepodong-1, Musudan BM-25. Tháng 6/2016, thành công thử nghiệm Musudan có khả năng bay trên quỹ đạo lệch với khoảng cách 400km và đạt độ cao 1400km. Tới ngày hôm nay, BTT đã liên tục thử nghiệm thành công nhiều tên lửa như : ER Scud, Pukguksong-2, KN-25, TEL, Rodong-1, Hwasong-7,… BTT tuyên bố rằng các hệ thống tên lửa là biện pháp đáp trả hiệu quả, có khả năng tung nhiều đòn đánh liên tiếp vào những lực lượng đe dọa đất nước. Từ đó trở đi Mỹ liên tục kêu gọi đối thoại với BTT.

Trong thời gian xảy ra nội chiến, những tội ác chiến tranh cùng với bộ máy tuyên truyền của cả 2 phía đã tạo ra mối hận thù muôn đời giữa 2 miền Nam Bắc. Tuy nhiên, hiện nay cả 2 phía đếu muốn có hòa bình để tập trung xây dựng đất nước. Chính vì thế, để kết thúc chiến tranh, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã đề xuất hai miền bán đảo Triều Tiên cùng Mỹ và TQ đưa ra tuyên bố chung.Thế nhưng, phía BTT vẫn còn nghi ngờ chính sách ngoại giao của Mỹ nên trả lời rằng : “sẽ không có gì thay đổi nếu tình hình chính trị xung quanh Triều Tiên và chính sách thù địch của Mỹ vẫn giữ nguyên”. Có lẽ họ muốn biết chiến lược đối với Triều Tiên của tổng thống Joe Biden hiện nay có khác gì so với cựu Tổng thống Donald Trump trước đây hay không?.

Montreal, ngày 26/9/2021

Ngô Khôn Trí

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s