Phạm văn Vĩnh – Chữ nghiệp trong đời sống hàng ngày

chuông

Đối với người Việt Nam, khi nói đến chữ “nghiệp”, người mình thường hay nghĩ đến công việc làm hàng ngày để sinh nhai. Thứ đến là cái nghiệp của đời mình. Ý nghĩa thứ hai này được nhiều người nghĩ tới là do phần đông dân mình theo đạo Phật. Ngoài hai ý nghĩa vừa kể, chữ “nghiệp” còn mang nhiều ý nghĩa khác mà thường thì ít khi để ý khi dùng đến.

Trước tiên, hãy nói đến chữ “nghiệp” như công việc làm hàng ngày. Tiếng Việt ta có lối nói đôi, bằng hai chữ, như “gà qué”, “chó má”, “xe cộ”, … và “nghề nghiệp”. Trong hai chữ “nghề nghiệp”, “nghề” là chữ Việt thuần tuý và “nghiệp” là chữ Hán Việt có nghĩa là nghề. Vậy khi nói “nghề nghiệp” là nói dư thừa. Tuy nhiên không ai nói thay vào đó bằng hai chữ “nghề nghề” hay “nghiệp nghiệp”. Lại có một điều lạ lùng nữa là người mình chỉ nói “hành nghề”, “nghề nông”, “nghề ca sỹ” chứ không ai nói “hành nghiệp”, “nghiệp nông” hay “nghiệp ca sỹ” để chỉ cái nghề. Còn khi nói “nghiệp cầm ca” thì không có ý nói “nghề ca sỹ” mà nó mang một ý nghĩa khác, có tính cách bị ràng buộc hoặc đam  mê. Tục ngữ Việt Nam có câu “sinh nghề tử nghiệp”. Câu nói này đặc biệt ở chỗ là trong bốn chữ chỉ có chữ “nghề” là tiếng Việt thuần tuý còn ba chữ kia đều là chữ Hán Việt. chữ “nghề” đi liền với chữ “sinh” còn chữ “nghiệp” tiếp theo chữ “tử”.  Hiện đã có nhiều ý kiến giải thích câu tục ngữ này và hầu như đều giải thích giống như câu viết trong Kinh Thánh “kẻ nào dùng gươm sẽ phải chết vì gươm” [1].  Giải thích này xét ra có điều nghi vấn vì có nhiều người xông pha trận mạc cả một đời người không bị một vết thương nào trong khi đó một người dân sống bình thường, suốt ngày cầy sâu cuốc bẫm, rồi đùng một cái bị lạc đạn mà chết !

Con người lúc còn trẻ cắp sách đến trường học hành để mai sau có được một cái nghề. Đến khi học xong ra trường là lúc “tốt nghiệp”. Trong hai chữ này, chữ “tốt” là đọc trại ra từ chữ “tất”, là chữ Hán Việt có nghĩa là chấm dứt. Thí dụ, ta nói “tất niên” khi chấm dứt một năm trời. Còn chữ “nghiệp” ở đây không có nghĩa là nghề vì không có ai trong đời khi vừa mới ra trường đã đi hưu trí. Chữ “nghiệp” ở đây có nghĩa là chương trình học và “tốt nghiệp” có nghĩa là đã học xong và được cấp bằng. “Thụ nghiệp” có nghĩa theo thầy học tập và “thụ nghiệp” cũng có nghĩa là dạy học. Hai chữ “thụ” này được viết khác nhau trong cách viết Hán tự.

Học xong ra đời làm việc. Lại có người bôn ba đây đó tìm kiếm một lý tưởng mới . Những thành quả của một đời người làm lụng vất vả  hay miệt mài tranh đấu được gọi bằng hai chữ “sự nghiệp”, to hơn được gọi bằng “đại nghiệp” hay “vĩ nghiệp”. Thí dụ, sự nghiệp của đại gia Đ giờ đây rất to lớn ước chừng vài chục tỷ Mỹ kim; Sự nghiệp của nhà văn V để lại cho đời là gần một trăm cuốn tiểu thuyết rất có giá trị; Sự nghiệp của  nhà cách mạng C to hơn cả núi Thái Sơn, v.v. “Sự nghiệp” có khi được thay thế bằng “sản nghiệp”.

Nếu ta thay thế chữ “sự” trong “sự nghiệp” bằng tên của một cái nghề như “nông nghiệp”, ‘ngư nghiệp” hay “thương nghiệp”, v.v. thì chữ “nghiệp” này hàm ý một ngành hoạt động trong việc sản xuất. Và để sản xuất thì cần phải có “xí nghiệp” là cơ sở dùng trong việc sản xuất hay buôn bán.

Ngoài những ý nghĩa kể trên, còn nhiều ý nghĩa khác ngày nay đã được ghi chép trong các tự điển. Có một số từ ngữ gắn liền với chữ “nghiệp” mang hai, ba ý nghĩa khác nhau. Thí dụ, “nghiệp dư” vừa có nghĩa thời giờ nhàn rỗi, vừa có nghĩa không chuyên nghiệp. Khi nói một người nào đó là nghệ sỹ nghiệp dư là có ý nói người đó không hành nghề nghệ sỹ để sinh nhai; “Ác nghiệp” vừa dùng để chỉ một nghề bất lương vừa được dùng trong đạo Phật để chỉ một hành vi bất thiện sẽ mang tới hậu quả xấu; “Khẩu nghiệp” vừa dùng để chỉ việc sáng tác văn nghệ thời nhà Đường Tống, vừa dùng để chỉ nghề nghiệp làm để sinh nhai, vừa dùng trong đạo Phật để chỉ cái nghiệp sinh ra bằng lời nói.

Người Trung hoa, rồi người Việt, dùng chữ “nghiệp” trong đạo Phật để chỉ chữ “karma” đến từ tiếng Phạn (Sanskrit) bên Ấn Độ. Tuy nhiên người Trung Hoa còn dịch theo âm chữ “karma” sang tiếng Trung Hoa thành “羯磨” [2] mà đọc theo âm Hán Việt là “yết ma” hay “kiệt ma” (khác với các Pháp Yết ma trong các Tăng đoàn).  

Tự điển LEROBERT tiếng Pháp giải nghĩa chữ “karma” là “Giáo điều quan trọng của Ấn Độ Giáo và Phật Giáo, theo đó số phận của một sinh vật có ý thức được định đoạt bởi tất cả các hành động của sinh vật đó, đã được thực hiện trong nhiều tiền kiếp”[3].

Tự điển LAROUSSE tiếng Pháp giải nghĩa chữ “karma” là “Nguyên tắc cơ bản được ba tôn giáo lớn của Ấn Độ thừa nhận và dựa trên quan niệm cuộc sống con người như một mắt xích trong một chuỗi các kiếp sống (samsara : luân hồi), mỗi cuộc đời được quyết định bởi hành động của người đó trong kiếp trước” [4].

Tự điển OXFORD tiếng Anh giải nghĩa chữ “karma” là “(trong Phật giáo và Ấn Độ giáo) tổng số hành động tốt và xấu của một người nào đó trong cuộc đời của họ, được tin là sẽ quyết định điều gì sẽ xảy ra cho họ trong kiếp sau” [5].

Nhà Phật giải thích “Nghiệp” là những hành vi có chủ ý (ý nghiệp) được thể hiện qua lời nói (khẩu nghiệp) hay hành động (thân nghiệp) có ảnh hưởng tới chúng sinh. Những hành vi này sẽ quyết định số phận của người đó trong tương lai, có thể trong kiếp hiện tại hoặc trong những kiếp sau [2]. Phần nhiều con người thường hay hiểu khái niệm về “nghiệp” như một điều không tốt. Mỗi khi có chuyện gì không may, người đời thường cho đó là cái nghiệp, trả nợ nghiệp, “đã mang cái nghiệp vào thân (Kiều)”, v.v. Tuy nhiên thông qua những định nghĩa trên, chúng ta thấy “nghiệp” cũng có thể là một điều tốt lành. Như thế thì cái “nghiệp” của một sinh vật là “tổng số hành động tốt và xấu” như tự điển OXFORD đã định nghĩa ở trên.

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao trong tiếng Trung Hoa, đạo Phật lại dùng hai thuật ngữ là “nghiệp” và “yết ma” để chỉ “karma”. Phải chăng trong thời gian đầu, các dịch giả chưa tìm ra ý nghĩa tương đương trong tiếng Trung Hoa nên dùng hai chữ “yết ma” rồi khi đã hiểu rõ ý nghĩa của chữ “karma” liền đổi lại bằng chữ “nghiệp”. Nếu giả thuyết này đúng thì người Trung hoa thời cổ xưa cũng đã có một khái niệm nào đó tương đương với “karma” và khái niệm đó đã được gọi là “nghiệp”.

Trong bài giảng “Tam nghiệp Thân Khẩu Ý là gì” của tổ chức Hồng Thiện Phật Học ở tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc [2], tác giả nói rằng chữ “nghiệp” đã xuất hiện trong cổ văn Trung Hoa và lúc bấy giờ chữ “nghiệp” được hình thành bởi hai chữ “tân辛” và “hoả火” xếp chồng lên nhau. Chữ “tân辛” thời bây giờ có nghĩa là khổ hoặc là một trong mười Thiên can. Chữ “hoả 火” bây giờ có nghĩa là lửa nhưng vào thời cổ của nước Trung Hoa thì “tân辛” là hình phạt bị đánh đòn và  “hoả 火” là hình phạt bị thiêu đốt. Tác giả bài viết trên nói rằng chữ “nghiệp” trong cổ văn Trung Hoa dùng để nói về hai hình phạt bị đánh đòn và bị chết cháy dành cho những người nô lệ. Trong lịch sử Trung Hoa, chế độ nô lệ đã được Vũ Vương nhà Tây Châu thiết lập sau khi đã giết vua Trụ nhà Thương, tức là khoảng 1100 năm trước tây lịch. Chế độ này chỉ chấm dứt và được thay thế bằng chế độ phong kiến khi nhà Châu dời đô sang phía đông.  Cũng theo tác giả bài viết trên thì trong quyển tự điển “Thuyết Văn Giải Từ 说文解字”, chữ “nghiệp” còn có nghĩa là cái mặt bàn của cái giá để nhạc khí. Mặt bàn này được xếp bằng nhiều thanh gỗ gồ ghề và có hình răng cưa. Mục đích để các nhạc công đặt chuông và trống khi chơi nhạc.  Quyển tự điển “Thuyết Văn Giải Từ” do Hứa Thận soạn vào thời nhà Hán vào thế kỷ thứ hai sau tây lịch. Còn những ý nghĩa khác của chữ “nghiệp” thì chúng ta chưa được biết những ý nghĩa này xuất hiện vào thời điểm nào. Nhưng chỉ cần biết thời điểm đầu tiên của chữ “nghiệp, chúng ta có thể nói chữ “nghiệp” đã xuất hiện rất lâu trong xã hội của người Trung Hoa trước khi có đạo Phật tại đây. Phật Giáo chính thức du nhập sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ hai sau tây lịch. Trước đó xã hội Trung Hoa chịu nhiều ảnh hưởng từ Khổng Giáo và Lão Giáo cũng như các tín ngưỡng địa phương khác. Khổng giáo chủ trương sống đời hiện tại và cho rằng mọi sự vật trong vũ trụ đều do sự hài hoà của Âm và Dương. Trong quyển “Nho Giáo” của học giả Trần Trọng Kim, tác giả có nói rằng vạn vật sinh sinh, hoá hoá, biến đổi không ngừng và sau khi bị diệt thì phần vật chất tan biến còn phần hồn (tác giả gọi là cái tinh anh, cái linh khí) thì bay trở lại Trời và sẽ trở lại sự vật khi lại có sự hài hoà của âm và dương. Chết không phải là hết, tức có sự tái sinh. Khổng Giáo tin mọi sự do Trời định nhưng chúng ta không hiểu rõ Trời dựa trên căn bản nào để định số mệnh của mỗi sự vật. Lão Giáo đề cao thuyết “Vô Vi”, hành xử đi theo cái lẽ tự nhiên của vũ trụ. Lão Giáo cũng nói đến một hình thức giống như “karma”, dưới hình thức thưởng phạt của Trời : “Kẻ nào làm bậy thì đạo trời sẽ không tha (lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt » ; « Có đấng “ti sát” (tức đạo trời) chuyên lo việc giết, nếu vua chúa thay đấng ti sát mà giết dân thì cũng như thay thợ đẽo. Thay thợ đẽo thì ít khi không đứt tay. » [6] ; “Đạo trời không tư vị ai, chỉ gia ân cho người có đức » [7]. Thế thì thời cổ xưa, người Trung Hoa gọi « Thiên mệnh » của Khổng giáo và sự « thưởng phạt của Đạo Trời » là gì ?

Paris 01/06/2021

Phạm văn Vĩnh

Ghi chú:

[1] Phúc Âm Thánh Mát Thêu, đoạn 26, câu 52.

[2] Theo bài giảng “Tam nghiệp Thân Khẩu Ý là gì” của tổ chức Hồng Thiện Phật Học ở tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc : https://m.liaotuo.com/foxue/changshi/175216.html

[3] Tự điển LEROBERT tiếng Pháp – Karma: Dogme central de l’hindouisme, du bouddhisme, selon lequel la destinée d’un être vivant et conscient est déterminée par la totalité de ses actions passées, de ses vies antérieures. https://dictionnaire.lerobert.com/definition/karma

[4] Tự điển LAROUSSE tiếng Pháp – Karma: Principe fondamental reconnu par les trois grandes religions indiennes et reposant sur la conception de la vie humaine comme maillon d’une chaîne de vies (samsara), chaque vie particulière étant déterminée par les actions de la personne dans la vie précédente. https://www.larousse.fr/dictionnaires/francais/karma/45365

[5] Tự điển OXFORD tiếng Anh – Karma: (in Buddhism and Hinduism) the sum of someone’s good and bad actions in one of their lives, believed to decide what will happen to them in the next life. https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/american_english/karma

[6] Những câu nói này ở chương 73 và 74  trong Đạo Đức Kinh do học giả Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt.

[7] Câu nói này ở chương 79 trong Đạo Đức Kinh do học giả Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s