Trần Viết Điền – VỀ NHỮNG MỘ XIỀNG THỜI CÁC VUA NGUYỄN

             

                   Thời các vua Nguyễn, có một số nhân vật  dù đã qua đời, thân nhân đã an táng với mộ phần đàng hoàng, nếu triều đình truy xét  tội trạng, kết án nặng thì  nấm mộ của tội nhân bị  san phẳng, bị xiềng  bằng sợi xích sắt hoặc sợi xích hay sợi thừng đắp bằng vữa. Lại có  những người phạm  trọng án như phản nghịch, khi quân,… bị triều đình bức tử, thân nhân bí mật mai táng, khi chính quyền phát hiện thì  cũng bị xiềng mộ như trên. Biểu tượng sợi xích sắt hay sợi thừng quấn ở mộ  là để chứng tỏ chủ nhân ngôi mộ bị cầm tù, sâu xa là khiến cho linh  hồn tội nhân không thể đầu thai kiếp khác. Một điều rất lạ là những tội  nhân có mộ bị xiềng trong thực tế nhưng các sử quan không chép việc triều đình xiềng mộ. Dẫu rằng loại mộ xiềng  phát hiện không nhiều nhưng một số mộ xiềng đã được các nhà nghiên cứu như Bảo Thy, Lưu Anh Rô, …từng  công bố trên thông tin đại chúng, là những tư liệu quí, rất cần trong nghiên cứu sử học. 

               Sau đây là một số mộ bị xiềng, chủ nhân là  những nhân vật lịch sử nổi tiếng nhưng là những phản thần, nghịch thần,…của triều Nguyễn.

 Mộ bị xiềng ở Tiền Giang:

            Theo báo ANTG (6/2013) ở xã Long Khánh (Cai Lậy, Tiềng Giang) có hai ngôi mộ cổ từng bị vua Gia Long ra lệnh xiềng. Hai ngôi mộ cổ thuộc loại song phần,  nấm có  hình dáng như hai con voi được đắp bằng vữa “ô đước” bền chắc. Mỗi ngôi có bia mặt tiền. Nhờ trên bia có khắc chữ Hán nên biết chủ nhân gồm hai vợ chồng, cụ ông mất  tháng 10 năm Kỷ Hợi [tháng 11 năm 1779] và hai người con trai là Lê Phước Tánh (tục gọi Cậu Gương] và Lê Phước Khỏa (tục gọi Cậu Sen) đã phụng lập bia. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tường dựa vào nhiều nguồn tư liệu, đã xử lý, thì chủ nhân một ngôi mộ là cụ Lê Phước Tang, thân phụ của hai ông Tánh, Khỏa. Ông Lê Phước Tang là trại chủ ở vùng đất khẩn hoang theo chủ trương các chúa Nguyễn. Ông Tường nhận định, gia đình Lê Phước bị trị tội là do cậu Gương và cậu Sen cộng tác với nhà Tây Sơn. Vào năm 1785, quân Tây Sơn làm chủ được nhiều làng dọc theo sông Ba Rài sau chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Rất có thể hai con trai của ông Tang đã hỗ trợ, cung cấp nhân lực, tài lực cho quân Tây Sơn. Khi Nguyễn vương  phục quốc, lên ngôi hoàng đế niên hiệu  Gia Long, đã kết tội hai ông Tánh, Khỏa, tịch thu gia sản và mộ của cha mẹ hai ông bị đánh roi và  bị xiềng. Nhìn trên ảnh chụp từ phía sau, có thể thấy hình đắp nổi một “sợi xích” hoặc “sợi thừng” quấn trên cổ voi, lưng voi…

                     Mộ xiềng ở Tiền Giang (ng. ANTG)   

                 Dân xã Long Khánh truyền ức những đồn đoán về nguyên nhân mộ vợ chồng ông Lê Phước Tang bị xiềng, có nội dung không đúng và nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tường đã gạt bỏ sau khi đã xử lý.Tuy nhiên, nếu hai người con vì cộng tác với Tây Sơn thì vua Gia Long không đến nổi xử nặng như thế. Có khả năng, ban đầu gia đình ông Lê Phước Tang có thể phò  Nguyễn vương, vì ông Lê Phước Tang là trại chủ thời khẩn hoang, được giao trọng trách nhưng gia đình này không trọn vẹn với Nguyễn vương. Hai người con trai lại hăng hái giúp  Tây Sơn, trong trận Rạch Gầm-Xoài Mút nên bị ghép tội phản nghịch, khi ấy mộ cha mẹ của hai ông mới bị xiềng.

Mộ Tiền quân Nguyễn Văn Thành từng bị xiềng:

                Lăng mộ Tiền Quân Nguyễn Văn Thành ban sơ được táng ở ngọn đồi xứ Khê Lương, làng Dã Lê, huyện Hương Thủy. Năm Quí Mùi [2003] hậu duệ của ông đã cải táng hài cốt ông về nghĩa trang xứ Bòng, xã Thủy Phương, cách nơi nguyên táng khoảng 1km. Lăng mộ mới có diện tích năm mươi mét vuông, bao gồm bốn cột trụ biểu. Bình phong tiền  lồng bia, ghi “Việt Cố Khâm Sai Chưởng Trung Quân Bình Tây Đại tướng Quân Thành Quận Công Chi Mộ“. Bình phong hậu lồng bia, ghi tóm tắt tiểu sử công trạng cùng tên tuổi gia quyến của Tiền Quân.  Trong quá trình cải táng khi đào xuống 1 mét đã phát hiện 2 bia đá Thanh cao khoảng 1,2 m, rộng 0,4 mét khắc bằng chữ Hán được lập năm 1817. Dân  sở tại còn cho biết khi đào còn phát hiện một sợi xích sắt đã hoen rỉ.Có khả năng sợi xích này vua Nguyễn  từng dùng để xiềng mộ ban sơ của Tiền quân.

                                         Mộ Tiền quân Nguyễn Văn Thành (ng. G)

             Người  con trai Nguyễn Văn Thuyên của Tiền quân làm thơ ngông, bị triều thần lấy cớ ghép tội phản nghịch là nguyên nhân gần. Nguyên nhân sâu xa là do Tiền quân  vì quá “thân” với vua Gia Long, khi tâu với vua ông ít giữ ý tứ, làm vua phật lòng; nhất là ông luôn chủ trương người kế vị vua Gia Long phải thuộc  dòng chánh (dòng hoàng tử Cảnh), mích lòng nhiều đồng liêu, nhất là có tị hiềm với Tả quân Lê Văn Duyệt! Hơn nữa  vua Gia Long đã ngờ ông khi ông an táng thân mẫu của ông nơi có địa cát phát đế vương. 

               Tháng giêng năm Canh Ngọ [1810] thân mẫu Nguyễn Văn Thành mất, ông dâng sớ xin đưa linh cửu mẹ  về táng ở quê nhà Bác Vọng, vua chấp thuận. Nhưng tháng ba năm ấy, từ Bắc thành về kinh đô, ông vào bái yết nhà vua, lại xin  đưa thân mẫu về táng ở Bình Hoà ( nay là Ninh Hòa , Phú Yên ). Vua Gia Long ngăn lại: “Cáo chết quay đầu về núi là việc lễ đó. Làng Bác Vọng, phủ Triệu Phong là tổ quán của khanh, sao không táng ở đó ?(1). Nguyễn Văn Thành lạy tạ xin vâng mệnh. Thế nhưng, bất chấp lời răn của vua, ông tìm được huyệt đất tốt trên vùng gò thấp có khe Châu Ê, phía đông núi Kim Sơn ( dân gian gọi là Rú Vựa và có khi gọi là Núi Nhọn) và táng thân mẫu ông ở đó. Việc làm này  trái ý vua và  triều thần thêm ngờ vực ông. Sử chép, sau khi bà Hiếu Khang mất, vua Gia Long “Lấy Tống Phước Lương và Lê Quang Định sung sơn lăng sứ, sai cùng Trịnh Hiến và Lê Duy Thanh , xem chọn kiểu đất đẹp cho sơn lăng. Duy Thanh vẽ đồ dâng (thuộc xã Định Môn ). Sai bói thì tốt. Vua bèn đến xem” (2). Khoảng tháng 3 năm 1812 ( Nhâm Thân ) vua Gia Long lên công trường xây dựng sơn lăng để thăm, có Hoàng Tư Nguyễn Phúc Đảm (về sau là vua Minh Mạng) và các đại thần theo hầu . “Khi khai huyệt thấy có đất ngũ sắc vua Gia Long mừng được điềm tốt. Bầy tôi chúc mừng vua, chỉ riêng ông Nguyễn Văn Thành im lặng. Vua hỏi duyên cớ vì sao có thái độ như thế ? Thành vội tâu: “Đất ấy chưa đủ tốt lắm . Mộ mẹ thần cũng có đất ngũ sắc, mà sắc coi còn tươi nhuần, có thể tốt hơn đất này”(3). Nhà vua im lặng và các vị đại thần khác tỏ ý bất bình. Nguyễn Văn Thành tiếp lời : “Gần đây, xứ Châu Ê, có một kiểu đất rất tốt”. Phạm Văn Nhân và các bầy tôi khác đều hỏi : “ Đã biết có đất tốt sao không tâu cho vua nghe”(4). Nguyễn Văn Thành chống chế : “Đất ấy tuy tốt nhưng không thể táng được, táng đấy hẳn lại bị sét đánh”. Nhà vua nghe Thành nói thì đổi sắc mặt. Hoàng tử Đảm quay lại trách cứ Nguyễn Văn Thành :“Tây Sơn là bọn tiếm ngụy, tất gặp vạ sét đánh, còn nay đời thánh minh, được trời giúp đỡ.Đứng trước mặt vua sao ông vội nói những câu như thế ?”(5). Cuộc đối thoại vừa nêu khiến hậu thế băn khoăn: Phải chăng ở vùng núi Châu Ê –Kim Sơn có lăng mộ của triều Tây Sơn và đã từng bị “vạ trời đánh”? Sách Tây Sơn thực lục chép mộ Chính cung hoàng hậu của vua Quang Trung ở Kim Sơn là một tín hiệu không thể bỏ qua.

 Mộ Tả quân Lê Văn Duyệt từng bị xiềng.

              Lăng mộ Tả quân Lê Văn Duyệt dân gian gọi là Lăng Ông Bà Chiểu,  rộng 18.500  trên một gò đất cao nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên HoàngPhan Đăng LưuTrịnh Hoài Đức và Vũ Tùng ở TP Hồ Chí Minh. Chính sử chép ngôi mộ từng bị san phẳng, dựng bia ghi chủ nhân chịu tội. Dã sử lại chép ngôi mộ từng bị xiềng.

             Tả quân Lê Văn Duyệt là bậc khai quốc công thần của triều Nguyễn. Ngoài những tước hiệu được vua ban, Lê Văn Duyệt được người dân Nam bộ tôn xưng  Đức Thượng Công hoặc ông Lớn Thượng.Tả quân Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng trấn Gia Định thành hai giai đoạn, một từ năm 1813 đến 1816 và hai từ năm 1820 cho đến lúc ông qua đời năm 1832. Với tài kinh bang tế thế, ông đã tạo cho vùng đất Gia Định, trải dài từ Bình Thuận  đến Cà Mau, Hà tiên phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội, văn hóa và quân sự .

                  Khi phò Nguyễn vương ông lập được nhiều quân công nhưng vua Gia Long vẫn xếp ông vào hạng “dũng tướng” chứ không phải “phúc tướng”  như Nguyễn Văn Trương. Thực vậy những trận ông tham gia thường thắng lớn  nhưng tổn thất đại tướng, rất nhiều binh lính thương vong. Đặc biệt Tả quân Lê Văn Duyệt rất có tài tâm lý chiến. Để động viên tinh thần quân sĩ, khi gặp trở lực như đoàn thú dữ chận đường, hay có cọp dữ gần nơi đóng quân…ông thường tìm miếu thần cầu đảo nhưng  ngầm cho kỳ binh khuất phục thú dữ rồi  phao đồn thần thánh luôn trợ giúp ông, vì thế binh tướng dưới quyền ông phấn chấn đánh giặc. Trong vụ án Nguyễn Văn Thành, chỉ do “mật báo” Nguyễn Văn Thuyên làm thơ ngông mà ông sớm báo cho nhà vua, vua giao ông điều tra, ông  đã “làm án” rất mờ ám, hậu quả đồng liêu bức xúc phải uống thuốc độc. Khi Tả quân đã qua đời, các đồng liêu vốn ghét ông đã tâu vua Minh Mạng truy xét tội ông, khiến con nuôi Lê Văn Khôi phải làm phản vào năm 1835. Vụ này khiến Tả quân dù mất  đã lâu, vẫn bị xử tội. Sau khi các quan đại thần dâng biểu nghị án, vua Minh Mạng ra chỉ dụ:“Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bổ quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu, và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả không bõ gia hình. Vậy cho Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn, san làm đất phẳng và khắc đá dựng bia ở trên khắc những chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử”, để chính tội danh cho kẻ đã chết mà tỏ phép nước về đời sau, làm gương cho kẻ quyền gian muôn đời“.

                  Chính  sử không chép mộ  Tả quân bị  xiềng nhưng dã sử lại chép. Chánh thất phu nhân của Ngài là bà Đỗ Thị Phẩn không bị kết tội. Sau ngày Tả quân qua đời, bà đã vào tu trong một ngôi chùa rồi mất ở đó. Thi hài bà được người thân  an  táng bên cạnh mộ Tả quân. Tự Đức nguyên niên[1848], Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần. Vua Tự Đức xem sớ cảm động chỉ dụ giải oan cho Tả quân và trả lại tước vị, phẩm hàm ngày trước đã ban cho ông, song thân của ông… 

             

                              Mộ Tả quân và chính thất phu nhân (ng. G)

Mộ Quận công Lê Chất bị xiềng:

             Mộ  Quận công Lê Chất ở khoảng giữa đường từ Phủ toàn quyền  đến đền  Quan Thánh, nay là ngã ba đường Độc lập và đường Hoàng Văn Thụ. Khi toàn quyền Pháp cho đào đất để trồng trụ điện thì tình cờ phát hiện hài cốt của Lê Chất, trong lớp áo mũ cân đai còn nguyên vẹn. Bấy giờ người ta cải táng gần vườn Bách thú Hà Nội. Trước năm 1945, Phan Khôi từng viếng mộ này và cảm tác bài  thơ “Viếng mộ Lê Chất”.Mộ nơi nguyên táng Quận công  Lê Chất ở huyện Phù Mỹ, Bình Định, từng bị cào bằng, có dựng bia “Lê Chất phục pháp xứ” và có khả năng từng bị xiềng bằng xích sắt.

 Ảnh chụp vệ tinh khu vực từng phát hiện hài cốt của Quận công Lê Chất

                Quận công  Lê Chất còn có tên  là Lê Văn Chất hoặc Lê Tôn Chất, quê huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ban đầu ông là đô đốc Tây Sơn, dưới trướng Tư Lệ Lê Trung (nhạc gia của  ông). Năm Mậu Ngọ 1798, nhà Tây Sơn, có nội biến, Lê Trung bị giết vì bị tình nghi phản bội. Ông bỏ trốn ít lâu, rồi về hàng Nguyễn Ánh. Ông có tài quân sự và lập nhiều quân công. Năm Tân Dậu 1801, được phong tước Quận Công. Năm Nhâm Tuất 1802, làm Khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân, cùng bộ binh ra Bắc thanh toán Tây Sơn.  Quý Hợi 1803, ông cùng Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm trông coi việc xây dựng kinh thành Huế.Năm Canh Ngọ 1810, ông làm Hiệp Tổng trấn Bắc thành, cùng với Phó trấn là Nguyễn Huỳnh Đức, Tham hiệp Tổng trấn Phạm Như Đăng cai trị Bắc hà. Đến Mậu Dần 1818, ông lên làm Tổng trấn Bắc thành.Năm Bính Tuất 1826, về thọ tang mẹ ở Phù Mỹ, bệnh cũ tái phát, ông qua đời lúc 57 tuổi, được truy tặng Thiếu phó, thụy là Trung Nghị. Cũng như Tả quân Lê Văn Duyệt, ông không được lòng các đồng liêu xuất thân nho sĩ. Hơn nữa những bản tấu của ông lên vua Minh Mạng có khi chưa đúng phép.Khá tâm đầu ý hợp với Tả quân Lê Văn Duyệt nên các đồng liêu dễ thêu dệt tội của ông. Ông từng   lạm dụng phương tiện công để làm việc riêng, nhận hối lộ… Mười năm sau khi ông mất (Bính Thân 1836), có quan Lê Bá Tú dâng sớ truy hặc ông về 16 tội! Vua Minh Mạng phán quyết, sai Tổng đốc Bình Phú là Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ ông rồi khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ: “Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp”.Mãi đến năm Mậu Thân 1868, vua Tự Đức mới truy phục tước và chức vụ cũ cho ông. Có khả năng hậu duệ của ông đã cải táng mộ ông  ra Thăng Long. Trong một chuyến điền dã ở Dương Xuân Thượng, Thừa Thiên Huế, chúng tôi được biết khi ông bị tội, mộ nhạc gia Lê  Trung của ông cũng bị san phẳng nấm, mộ bị xiềng bằng xích sắt. Vậy mộ Quận công Lê Chất  ban đầu ở Phù Mỹ, Bình Định  cũng bị xiềng.

Mộ Khâm sai Nguyễn Hữu Lịch bị xiềng.

            Ở Hố Quốc, làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng (nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) có mộ của Khâm sai Nguyễn Hữu Lịch và phu nhân. Trước năm 1945, ngôi mộ quan Khâm sai từng bị xiềng bằng xích sắt. Sau năm 1945, chính quyền Việt Minh đã cử cán bộ đến Hố Quốc làm lễ phá bỏ xích xiềng và tạo điều kiện hậu duệ tôn tạo mộ của Khâm sai.

             Khâm sai Đại thần Thanh – Nghệ – Tĩnh Nguyễn Hữu Lịch (1840 – 1887) người làng Khê Lâm. Thân phụ của ông là Nguyễn Hữu  Thành.Ông nội của ông  là Nguyễn Hữu Sao, gốc làng Thanh Quýt, Điện Bàn Quảng Nam, từng được sắc phong Tiền hiền làng Khê Lâm. Tuổi trẻ ông rất ham học, ra kinh ứng thí và đỗ cử nhân, từng giữ chức Lang trung, dưới trướng Thượng thư Tôn Thất Thuyết.  Hiệp ước Pa-tơ-nốt có điều khoản trả lại 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh cho Trung Kỳ. Nhân đó, Thượng thư Tôn Thất Thuyết tiến cử Lang trung Nguyễn Hữu Lịch làm Khâm sai Thanh – Nghệ – Tĩnh sung Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, ông đã cùng Phan Đình Phùng, Cao Thắng tổ chức căn cứ Ngàn Trươi, phất cờ khởi nghĩa ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Thất bại, ông bị triều đình Huế kết tội âm mưu làm loạn và tuyên “tam ban triều điển”, ông chọn thanh gươm để giữ vẹn khí tiết. Sau khi mất, thân cận của ông đã táng ông ở Thanh Hóa, cẩn thận đánh dấu phần mộ,  năm sau đưa con trai Nguyễn Hữu Sinh của ông từ Quảng Nam ra nhận mộ. Đến thời vua Thành Thái, khi các cuộc khởi nghĩa của Phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh chấm dứt, con cháu ông mới bí mật bốc mộ đưa hài cốt về Khê Lâm. Mộ ông ở quê nhà chỉ là mộ đất không dựng bia để giữ bí mật.  Việc bại lộ, triều đình Huế  lệnh chính quyền sở tại mang xích sắt và tập hợp hương hào, tổng lý kéo đến xiềng mộ ông Khâm sai.

.

                     

                 Mộ vợ chồng Khâm sai Nguyễn Hữu Lịch (ng.G)

Mộ chiến tướng Hồ Học bị xiềng.

              Ở nghĩa trang xã Hòa Liên, Hòa Vang, Đà Nẵng hiện có mộ của chiến tướng Hồ Học [1850-1887].Nhân dân tôn xưng ông là Thống Hay, một chiến tướng kiệt hiệt trong phong trào cần vương. Ngôi mộ ban sơ  của Hồ Học được táng ở làng Vân Dương và từng bị xiềng. 

            Khi Nguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư, …ứng nghĩa cần vương, lập Nghĩa hội Quảng Nam, Hồ Học hăng hái tham gia, có tài dụng binh, được Nghĩa hội giao thống lãnh địa bàn đông bắc Hòa Vang. Ông sớm được vua Hàm Nghi bí mật phong chức Lãnh binh cùng với lời huấn thị: “Tả hữu bình Tây, tiền trảm hậu tấu”. Nhưng với triều Đồng Khánh thì ông bị khép tội “phản nghịch”, nên triều đình lệnh chính quyền sở tại, xiềng mộ ông ở làng Vân Dương, bằng một sợi xích sắt.  Đến năm 1945, chính quyền Việt Minh mới làm lễ phá  xiềng ở mộ của ông.

                     Mộ chiến tướng Hồ Học (cải táng) (ng.G)

           Hồ Học là chiến tướng dũng cảm và túc trí đa mưu. Ông chỉ huy nghĩa quân, nhiều trận  làm thực dân Pháp điêu đứng. Chính Hồ Học đã chỉ huy nghĩa quân tấn công tiêu diệt tên đại úy Besson và nhóm lính do hắn cầm đầu tại trạm Nam Chơn, dưới chân đèo Hải Vân vào ngày1-3-1886. Thế rồi, thực dân Pháp mua chuộc được người hầu thân cận của Hồ Học và phục rượu cho ông say để bắt.. Khi tên phản bội dẫn Pháp đến, Hồ Học trở tay không kịp nên bị bắt, họ khiêng về Ty Niết ở Hội An. Nghe tin bắt được ông, một tên quan ba Pháp từ Hà Nội, lập tức vào Hội An để đích thân tra khảo. Tên này  gọi ông là “đồ giặc rừng”, liền bị Hồ Học vớ chiếc ghế đang ngồi ném mạnh vào mặt y. Hai  tên cận vệ đứng gần đó tức thời bắn chết ông. Bọn Pháp cắt thủ cấp  ông, đặt vào giỏ tre để “bêu đầu thị chúng” tại làng Lai Nghi (gần Hội An).Mười ngày sau, người thân ở làng Thanh Quýt lén lấy thủ cấp  của ông  đưa về làng Vân Dương bí mật mai táng. Về sau mộ ông bị phát giác và cũng bị triều đình vua Đồng Khánh xiềng bằng xích sắt.

     Thay lời kết: Lăng Ba Vành là một ngôi mộ bị xiềng.

        Lăng Ba Vành trước đây được các nhà nghiên cứu khẳng định có chủ nhân là Hộ Bộ kiêm Binh bộ Ý Đức Hầu Lê Quang Đại. Chúng tôi đã có đủ bằng chứng những cứ liệu mà các nhà nghiên cứu Bửu Kế, Phan Thuận An. Đỗ Bang, Trần Đại Vinh, Nguyễn Đắc Xuân đã dùng, để kết luận nêu trên,  là những cứ liệu giả. Một hội thảo do UBND thành phố Huế tổ chức đã kết luận: “Lăng Ba Vành hiện nay chưa có chủ nhân”.

 CCCChúng tôi đã chứng minh  Lăng Ba Vành có đầy đủ tiêu chí là lăng vua như lăng to, có cổng tam quan, có nhà bia tôn trí bia thờ, có bia to ghi năm phụng lập, có tân nguyệt trì, có đường toại đạo để đưa quan tài chủ nhân khi ninh lăng, đặc biệt có nhiều gạch bìa giống ở gò Viên Khâu của Tây Sơn…Nấm mai rùa, cù dậy, đầu bia, còn đủ ấn chứng của sự trị tội theo phép tả đao của triều Nguyễn. Triều đình đã khắc trên bia đã bị đục chữ 羅 (LA) (Lưới) theo nghĩa tóm được chủ nhân và khắc dòng chữ 壬 戌 孟 冬(NHÂM TUẤT MẠNH ĐÔNG) (Tháng 10 năm Nhâm Tuất)…Đặc biệt, lăng Ba Vành lại đồng đại, đồng kích cỡ với lăng Thủy Tiên mà chúng tôi chứng minh lăng này là lăng Chính cung hoàng hậu Phạm Thị Liên. Hai lăng có chung nhà hộ lăng (nay là nhà quản vụ vườn cam của Đan viện Thiên An)…

            Một  bằng chứng  chủ nhân lăng   Ba Vành bị triều Nguyễn  “tận pháp trừng trị” là nấm mộ mai rùa từng có đắp nổi một  sợi xích bằng vữa vôi. Sợi xích bằng vôi quấn trên nấm mai rùa vẫn còn tồn tại đến năm 1961, sau đó có người đã trảy sợi xích để xóa bằng chứng. Tuy nhiên kẻ gian không thể  xóa sạch dấu vết!. Các cụ Châu Mậu, Trần Phương ở Ngũ Tây, thời trẻ đi săn, vào lăng Ba Vành vẫn còn thấy vòng xích bằng đắp bằng vôi mật, vắt ngang trên nấm mai rùa. Các cụ đã làm chứng về việc này và đã làm đơn xác nhận có công chứng.

           Các cụ Trần Phương và Châu Mậu đứng bên  nấm mai rùa 

              ở lăng Ba Vành,còn dấu vết sợi xích đắp   bằng vữa vôi .        

 Đơn xin xác nhận, có công chứng, của cụ Châu Mậu và của cụ Trần Phương

                   Sử chép mộ vợ chồng vua Quang Trung ở nam sông Hương, từng bị tận pháp trừng trị như quật phá, bổ quan tài lấy thi thể (xác ướp) rồi đem bêu ở các chợ cho mọi người nhận diện, nhân đó thị uy… Ngô Thì Hoàng  viết bài  thơ “Vịnh sử”cho biết mộ vua Quang Trung ở “Ngọc Trản phong đầu” tức ở trên đồi  đất như cái bướu nhô ra từ núi Ngọc Trản (Hương Uyển). Lăng Ba Vành và lăng Thủy Tiên phù hợp những thông tin vừa nêu. Năm 1801, vua Gia Long  cử sứ thần qua Trung Hoa, dâng sớ tố cáo tội phúc diệt của An Nam quốc vương Nguyễn Quang Toản với triều đình vua Gia Khánh; rằng Nguyễn Quang Toản không theo điển lễ thiên triều trong việc tế Trời Đất, dung nạp và phong chức tước bọn giặc Tề Ngôi nhằm phá rối miền duyên hải Trung Hoa, tấu dối táng Nguyễn Huệ ở Thăng Long cho gần thiên triều nhưng thực sự táng ở Phú Xuân, bỏ ấn An Nam quốc vương, do thiên triều ban,  ở kinh thành Phú Xuân  để thoát ra Thăng Long… Bởi vậy khi vua Gia Long đã giữ lại gò Viên Khâu (Ba Tầng), đàn Phương Trạch sau lưng chùa Thiên Mụ để làm chứng tích tội ác của “Ngụy Tây”, hằng trăm năm vẫn còn dấu tích, thì lăng vua Quang Trung và Chính cung hoàng hậu ắt phải giữ lại một số cấu kiện, thao tác  những biểu tượng trị tội,  như xiềng mộ… Nếu phá tan thành bình địa Đan Dương lăng, như quan điểm của một số nhà nghiên cứu,  thì lấy đâu bằng  chứng về tội táng Nguyễn Huệ ở Phú Xuân của Nguyễn Quang Toản, khi sứ giả Thanh triều qua kinh đô Phú Xuân  tra vấn. Rất  mong các cơ quan hữu trách sớm tiến hành thao tác khảo cổ học ở đồi Thiên An (Huế), có lăng Ba Vành và lăng Thủy Tiên.

                                                                               Huế, 23-1-2021

                                                                                           Trần Viết Điền

Chú thích: (1): xem [1] phần Gia Long Canh Ngọ [1810], tháng giêng.

(2), (3), (4), (5): xem [1]phần Gia Long  Nhâm Mùi [1812], tháng ba.

 Tài liệu tham khảo : [1]: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, tập I, NXB Hà Nội 2001.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s