Phạm văn Vĩnh – Thử tìm hiểu về kế hoạch cứu trợ Mỹ năm 2021 (American Rescue Plan Act of 2021)

Phi lộ : Bài viết không có mục đích phê bình kế hoạch cứu trợ Mỹ năm 2021 (American Rescue Plan Act of 2021), mà chỉ mong tìm hiểu kế hoạch này dưới khía cạnh kinh tế học. Bài viết hoàn toàn không mang tính cách chính trị hay thiên lệch đảng phái.

Kế hoạch cứu trợ Mỹ năm 2021 là một kế hoạch hỗ trợ kinh tế với trị giá 1900 tỷ USD đã được Tổng Thống Mỹ, ông Joe Biden, ký ngày 11 tháng 3 năm 2021. Kế hoạch này có mục đích tăng tốc độ phục hồi hậu quả kinh tế và sức khoẻ  của Mỹ do đại dịch Covid-19 gây ra và cuộc suy thoái kinh tế đang diễn tiến.

Trong các biện pháp mà kế hoạch cứu trợ đề ra, có thể kể đến khoản tiền 400 tỷ USD để giúp các gia đình nghèo hoặc có lợi tức thấp dưới hình thức ngân phiếu yểm trợ cùng các khoản tín dụng thuế cho các gia đình có con nhỏ : mỗi người dân có thu hoạch thường niên dưới 80 ngàn USD sẽ được hưởng 1400 USD; Một gia đình hai vợ chồng có thu nhập hàng năm dưới 150 ngàn USD sẽ nhận được 2800 USD. 165 tỷ dành cho các trường học và vườn trẻ. 350 tỷ được phân phát đến các Tiểu Bang và các cộng đồng địa phương để quản lý đại dịch. 25 tỷ dành để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và 75 tỷ dành để chi tiêu cho việc tiêm chủng và xét nghiệm, v.v.

Kế hoạch cứu trợ cũng nới rộng ba chương trình bảo hiểm thất nghiệp đã được ban hành bới các đạo luật CARES (Coronavirus Aid, Relief, and Economic Security Act),  CAA (Consolidated Appropriations Act). Ba chương trình bảo hiểm đó là:

1. Chương trình PUA (Pandemic Unemployment Assistance) được gia hạn cho đến 6 tháng 9 năm 2021. Thời gian được hưởng được tăng lên từ 50 đến 79 tuần lễ.

2. Chương trình PEUC (Pandemic Emergency Unemployment Compensation) được gia hạn cho đến 6 tháng 9 năm 2021. Thời gian được hưởng được tăng lên từ 24 đến 53 tuần lễ.

3. Chương trình FPUC (The Federal Pandemic Unemployment Compensation) cũng được gia hạn cho đến 6 tháng 9 năm 2021.

Kế hoạch cứu trợ cũng miễn cho gia đình nào thu nhập dưới 150 ngàn USD khỏi phải khai 10200 tiền thất nghiệp đầu tiên vào bản khai thuế lợi tức 2020.

Với chương trình cứu trợ này, cộng thêm với kế hoạch cứu trợ 900 tỷ vào đầu năm sẽ làm thâm hụt công quỹ khoảng 18% GDP. Chi phí cho kế hoạch 1900 tỷ được tính ra tương đương với 9% GDP trong khi đó GDP của năm 2020 chỉ giảm ở mức độ 3,5 % so với năm 2019. Nợ liên bang mới đây đã vượt qua 100 % GDP và ước đoán sẽ đạt mức 109 % GDP vào năm 2021.

Đối với kế hoạch 1900 tỷ vừa qua, đã có rất nhiều phản ứng, thuận và chống, từ nhiều phía khác nhau. Nói một cách chung chung thì các phản ứng thuận cho rằng kế hoạch này sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ 2021 được ước tính ở khoảng từ 5 đến 6 % (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) và là đòn bẩy cho việc tăng trưởng kinh tế mau lẹ tại các quốc gia khác. Ngược lại, các phê bình chống thì cho rằng gói cứu trợ ban hành không đúng lúc và ngân khoản quá lớn so với số lượng cần thiết. Chi phí này sẽ làm ngân quỹ quốc gia thiếu hụt thêm và nhất là sẽ gây ra tình trạng lạm phát.

Điều đáng chú ý trong những phản ứng về kế hoạch này là phê bình của hai nhà kinh tế học rất nổi tiếng trên thế giới . Đó là hai kinh tế gia Paul Krugman và Lawrence Summers, cả hai đều thuộc đảng Dân Chủ. Ông Paul Krugman là giáo sư kinh tế đại học Mỹ, giải thưởng Nobel kinh tế và thường viết bình luận về kinh tế cho tờ báo New York Times. Người viết rất thích đọc sách kinh tế của ông Krugman vì lối viết văn của ông rất bình dị, dễ hiểu. Ông Lawrence Summers là giáo sư kinh tế đại học Mỹ, từng là bộ trưởng kinh tế dưới thời tổng thống Clinton và là cố vấn kinh tế cho tổng thống Obama.

Ông Lawrence Summers chống lại kế hoạch cứ trợ này qua bốn điểm sau đây:

1. Số tiền 1900 tỷ  USD xem ra “cực kỳ lớn” so với lượng sa sút GDP. Thực vậy, số tiền 1900 tỷ USD tính ra tương đương với 9% GDP trong khi đó GDP của năm 2020 chỉ giảm ở mức độ 3,5 %.

2. Kế hoạch cứu trợ đi quá xa đối với những nhu cần thiết để hỗ trợ các nạn nhân do nạn dịch Covid-19 gây ra.

3. Kế hoạch này có nguy cơ gây ra hậu quả (collision) có tính lạm phát  dưới một số hình thức – Nếu lạm phát xẩy ra, Ngân Hàng Trung Ương (FED) có thể vô tình gây ra suy thoái kinh tế (recession) bằng cách kiềm chế lạm phát bằng lãi suất cao hơn.

4. Số tiền đó, ngay cả nhiều hơn nữa, nên được dùng vào việc đầu tư công cộng dài hạn, điều mà TT Biden gọi là “trùng tu lại tốt hơn (building back better)”.  

Ông Paul Krugman đã phản bác lại các điểm của ông Summers như sau:

1. Kế hoạch của TT Biden là một kế hoạch cứu trợ (rescue) chứ không phải là một giải pháp kích thích (stimulus) kinh tế.  Ông Krugman cho rằng “kế hoạch này như một kế hoạch cứu trợ thiên tai hay kế hoạch chiến tranh. Khi Trân Châu Cảng bị tấn công, quý vị sẽ không tính khoảng cách sản lượng lớn như thế nào “.

2. Ông Krugman đã chia kế hoạch cứu trợ thành ba phần:

2.1. Chi tiêu để chích ngừa cho mọi người và giúp cho các trường học được an toàn là điều hợp lý.

2.2. Hỗ trợ người thất nghiệp cùng các tiểu bang, chính quyền địa phương là điều cần thiết.

2.3. Chi phiếu 14OO USD cho những người không bị ảnh hưởng vì Covid là điều không cần thiết nhưng lại là một phương diện (aspect) hợp lòng dân và sẽ giúp kế hoạch được Quốc Hội (Congress) thông qua.

3. Ông Krugman lập luận rằng kế hoạch này sẽ không kích thích quá mức nền kinh tế để gây ra lạm phát vì phần nhiều số tiền 1400 USD sẽ được người dân bỏ vào quỹ tiết kiệm. Và nếu đại dịch Covid chóng qua thì số tiền viện trợ cho các tiểu bang và chính quyền địa phương cũng sẽ được để dành vào quỹ “tích cốc phòng cơ,  tích y phòng hàn (rainy day funds). Về điểm này, người viết xin có một nhận định cá nhân là nếu đi vay tiền trả lãi để tiết kiệm thì không phải là một biện pháp hữu ích.

Trên đây là phần nghiên cứu có liên quan đến kế hoạch cứu trợ Mỹ năm 2021. Phần sau đây giải thích thế nào là lạm phát và làm thế nào để chống lạm phát.

Lý do để ông Lawrence Summers sợ nền kinh tế sẽ bị lạm phát có thể giải thích như sau : Với khối lượng tiền khổng lồ gồm 1900 tỷ USD, lượng tiêu thụ hàng hoá sẽ tăng gấp bội. Điều này sẽ gây ra tình trạng thị trường bị khan hiếm hàng hoá. Lúc bấy giờ giá cả sẽ tăng vọt. Các xí nghiệp, do yêu cầu tiêu dùng cao, sẽ phải tăng gia sản xuất. Việc tăng gia sản xuất sẽ cần tới nhiều nguyên liệu và nhiều người làm việc. Giá hàng nguyên liệu vì thế sẽ lên cao. Người đi làm sẽ có quyền lựa chọn hảng xưởng và để giữ người làm việc, hãng xưởng bắt buộc phải tăng lương. Tất cả các khoản gia tăng này sẽ được tính vào giá hàng hoá mà người tiêu dùng phải trả. Khi đời sống đắt đỏ, tiền bị mất giá sẽ đưa đến lạm phát.

Lạm phát có nghĩa đồng tiền bị mất giá, mãi lực (purchasing power) bị giảm sút.  Tuy nhiên nếu không có lạm phát, sẽ không có tăng trưởng cao. Lạm phát lý tưởng ở vào khoảng 2% mỗi năm. Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát :

1. Để hỗ trợ xuất cảng hoặc thúc đẩy tiêu thụ, ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất cơ bản xuống. Hạ lãi suất không phải chỉ ra thông cáo mà ngân hàng trung ương phải làm thế nào để lượng tiền quốc gia hiện hữu nhiều hơn trên thị trường. Kết quả là tiền mất giá so với các ngoại tệ khác. Giá hàng hoá xuất cảng vì thế sẽ giảm giá so với đồng ngoại tệ. Trong nước lãi suất của các ngân hàng thương mại cũng giảm xuống theo và người tiêu thụ hoặc xí nghiệp có thể mượn tiền dễ dàng hơn. Tuy nhiên biện pháp tiền tệ này sẽ có một hậu quả không tốt là các nhà đầu tư ngoại quốc sẽ mang tiền đi đầu tư tại các nước khác có lãi suất cao hơn. 

2. Nếu giá cả hàng nhập cảng tăng hoặc đồng lương tăng thì giá thành sản xuất trong nước cũng tăng. Khi giá cả tăng, khả năng mua sắm (purchasing power) giảm thiểu và đồng tiền bị mất giá.

3. Trong trường hợp đầu cơ tích trữ hoặc hàng hoá bán chạy quá mà sản xuất không theo kịp (cầu nhiều hơn cung) thì giá hàng hoá sẽ tăng vọt. Kết quả là khả năng mua sắm (purchasing power) giảm thiểu và đồng tiền bị mất giá.

Kết quả của lạm phát là giá cả hàng hoá bị tăng. Ngày nay tiền tệ đều được thả nổi trên thị trường tiền tệ nên cách duy nhất để biết đồng tiền có bị lạm phát hay không, người ta căn cứ vào sự tăng giảm giá hàng hoá trong một khoảng thời gian: tam cá nguyệt,  lục cá nguyệt, một năm.

Nếu lạm phát quá cao, ngân hàng trung ương có thể ban hành một biện pháp tăng lãi suất cơ bản lên cao, tức là tìm cách thu tiền lại cất vào ngân khố. Đồng tiền trên thị trường sẽ hiếm đi nên tiền có giá hơn và lãi suất sẽ tăng theo. Nhưng giá hàng hoá có xuống hay không và đồng lương có giảm hay không thì còn tuỳ vào nhiều yếu tố khác.

Paris, 15/03/2021

Phạm văn Vĩnh

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s