Trần Thị Nhật Hưng – Chân Trời Xanh

Hồ Bodensee tiếp giáp ba nước Áo, Đức, Thụy Sĩ vẫn còn đó, nhà Thi Thi ( Thi Thi Hồng Ngọc ) vẫn còn kia, trái đất tròn vẫn luôn tròn không méo, cho nên, chúng tôi hẹn gặp lại nhau không khó. Chỉ khó chăng tại lòng người như Cụ Nguyễn Bá Học từng phán: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi , mà khó vì lòng người ngại núi e sông„.Vâng, đúng vậy, tôi đã lừng khừng nửa muốn nửa không, ngán ngẫm khi nghĩ phải lủi thủi kéo valy một mình dù đoạn đường không dài, chỉ hai tiếng xe lửa từ nhà tôi qua Thi Thi rồi đến tu viện Viên Đức.

Nhưng viễn cảnh được gặp lại chị Doãn, Hoa Lan, Thi Thi (tam trong bảy cây viết nữ báo Viên Giác) rồi sau đó cùng nhau tham dự khóa tu học, một công hai chuyện, lại nữa khi trở về, có Thi Thi và Hoa Lan tháp tùng theo tôi thăm Thụy Sĩ, tôi không phải đơn độc, khiến tôi quyết định…chịu khó lên đường!

Trước khi đi, Thi Thi dặn: “Cô Hưng ơi, đừng mang gì nhiều. Chỉ mang hai cái chảo qua đây đúc bánh cuốn, bà con đang thèm bánh cuốn lắm rồi. Mang mấy cái mền nào mà cô nói muốn cho Thi Thi đó. Mang luôn mười cái bánh cam cô đã làm sẵn qua đây chiên …mang…mang…mang…!“. Trời, đừng mang gì nhiều, chỉ…bí nhiêu thôi, tôi đã phải điên đầu cân nhắc sắp soạn hành lý sao cho được việc người mà chẳng được việc mình để khi hữu sự vì thiếu quần áo, tôi đã phải mặc bính quần áo Hoa Lan, đầu gà chân vịt trông chả giống con giáp nào. Đúng là già đầu mà còn bị con nít Thi Thi …phĩnh !

Thi Thi còn dụ tôi, sẽ có chị Loan (bà chủ tiệm của Thi Thi ) phụ tôi đúc bánh cuốn nữa. Một người tại nhà bếp nhà hàng, một người tại nhà bếp của chị Loan. Nhưng khi hành sự, chả thấy chị Loan đâu cả. Chị Loan đang bận lo con nhỏ. Thi Thi đẩy tôi vào… địa ngục trần gian, tôi rơi tỏm như tiên bị đọa.Vừa bước vào nhà bếp

(bếp nhà hàng Tàu, mặc dù tiệm ăn Việt) hơi nóng như cái hỏa lò từ một chảo dầu to, hơi nóng từ các bếp gaz đang hoạt động khiến tôi dội ngược. Không một hơi gió, cánh quạt, hay cửa sổ thông hơi nào. Ngoài trời lại đang 30 độ C, mồ hôi tôi rịn ra. Tôi hỏi Thi Thi: “Bếp nào và chỗ nào để đúc bánh cuốn đây?“,Chỗ này nè “.Trời, tôi muốn xỉu! (Thi Thi chỉ cái bếp gaz sát chảo dầu nóng, bên cạnh chỉ có một khoảng nhỏ rất khiêm nhường, không sáng sủa, vừa đủ cho một cái dĩa cuốn bánh cuốn). Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát hãy cứu con! Văng vẳng bên tai tôi, tôi nghe rõ lời nguyện của Ngài: „ Khi nào dưới địa ngục không còn người, ta mới chịu thành Phật. Nhưng, Nhật Hưng con hỡi, nghiệp chướng con quá, quá dày, con hãy ở tạm đây đúc bánh cuốn trong vòng hai tiếng đồng hồ, trả xong nghiệp, ta mới cứu con được“. Đến nước này, tôi quờ quạng tả xung hữu đột, vừa lục lạo khắp nhà bếp vừa hỏi Thi Thi chảo nào xào thịt, khay nào đựng bánh, tô nào pha nước mắm, cây nào quét dầu, thau nào pha bột…? Đường ở đâu, muối ở đâu, ớt tỏi dấm đã có chưa, hành phi nữa…? Ôi, hoa con mắt và chóng mặt luôn!

Lúc tôi ra khỏi…hỏa ngục, tóc tai quần áo (chỉ mỗi bộ đồ vía, theo lời dặn của Thi Thi “đừng mang gì nhiều“, đó mà) nhớp nháp mồ hôi, dầu mỡ và bột. Địa ngục và niết bàn cách nhau một cánh cửa. Bên này là nhà bếp với ngổn ngang soong chảo và vật liệu, bên kia là phòng ăn của nhà hàng với cách bài trí bàn ghế gọn gàng, tranh ảnh thơ mộng đẹp mắt. Hoa Lan, chị Doãn, Thi Thi cùng người của nhà hàng mặt mày rạng rỡ đang quây quần bên hai khay bánh cuốn với đầy rau, giò lụa, giá trụng, nước mắm và còn mười cái bánh cam làm duyên lấp ló ở góc bàn…Ai nấy đang đói rã ruột vì kim đồng hồ đã nhích sang con số 2. Nhìn bao đôi đũa…tấn công tới tấp, chẳng mấy chốc đã hết nhẵn, lòng tôi vui. Hạnh phúc ngập tràn và giản đơn khi cùng vui với niềm vui của mọi người.

Xế chiều theo chương trình, các “bà tiên“ (chị Doãn, Hoa Lan và Nhật Hưng) đi tắm “suối tiên“. Suối tiên là một cái hồ bằng nước khoáng thiên nhiên cất lên từ lòng đất, thơm tho trong văng vắt. Nước ấm, nhiệt độ vừa đủ thích hợp cho cơ thể. Máy đấm bóp liên tục họat động, các…tiên ngụp lặn bơi lội cười giỡn. Cảnh tiên trong những truyện cổ tích thật chẳng đâu xa đang hiện diện nơi này.

Trên con đường dẫn về quán dùng cơm tối, chúng tôi men theo đường cũ giữa những hàng cây xanh và hoa ngợp lối. Trời còn sớm, nắng còn sáng, chúng tôi chọn một ghế đá dưới bóng mát của một tàng cây ngồi nghỉ chân. Trước mặt chúng tôi, hồ nước trong xanh vẫn lững lờ trôi. Xa kia, mặt trời đỏ au, lớn và tròn phảng chiếu xuống mặt hồ những tia lăng tinh óng ánh như kim cương, nhảy múa trông thật đẹp mắt. Từ hướng xa xa của nước Áo, tuyết trắng của Thụy Sĩ vào mùa Đông vẫn còn vướng mắc trên đỉnh những dãy núi cao. Gió chiều nhè nhẹ thổi, mát rượi, gợn trên mặt hồ những làn sóng nhỏ lăn tăn. Mùa Xuân của Âu Châu thật thơ mộng tươi mát trong lành với núi, sông hồ, hoa, cây cỏ…muôn vẻ muôn màu trông như một bức tranh thủy mạc. Nhìn cảnh vật êm ả thanh bình, tôi chợt nhớ đến hai câu đối chữ Hán:

Bản thủy vô ba.

Tự phong siếu diện.

Nguyên sơn bất lão.

Vị tuyết bạc đầu!

Dịch nghĩa:

Nước tự mình, không sóng.

Nhăn mặt bởi vị phong.

Non, trẻ mãi, không già.

Vì tuyết bao, đầu bạc!

Giữa khi tôi đang thả hồn mông lung ngắm cảnh, nhìn về “Chân Trời Xanh” ngập tràn nắng ấm để mường tượng nơi đâu là nhà mình, nơi đó, anh lang quân đang làm gì, sao không chịu “tháp tùng” cùng tôi để chung hưởng cảnh thần tiên hiện tại, thì chị Doãn, Hoa Lan cũng đang tưởng nghĩ đến chồng, cả hai thay phiên mở điện thọai huyên thuyên kể chuyện, cười ỏn ẻn với chồng. Ôi, ai bảo tình già không nồng thắm, chỉ mới vắng bóng một ngày, nỗi nhung nhớ đã ngút tận mây xanh. Lợi dụng gọi điện thọai trong nước Đức không tốn tiền, chúng tôi còn quay số tìm Hương Cau, chị Phù Vân, Hồng Nhiên (cũng là những cây bút nữ báo Viên Giác) tán gẫu, “báo cáo” mọi diễn tiến, niềm vui của những ngày họp mặt qua. Rất tiếc, Hương Cau và chị Hồng Nhiên không có nhà.

Từ ngày cùng “sinh” chung một đứa con tinh thần (Tác phẩm “Những Cây Bút Nữ Báo Viên Giác”) tại nhà “hộ sinh” Viên Giác, tình cảm chúng tôi thân thiện khắn khít như chị em. Đùa giỡn, nói cười thoải mái. Giữa chúng tôi không còn ranh giới của e ngại, câu nệ, hình thức thường tình. Như buổi tối, sau khi đã thưởng thức bữa ăn tại nhà hàng do Thi Thi nấu, một tô canh cua spinat, cà pháo với cá diêu hồng chiên, chị Doãn với tư cách chị cả ra lịnh:

  • Tối nay 10 giờ đi ngủ sớm không được trò chuyện nữa nghe chưa!

Trời, gặp nhau mục đích chỉ để trút bầu tâm sự mà bịt miệng không cho nói, “nhân quyền” ở đâu nữa hỡ Trời?! Nhưng biết chị từng là một nhà giáo quen…thói nghiêm khắc còn tồn tại trong huyết quản, nhất lại là cô giáo dạy toán một với một là…ba, í không, là hai, tôi và Hoa Lan vâng lời răm rắp, dù cả hai trong bụng “ghét chị Doãn quá hà!”. Thế rồi, hơn 11 giờ đêm, Thi Thi lù lù đi làm về. Theo thói quen cô bật đèn sáng, chẳng những thế, Thi Thi còn khoe đem về một đĩa thơm cắt sẵn ướp lạnh, chao ôi, buổi chiều ăn cá chiên còn khát nước, như mỡ đưa trước miệng mèo, tôi và Hoa Lan được thể lồm cồm ngồi dậy. Tiếng cô giáo lại ra lịnh:

– Có tắt đèn đi không bay!

Lời nói như một mệnh lệnh, ba chúng tôi lại răm rắp vâng lời, nhưng đĩa thơm thì không thể bỏ qua được. Trong lúc chị Doãn có một thế giới riêng nằm ngủ trên chiếc đệm đặt riêng ở một góc phòng, thì ba đứa còn lại Thi Thi, Nhật Hưng, Hoa Lan mò mẫm ăn thơm trong bóng đêm dưới ngọn đèn hiu hắt, hắt từ hành lang bên ngoài qua khung cửa hé vào nhà. (Tàn nhẫn thật, Trời đánh còn tránh bữa ăn! Thế mà chị nỡ…!)

– Đóng cửa lại đi bay!

Thế là cánh cửa…tù từ từ khép lại theo lệnh của….quản giáo Doãn! Dĩa thơm dù trong bóng tối, cũng được chúng tôi mò mẫm kết thúc nhanh chóng. Xong, ba chúng tôi lên giường nằm im, chỉ hích hích cười mà không dám lên tiếng, rồi sau đó, giấc ngủ nhẹ nhàng đến lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, mặt trời chưa ló dạng, tiếng của …quản giáo Doãn lại cất lên thúc chúng tôi dậy…lao động! À không, dậy đánh răng rửa mặt, ăn sáng cho kịp chuyến xe lửa tham dự khóa tu học chùa Viên Đức.

Tôi vươn vai ngồi dậy, cảm thấy người khỏe khoắn, nhẹ nhàng nhờ ngủ một giấc ngon và đủ nữa. Không lờ đờ xanh mét như ma chết trôi của tối trước đó, lúc chị Doãn chưa đến, vì thức quá khuya để thủ thỉ trò chuyện cùng Hoa Lan. Đến lúc này tôi mới thấy mang ơn và cám ơn…cô giáo Doãn, cùng lúc tôi nhận ra vai trò quan trọng của ngành giáo dục và… thương cô giáo quá chừng chừng!

Con người thông thường giống như một sinh vật sống theo bản năng, đói thì ăn, khát uống, mệt ngủ. Giữa vật và người chỉ khác ở ý thức và được giáo dục thôi. Nhờ cô giáo Doãn…kềm kẹp vừa như một chị cả bảo ban, vừa oai nghiêm của một nhà giáo, chúng tôi thương mến, nể vì, nên…chiều lòng chị cho chị vui. Mà bây giờ chúng tôi cũng vui nữa. Vì ở chị Doãn, không chỉ ảnh hưởng cái vỏ bọc khô khan của những con số trong môn toán học, mà tâm hồn chị lại còn ướt…nhẹp của cả một bầu trời văn chương lai láng.

Buổi sáng vừa điểm tâm, chị nổ dòn với những chuyện vui cười tiếu lâm mà chị nói không thể đăng ở tờ báo đạo Viên Giác được. Nếu Quí vị độc giả thông cảm, đừng trách, thì tôi không ngần ngại gì mà không…xì ra.

Chị kể:

Có hai người thông gia với nhau. Một bên góa vợ, một bên góa chồng. Nhân ngày nọ đẹp trời, bọn trẻ đi chơi vắng, anh sui qua…tán chị sui. Anh sui thủ thỉ hỏi:

  • Chị sui rảnh ha chị sui. Mình chơi đố vui nha, chị sui.

Chị sui một mình đang buồn, tán đồng liền. Anh sui đố:

  • Tui đố chị, một người đi nhờ xe người khác, gọi là gì?
  • Quá giang.
  • Hàng hóa chuyển từ cảng này sang cảng kia, gọi là gì?
  • Quá cảng.
  • Từ nhà tui bước qua nhà chị, gọi là gì?
  • Quá bộ.
  • Còn…giường tui khiêng sang để bên giường chị, gọi là gì?
  • Quá đã!”

Bây giờ thì ba chúng tôi chị Doãn, Hoa Lan và tôi (Thi Thi ở nhà, bận đi làm) đang hiện diện tại tu viện Viên Đức. Chúng tôi đến kịp giờ (có cô giáo Doãn thì nghiêm túc thôi) với sự chào đón niềm nở thân thiện của bà con Phật tử. Nhất là Thầy Phương Trượng rất vui vì sẽ có ít nhất một trong ba cây bút hoặc cả ba viết bài tường thuật.

Tôi phải kể gì bây giờ khi vườn táo sân chùa vào xuân chưa ra trái, chỉ trổ toàn lá xanh như vùng thức dậy sau một cơn ngái ngủ của mùa đông ảm đạm. Các khóa học thì đã đi vào nề nếp và phương cách tổ chức mọi người đều quá quen thuộc từ ban trai soạn, hành đường, vệ sinh, tụng kinh niệm Phật, kinh hành, học giáo lý. Tuy vậy ở mỗi khóa học vẫn có một nét riêng và điểm đặc biệt tôi tìm thấy ở đây: Tre già măng mọc. Nhìn lớp sư trẻ đăng đàn thuyết giảng, chẳng những giảng tiếng Việt mà những vị này còn có khả năng giảng cho dân bản xứ, đưa giáo lý Phật Đà vào tâm hồn người địa phương. Các vị sư trẻ lại đã có đệ tử, chẳng những đệ tử Việt mà còn đệ tử bản xứ nữa (có hai thanh niên Đức mặc áo cà sa thật ngồ ngộ) đáng mừng cho tiềm năng phát triển Phật giáo tại xứ Đức nói riêng và Âu Châu nói chung. Bên cạnh các vị sư, còn một lớp cư sĩ trẻ hùng hậu chính là lực lượng anh em Gia Đình Phật Tử Âu Châu, tuần kế tiếp sau đó, cũng ngay tu viện Viên Đức này tổ chức sinh hoạt trại thanh thiếu niên đã có tới 400 em đăng ký. Và năm tới già trẻ nhập chung không tách rời nữa để tiện việc cho bà con sinh hoạt hơn.

Trong khoá học, tôi được học về 12 hạnh nguyện của ngài Dược Sư. Mục đích của ngài “lương y như từ mẫu” cứu nhân độ thế xoa dịu nỗi đau đớn của chúng sinh; được học về bốn cái ngã tự làm khổ mình của con người, và được học về sự lợi ích từ câu niệm Phật A Di Đà để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Và còn được học…nhiều nữa, học được điều gì thì hay điều ấy, đôi khi nghe rồi quên, quên rồi nghe lại, nước chảy lâu ngày cũng thấm thôi, quan trọng nhất là phải đặt niềm tin vào giáo lý của Đức Phật, vì tin là nguồn năng lượng để thực hiện đường đạo mới cầu được an lạc, giải thoát.

Một chương trình ngoài lề cũng khá đặc biệt, thầy Phương Trượng dành thời gian tâm tình cùng Phật Tử nói lên tâm tư của mình cùng thực trạng phức tạp và khổ đau của đời sống con người qua đề tài “Hiện tượng của cuộc sống”.Với tinh thần dân chủ, một câu hỏi được nêu lên: “Có dư luận cho rằng Thầy (Phương Trượng chùa Viên Giác) bị Việt Cộng mua chuộc và thân cộng, đã đưa nhiều vị sư từ Việt Nam sang nước Đức. Thầy nghĩ sao về câu này?”.

Muốn biết câu trả lời chi tiết hơn, xin mọi người tìm nghe dĩa “Hiện tượng của cuộc sống” khóa tu 14 tại tu viện Viên Đức. Riêng tôi chỉ tóm gọn những ý chính của Thầy mà tôi được nghe.

Là tu sĩ, Thầy chủ trương “phụng sự Tam Bảo là cúng dường Chư Phật”. Và cũng theo như Phật, không màn, không để ý đến lời khen, chê hay dư luận vì đó là chuyện thường tình của thế gian. Tuy nhiên, để thỏa đáng câu hỏi của Phật tử, Thầy đã xác nhận lập trường của Thầy trước sau như một, không trở lòng và chỉ khuyên mọi người kiên nhẫn chờ đợi, lịch sử không phải một ngày để kết luận dứt khoát, mà muốn biết sự thật luôn đòi hỏi thời gian. Vấn đề chụp mũ khi thấy ai không giống hay không làm theo mình, chỉ gây chia rẽ bất lợi cho chính mình, phe mình mà thôi. Phe ta bắn phe mình, rồi vỗ tay hoan hô chiến thắng! Nghêu cò cắn nhau, ngư ông đứng ngoài hưởng lợi.

Sự thành công của Phật Giáo tại nước Đức nói chung, luôn gặp thuận duyên, Thầy nói, không chỉ do một người, mà phải hội đủ nhân duyên do dụng công tu tập của tất cả Chư Tôn Đức Tăng Ni cùng bà con Phật tử. Đúng như vậy. Nhưng theo tôi, phải có người lãnh đạo sáng suốt, đức cao, đạo trọng biết vận động và hướng dẫn mọi người đi đúng đường mới phát triển được, điều đó không ai phủ nhận công đức của Thầy Như Điển.

Vào một cửa tiệm sang để mua một chiếc áo đồ hiệu đắt tiền, đương nhiên phải dành cho người giàu tiền rừng bạc biển. Qua đó, nếu cho rằng một vị “ngon lành” như Thầy Như Điển mà mua chuộc được thì chính người hay phe nhóm tung tin vô hình trung đánh giá cộng sản quá cao làm lợi cho người cộng sản. Còn việc chụp mũ, tố hết người này đến người kia là cộng sản, hóa ra, lại tự mình chê mình, chê phe nhóm mình cù lần, dở ẹt mới khiến thiên hạ bỏ mình theo hết cộng sản. Mà nghĩ cũng lạ, khi chính người cộng sản đã ném cái chủ nghĩa của họ vào sọt rác, họ đang “trừ sản” chứ không là…“cộng sản” nữa. Tiền bạc có cất riêng, chất đầy tủ sắt mà người quốc gia cứ đội nón cối lên nhau để …lượm lại cái chủ nghĩa lỗi thời cộng sản ?!

Đối với vị chân tu “Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, tứ đại giai không” bốn hiện tượng đều là hư ảo, với một chữ “không” to tướng, “mua” Thầy Như Điển để làm gì?! Và Thầy tự “bán mình” để nhận cái gì? Tiền, tình, danh lợi??? Ta thử phân tích.

  • Tiền: Chỉ để xây chùa. Chùa thì đã có từ lâu rồi (Thầy từng là bang chủ “Cái bang” cùng Phật tử đi quyên góp).
  • Tình: Tình riêng không có ai. (nếu có, biết liền, dấu sao nổi những cặp mắt “thám tử”của Phật tử xung quanh)
  • Danh: Thầy xác nhận “có thể có” vì Thầy quí sự học nên quí bằng cấp. Thầy quan niệm :sự học không mở được cánh cửa giải thoát, nhưng muốn giải thoát không thể thiếu tu và thiếu học. Với lại phải có học để đánh đổ quan niệm trước đây là “Các tu sĩ Phật giáo là những người kém học vấn”.

Còn vấn đề bảo lãnh cho một số Tăng Ni từ Việt Nam sang Đức thì đó là một việc đáng mừng cho nhu cầu của chùa, không phải nước nào cũng có bang giao với điều khoản tự do tôn giáo, vì nếu không, có bảo lãnh cũng không được mà muốn bảo lãnh còn phải hội đủ tiêu chuẩn, điều kiện bảo đảm được nơi ăn chốn ở đời sống cho người đó. Nếu cứ cho rằng hễ sư ở Việt Nam qua đều là cộng sản, thì cha mẹ anh em họ hàng chúng ta còn kẹt ở quê nhà há cũng là cộng sản cả sao?! Vấn đề chỉ tại cái nhìn và suy nghĩ thường tình thiếu thiện ý của thế gian thôi. Tốt hơn hết chúng ta nên nhìn vào việc của những vị đó làm, hơn là cứ phao tin hay chụp mũ vô căn cớ.

Buổi tâm tình còn đưa ra câu chuyện thương tâm của một cặp vợ chồng, đây là một trong những hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện nay. Bao năm gian khổ phấn đấu để tồn tại và vươn lên nơi xứ người, cuối cùng, khi chồng về Việt Nam một mình thì…Hà, sinh ra thảm kịch của thời đại, chồng rơi vào mê hồn trận của các ma nữ, để rồi sau đó nát nhà nát cửa. Sao thế nhỉ? Câu trả lời tùy thuộc vào sự suy nghĩ, phân tích của mỗi người. Riêng tôi, chỉ xin cảnh báo quí bà, chớ bao giờ cấp “chiếu khán” cho chồng một mình về Việt nam, dù chồng ở bất cứ tuổi nào, dù lòng dạ chồng từng sắt son cứng như vàng, vàng thiệt không sợ lửa, cũng chớ đem lửa thử vàng, rồi khóc hận!

Một buổi văn nghệ “cây nhà lá vườn” do các “cụ” lão thành nhiệt tình phát động, đóng góp với đầy đủ tiết mục ca, nhạc, kịch sau mục giải đáp thắc mắc cho chúng tôi những nụ cười thoải mái trong không khí thân tình đầy đạo vị.

Tôi xin kết thúc bài viết tại đây. Không quên chúc các bạn những ngày vui.

Trần Thị Nhật Hưng

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s