Trần Ngọc Cư – NHẬN XÉT VỀ MỘT SỐ THỦ PHÁP SỬ DỤNG TRONG BÀI THƠ “THE HILL WE CLIMB” CỦA AMANDA GORMAN

Trả lời phỏng vấn của Anderson Cooper trên đài CNN, nhà thơ da đen 22 tuổi Amanda Gorman cho biết thuở nhỏ cô gặp trở ngại phát âm (speech impediment) đặc biệt với chữ r. “Đồng bệnh tương lân,” nếu ta nghĩ đến sự kiện Tổng thống Joe Biden có tật nói lắp khá nặng thời nhỏ và vì thế ông có xu hướng tự nhiên là đồng cảm và động viên các trẻ em bị khuyết tật phát âm.

Một trong những cách trị liệu phát âm (speech therapy), tôi suy đoán, có thể là sử dụng thủ pháp luyến láy phụ âm (alliteration), đặt các từ có cùng một phụ âm tương đối gần nhau. Các nguyên âm đứng gần nhau cũng có hiệu ứng luyến láy này. Đây là một thủ pháp thường được dùng trong thơ, trong các bài thuyết giáo, hoặc trong các diễn văn.

Nhà thơ không những quí từng “con chữ”, mà còn cẩn trọng đến từng “con âm”, như thi sĩ Dương Tường có lần phát biểu. Và người nghe đã say sưa theo dõi cách phát âm kết hợp cùng dáng điệu của cô Gorman trong lễ đăng quang của liên danh Biden-Harris ngày 20 tháng Giêng vừa qua.

Với các luyến láy như: “We’ve braved the belly of the beast… weathered and witnessed … far from polished, far from pristine…compose a country committed to all cultures, colors, characters and conditions of man… We seek harm to none and harmony for all…that even as we grieved, we grew; that even as we hurt, we hoped; that even as we tired, we tried; that we’ll  forever be tied together …”

Đồng âm dị nghĩa (homonym), cùng âm nhưng khác nghĩa, đã tạo được ngạc nhiên thích thú với “just is” và “justice” trong câu:  “And the norms and notions of what just is isn’t always justice” (Và những chuẩn mực và những khái niệm về những gì chỉ việc hiện hữu không phải lúc nào cũng là công lý.) (Xin thưa động từ BE trong “what just is…” diễn tả sự hiện hữu, chứ không phải là một “linking verb”.)

Đây là một bài thơ rất phong phú về tính biểu tượng vừa lịch sử vừa văn hoá. Ta thử bàn về hình ảnh “ngọn đồi chúng ta leo,” như tựa đề của bài thơ đã vẽ ra.

Người đọc thơ không thể đem biểu tượng của nền văn hoá này để hiểu biểu tượng của một nền văn hoá khác. Ngọn đồi trong bài thơ không phải là biểu tượng của một trở ngại địa lý theo nghĩa “ngăn sông cách núi”, như cách nhiều người Việt thường hiểu ẩn dụ này — leo một ngọn đồi là khắc phục khó khăn hay thể hiện một tham vọng.

Không phải như thế! Ngọn đồi trong văn hoá Tây Phương là biểu tượng một nơi tôn quí, nơi thờ các vị thần linh. Chẳng hạn, Capitolium  là tên một ngọn đồi của Roma mà đền thờ thần Jupiter được xây trên đó. Đối với người Roma cổ đại, Capitolium được coi là không ai có thể phá huỷ được và là biểu tượng của sự vĩnh cửu.

Từ Capitolium đã hoá thân trong tiếng Anh để sống mãi với từ capitol. Nhiều người cho rằng Capitol Hill tại Washington, D.C., được đặt tên theo từ Capitolium. Vì trụ sở Quốc Hội Mỹ nằm trên Đồi Capitol bị các toán “da trắng thượng đẳng” tấn công ngày 6-1-2021, nên hình ảnh ngọn đồi trong bài thơ càng thiết tha kêu gọi một sự bình yên: “That is the promise to glade, the hill we climb if only we dare it…” (Đó là lời hứa về một chốn bình yên, ngọn đồi chúng ta đang leo lên nếu chúng ta dám thực hiện điều đó…)  — Danh từ “glade” có nghĩa là khoảng không gian thoáng đạt trong một khu rừng rậm rạp, tạo cảm giác bình yên cho người mạo hiểm.

Biểu tượng ngọn đồi bàng bạc khắp nơi trong lịch sử và văn hoá Thiên Chúa giáo-Do Thái giáo của Mỹ.

Từ đầu thời thuộc địa, Thống đốc John Winthrope bắt đầu mơ đến “một đô thị trên một ngọn đồi” (a city on a hill) khi ông thuyết giảng cho các tín đồ Thanh giáo (Puritans) vào năm 1630 tại vùng New England. Và ông hi vọng tấm gương đạo đức của cộng đồng định cư do ông lãnh đạo sẽ là “một ngọn đèn trên đỉnh đồi” (a beacon on the hill) cho phần còn lại của nhân loại ngưỡng vọng. Winthrop mượn các cụm từ này từ Kinh Thánh – Mát-thêu 5:11: Chúa Giê su nói, “Các anh em là ngọn đèn của thế giới. Một đô thị được xây trên một ngọn đồi thì không thể che giấu.”

Một loạt các nhà lãnh đạo Mỹ từ bấy đến nay, kể cả Abraham Lincoln, John F. Kennedy, Ronald Reagan, … đều mượn hai cụm từ này để chỉ tính ưu việt (exceptionalism) của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, đặc biệt trong lãnh vực tự do, dân chủ và công bình. “Ngọn đồi chúng ta leo” trong văn cảnh chính trị hiện nay nhanh chóng trở thành biểu tượng của một cuộc chiến đấu hay một nỗ lực bảo vệ các lý tưởng của Mỹ.

Nhìn vào quá trình lập quốc và phát triển của Hoa Kỳ, những người Tin Lành thấy quá nhiều điểm tương đồng giũa Mỹ và Israel đến nổi có người gọi Hoa Kỳ là “nước Israel mới“. Hơn một nửa số tiểu bang của Mỹ có thành phố hay thị xã mang tên Jerusalem hay Salem. Từ bờ Đông sang bờ Tây, nước Mỹ lốm đốm các  thành phố lấy tên từ Kinh Thánh  Cựu Ước. Những địa danh như Canaans, Zions, Jordans, Jerichos, Pisgahs, Mitzpahs and Gileads. Vì thế các ngọn đồi trong Cựu Ước cũng được gợi lên khá tự nhiên trong tâm thức người Mỹ.

Trong một cung cách nào đó, Gorman còn gởi một thông điệp đến những người “da trắng thượng đẳng” gây bạo loạn tại Quốc hội Hoa Kỳ gần đây— “chúng ta hạ vũ khí xuống để chúng ta dang rộng vòng tay của chúng ta với nhau.” Trong văn cảnh bạo loạn và chà đạp luật pháp đó “Ngọn đồi chúng ta leo” cũng ít nhiều gợi lên hình ảnh một Mô-sê đang leo lên núi Sinai để tiếp nhận Mười điều răn của Chúa trong khi đồng bào của ông đang chống lại quyền lãnh đạo của ông, sống vô luân và thờ con bò vàng ở dưới chân núi.

Ngoài ra Kinh Thánh Cựu Ước cũng cung cấp nhà thơ một hình ảnh về hòa bình trong đó “mọi người sẽ ngồi dưới gốc nho và cây vả của mình và không ai làm cho họ sợ hãi;” các thanh gươm không nhất thiết phải biến thành những lưỡi cày mà có thể dùng làm vật liệu xây dựng những nhịp cầu kết nối giữa các cộng đồng sắc tộc tại Hoa Kỳ. Một trích dẫn rất thích hợp và có sức trấn an trong bối cảnh lòng người tràn ngập hận thù, đố kỵ và chia rẽ như hiện nay.

Mời các bạn FB đọc bản dịch bài thơ từng đoạn song ngữ dưới đây:

“Mr. President, Dr. Biden, Madam Vice President, Mr. Emhoff, Americans and the world: When day comes we ask ourselves, ‘where can we find light in this never-ending shade, the loss we carry, a sea we must wade?’

“Thưa Tổng thống, Tiến sĩ [đệ nhất phu nhân] Biden, Bà Phó Tổng thống, Ông Emhoff, Người Mỹ và thế giới: Khi một ngày đến, chúng ta tự hỏi mình, ‘chúng ta có thể tìm thấy ánh sáng ở đâu trong bóng râm không bao giờ tàn này, mất mát mà chúng ta mang theo, một vùng biển chúng ta phải lội?’

“We’ve braved the belly of the beast, we’ve learned that quiet isn’t always peace. And the norms and notions of what just is isn’t always justice.[1] And yet the dawn is ours before we knew it, somehow we do it. Somehow we’ve weathered and witnessed a nation that isn’t broken, but simply unfinished.

“Chúng ta đã dũng cảm trong bụng con quái vật, chúng ta đã học được rằng lặng thinh không phải lúc nào cũng là hòa bình. Và những chuẩn mực và những khái niệm về những gì hiện hữu không phải lúc nào cũng là công lý. Và bình minh là của chúng ta trước khi chúng ta biết đến nó, bằng cách nào đó chúng ta đang biết đến nó. Bằng cách nào đó chúng ta đã vượt qua và chứng kiến một quốc gia không tan rã, mà chỉ đơn thuần là còn bị dở dang.

“We, the successors of a country and a time where a skinny Black girl descended from slaves and raised by a single mother can dream of becoming president only to find herself reciting for one.

“Chúng ta, những người thừa kế một đất nước và một thời kỳ mà một cô gái da đen gầy gò có tổ tiên là nô lệ và được một bà mẹ đơn thân nuôi nấng có thể mơ có ngày trở thành tổng thống chỉ để thấy mình đọc thơ cho một tổng thống nghe.

“And yes, we are far from polished, far from pristine, but that doesn’t mean we are striving to form a union that is perfect. We are striving to forge our union with purpose. To compose a country committed to all cultures, colors, characters and conditions of man.

“Và vâng, chúng ta chưa được trau chuốt, chưa được trong ngọc trắng ngà, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đang phấn đấu làm nên một khối đoàn kết hoàn hảo. Chúng ta đang phấn đấu hình thành một khối đoàn kết có chủ đích. Để tạo ra một đất nước cam kết bảo vệ mọi văn hóa, mọi màu da, mọi cá tính và mọi thân phận con người.

“And so we lift our gazes not to what stands between us, but what stands before us. We close the divide, because we know to put our future first, we must first put our differences aside. We lay down our arms so we can reach out our arms to one another. We seek harm to none and harmony for all.

“Và vì vậy, chúng ta phải nâng tầm nhìn không phải đến những gì ngăn cách chúng ta, mà đến những gì đứng trước mặt chúng ta. Chúng ta khép lại khoảng cách, bởi vì chúng ta biết đặt tương lai của mình lên trên hết, trước tiên chúng ta phải gạt các dị biệt của mình sang một bên. Chúng ta hạ vũ khí xuống để có thể dang rộng vòng tay của chúng ta với nhau. Chúng ta không tìm cách hãm hại bất cứ một ai mà phải tìm kiếm sự hài hòa với tất cả mọi người.

“Let the globe, if nothing else, say this is true: that even as we grieved, we grew; that even as we hurt, we hoped; that even as we tired, we tried; that we’ll forever be tied together victorious, not because we will never again know defeat but because we will never again sow division.

“Tốt nhất, cả thế giới phải nhận điều này là đúng: rằng ngay cả khi chúng ta đau buồn, chúng ta đã lớn lên; rằng ngay cả khi chúng ta bị tổn thương, chúng ta hy vọng; rằng ngay cả khi chúng ta mệt mỏi, chúng ta đã cố gắng; rằng chúng sẽ mãi mãi gắn kết với nhau trong thắng lợi, không phải vì chúng ta sẽ không bao giờ nếm mùi thất bại mà vì chúng ta sẽ không bao giờ gieo rắc chia rẽ thêm một lần nữa.

“Scripture tells us to envision that ‘everyone shall sit under their own vine and fig tree and no one shall make them afraid.’ If we’re to look up to our own time, then victory won’t lie in the blade but in all the bridges we’ve made.

“Kinh thánh khuyên chúng ta hình dung rằng ‘nếu mọi người sẽ ngồi dưới gốc nho và cây vả của mình thì không ai làm cho họ sợ hãi.” Nếu chúng ta chiêm nghiệm về thời đại mình đang sống, thì chiến thắng sẽ không nằm ở lưỡi gươm mà nằm ở tất cả những cây cầu mà chúng ta xây  dựng.

“That is the promise to glade, the hill we climb if only we dare it, because being American is more than a pride we inherit – it’s the past we step into and how we repair it.

“Đó là lời hứa về một chốn bình yên, ngọn đồi chúng ta đang leo lên nếu chúng ta dám thực hiện điều đó, bởi vì làm người Mỹ không chỉ là niềm tự hào mà chúng ta thừa hưởng – mà đó là quá khứ chúng ta bước vào và cung cách chúng ta sửa chữa nó.

“We’ve seen a force that would shatter our nation rather than share it, would destroy our country if it meant delaying democracy. And this effort very nearly succeeded. But while democracy can be periodically delayed, it can never be permanently defeated.

Chúng ta đã thấy một thế lực có thể làm tan rã quốc gia của chúng ta thay vì chia sẻ nó, sẽ phá hủy đất nước của chúng ta nếu điều đó đồng nghĩa với việc trì hoãn dân chủ. Và nỗ lực này suýt đã thành công. Tuy nhiên, mặc dù dân chủ có thể bị trì hoãn theo định kỳ, nhưng nó không bao giờ có thể bị đánh bại vĩnh viễn.

“In this truth, in this faith we trust for while we have for eyes on the future, history has its eyes on us. This is the era of just redemption we feared in its inception.

“Chính chân lý này, chính sự tin tưởng này, chúng ta đặt hết lòng mình trong đó, vì trong khi chúng ta hướng về tương lai, lịch sử đã để mắt đến chúng ta. Đây là kỷ nguyên chuộc tội rất công bằng mà chúng ta đã sợ hãi trong giai đoạn đầu lịch sử.

“We did not feel prepared to be the heirs of such a terrifying hour, but within it we found the power to author a new chapter, to offer hope and laughter to ourselves. So while once we ask ‘how could we possibly prevail over catastrophe,’ now we assert: ‘how could catastrophe possibly prevail over us?’

“Trước đây chúng ta không cảm thấy sẵn sàng trở thành người kế thừa của một giờ phút kinh hoàng như vậy, nhưng một khi ở trong đó rồi, chúng ta đã tìm thấy sức mạnh để viết ra một trang sử mới, mang lại hy vọng và tiếng cười cho chính chúng ta. Vì thế mặc dù trước đây chúng ta hỏi ‘làm thế nào chúng ta khắc phục được thảm hoạ,’ bây giờ chúng ta quyết đoán: ‘sức mấy mà thảm họa có thể khống chế được chúng ta?’

“We will not march back to what was, but move to what shall be: a country that is bruised but whole, benevolent but bold, fierce and free. We will not be turned around or interrupted by intimidation because we know our enaction and inertia will be the inheritance of the next generation.

“Chúng ta sẽ không quay về với sự việc đã diễn ra, mà tiến tới thực tế trước mắt: một đất nước bị thương tích nhưng vẹn toàn, nhân từ nhưng táo bạo, quyết liệt và tự do. Chúng ta sẽ không sợ bị đẩy lùi hoặc làm gián đoạn bởi một sự hù doạ nào đó, vì chúng ta biết rằng hành động và sức ì của chúng ta sẽ được thế hệ sau thừa kế.

“Our blunders become their burdens but one thing is certain: If we merge mercy with might, and might with right, then love becomes our legacy, and change, our children’s birthright.

“Những sai lầm của chúng ta trở thành gánh nặng cho chúng nhưng có một điều chắc chắn: Nếu chúng ta hợp nhất lòng thương xót với sức mạnh và sức mạnh với lẽ phải, thì tình yêu sẽ trở thành di sản của chúng ta, và sự đổi thay trở thành quyền bẩm sinh của con cái chúng ta.

“So let us leave behind a country better than the one we were left. With every breath from my bronze-pounded chest, we will raise this wounded world into a wondrous one. We will rise from the golden hills of the west, we will rise from the winds swept north, east where our forefathers first realized revolution. We will rise from the lake-rimmed cities of the midwestern states. We will rise from the sun-baked South. We will rebuild, reconcile, and recover in every known nook of our nation and every corner called our country, our people diverse and beautiful will emerge battered and beautiful.

 “Vì vậy, chúng ta hãy để lại cho đời sau một đất nước tốt đẹp hơn đất nước mà chúng ta được tiền nhân để lại. Với mỗi hơi thở từ lồng ngực bọc đồng của tôi, chúng ta sẽ nâng thế giới bị tổn thương này thành một thế giới diệu kỳ. Chúng ta sẽ vươn lên từ những ngọn đồi óng vàng của miền tây, chúng ta sẽ trỗi dậy từ những cơn gió thổi qua miền đông bắc nơi tổ tiên chúng ta lần đầu tiên làm nên cách mạng. Chúng ta sẽ vươn lên từ những thành phố trên ngũ đại hồ của các bang miền trung tây. Chúng ta sẽ vươn lên từ miền Nam nắng cháy. Chúng ta sẽ xây dựng lại, hòa giải, và phục hồi trong mọi ngóc ngách đã biết đến của quốc gia chúng ta và mọi góc gọi là đất nước chúng ta, nhân dân chúng ta đa dạng và xinh đẹp sẽ trỗi dậy dạn dày và tươi đẹp.

 “When day comes, we step out of the shade, aflame and unafraid. The new dawn blooms as we free it. For there is always light if only we’re brave enough to see it, if only we’re brave enough to be it.”

“Khi ngày đến, chúng ta bước ra khỏi bóng râm, rực cháy và can trường. Bình minh mới trổ hoa khi chúng ta giải phóng nó. Vì luôn có ánh sáng, chỉ cần chúng ta đủ dũng cảm để nhìn thấy nó, chỉ cần chúng ta đủ can đảm để làm ánh sáng.”

[1] Động từ BE còn có nghĩa EXIST (hiện hữu) nên câu “And the norms and notions of what just is isn’t always justice” phải dịch như tôi đã dịch ở trên. Chữ just = simply (only) không bà con chi với justice. Đây là một ví dụ alliteration hay homonym mà tôi có nói trong dẫn nhập.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s