Đoàn Đức Thanh dịch – Đặc tính của văn hóa vô ngã

Phật giáo cho rằng: mọi sự vật trên thế gian này không có tự tính độc lập, thực tồn, nghĩa là không tồn tại “cái tôi” (linh hồn) chi phối. Như vậy gọi là “vô ngã”. Văn hóa vô ngã đã dẫn đến chế nô tính trước chuyên chế của người phương Đông!

Người phương Tây cho rằng: Bất cứ sự vật nào cũng có “bản tính” (nature), “bản tính” là thứ quy định tự thân sự vật, là căn nguyên bên trong của tồn tại cá thể. Văn hóa Trung Quốc thiếu hụt phạm trù “bản tính” của phương Tây, “bản” của Trung Quốc chính là “gốc” thuyết vạn vật hữu linh của vu thuật (thuật phù thủy), còn “gốc” mang trong nó ma lực “sinh sôi” thần kỳ.

Bạch Cư Dị [1] có thơ:

(Phiên âm)

Li li nguyên thượng thảo

Nhất tuế nhất khô vinh.

Dã hỏa thiêu bất tận,

Xuân phong xuy hựu sinh.

(Dịch thơ)

“Ngọn càng xa gốc,

năm tháng héo tàn.

Lửa hoang bất diệt,

Gió xuân nảy chồi.”

Tại sao lại nảy chồi sau khi bị lửa thiêu đốt? Bởi vì có “gốc” là nguồn sống. Do đó người Trung Quốc thích làm những việc như “nhổ cỏ tận gốc”. Người Trung Quốc cho rằng toàn vũ trụ là dòng chảy “chuyển sinh bất tận” của sự sống, vạn sự vạn vật chỉ như những bọt sóng lên xuống của dòng chảy sự sống. Do đó, nhìn chung sự vật không có “cái tôi” tồn tại, tất cả đều thay đổi theo thời gian và địa điểm. Người Trung Quốc kỳ thực không mấy quan tâm “cái tôi” rốt cuộc là thế nào.

Bách gia chư tử [2] cho rằng, con người hoàn toàn là loại vật tự nhiên, “khí tụ mà thành, hình tan tất mất.” Do tư duy Trung Quốc truyền thống không có quan niệm ý thức thuần túy hay tư duy thuần túy như Ấn Độ hay phương Tây, vì thế “cái tôi” con người không bao giờ có thể độc lập với tự nhiên, không thể hình thành quan niệm cá nhân “độc lập” của tư duy trừu tượng phương Tây. Nhân cách con người được hun đúc trong văn hóa vô ngã của người phương Đông có bốn đặc điểm:

Thứ nhất là tính phụ thuộc. Con người thuộc về tự nhiên, khiến trong tiềm thức thường xem bản thân như con cái, do đó bách tính (dân chúng) xem quan chức như “cha mẹ”, quan chức xem hoàng đế (vua) như “cha mẹ”, hoàng đế xem trời đất như “cha mẹ”. Quan niệm phụ thuộc này bắt nguồn từ: xem tự nhiên là “cha mẹ” của tất thảy.

Văn hóa Trung Quốc suy tôn tự nhiên là “Đạo tuân phục tự nhiên” (Đạo pháp tự nhiên), đó là một dạng bái vật giáo mang tính chất của thuật phù thủy. Nó không thể phân biệt giữa động vật và con người, cổ súy “bản năng hoan lạc”. Vật chất quyết định ý thức, loài người phải tuân phục “đạo” vật chất là gốc rễ của tất thảy. “Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên”; có nghĩa là: Người phải tuân phục Đất, Đất phải tuân phục Trời, Trời phải tuân phục quy luật tự nhiên. Chữ “Pháp” mà Lão Tử dùng có nghĩa là “phải tuân phục”; mọi người không có tính độc lập mà chỉ có tính phụ thuộc/tuân phục, vì vậy “trời đất bất nhân xem mọi thứ (kể cả con người) như chó cỏ” [3]. Đạo gia nhấn mạnh “Đạo” là độc lập, “Đạo” là mẹ của vạn vật, còn vạn vật (gồm cả con người) là kẻ phụ thuộc hoặc thứ phái sinh của “Đạo”. Từ đây, Hoa Hạ (Trung Quốc) không thể hình thành quan niệm cá nhân độc lập. Không có ý thức cái tôi độc lập của cá nhân, tất yếu chỉ còn hùa theo bầy đàn, gọi dạ bảo vâng.

Nếu “vật chất quyết định ý thức” thì tại sao thứ như nhau lại hình thành ý thức khác nhau? Cùng một miếng đậu phụ thối nhưng có người thấy ngọt ngào như mật, có người không thể đụng vào. Nếu vật chất quyết định ý thức, tại sao các học sinh được cùng một thầy chỉ dạy lại có thành tích quá khác nhau? Lẽ nào trong đầu của đứa thành tích kém thì thiếu vật chất? Cái gọi là vật chất quyết định ý thức chẳng qua là muốn thông qua kiểm soát vật chất để kiểm soát tâm trí của con người mà thôi: nghĩa là thủ đoạn quyền lực cho rằng thiên hạ của vua, tức “Dưới gầm trời đâu cũng là đất của vua; trên mặt đất không ai không là tôi của vua”, hiển nhiên vua muốn mọi người trong thiên hạ quy phục ông ta.

Thứ hai là không có tôn nghiêm. Ý thức tôn nghiêm cá nhân của phương Tây cổ đại bắt nguồn từ ý niệm thực thể linh hồn của tự nhiên (thuyết Nguyên tử). Nhưng với Trung Quốc cổ đại quan niệm “con người” không có nhân cách độc lập, không có gì khác biệt giữa người và “phân người”, đều là biểu hiện của “Đạo”, do đó không có tôn nghiêm, mọi người giống như rơm rác, nhẹ như lông hồng. Mất tôn nghiêm nhất là đánh vào mông. Trước hết bị giáo huấn phải quỳ xuống, sau đó cha mẹ dùng gậy đánh. Loại hình giáo dục rừng rú này được ca ngợi mỹ miều là “thương cho roi cho vọt”, “roi vọt sinh hiếu tử”. Biểu hiện hình phạt đánh mông tại nha môn phủ quan là trước tiên chưa cần biết ai đúng ai sai, cả nguyên cáo lẫn bị cáo “mỗi kẻ chịu năm mươi gậy”; triều đình chính là triều trượng, vô số quan to đã bị đánh chết. Tư Mã Thiên [4] vì nói lý cho Lý Lăng mà bị kết tội giam nhà lao, từng bị lột trần chuồng tra tấn, cuối cùng bị cắt bộ phận sinh dục. Cảnh tra khảo đòn roi kinh khủng nhất trong lịch sử Trung Quốc xuất hiện vào thời nhà Minh (1368 – 1644), người bị đòn toàn quan lại triều đình. Đòn roi triều đình thời nhà Minh khởi đầu từ Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) xử roi chết công thần khai quốc Chu Lượng Tổ. Từ sau đó quan thần nào có lời không ưa là bị lột quần đánh đòn roi. Sau đó “đòn roi dưới thềm ngai vàng” đã thành thông lệ. Ban đầu số người bị đánh thường chỉ một hai người, đến năm thứ Ba đời Gia Tĩnh (1524, niên hiệu vua Thái Tông) có lần xảy ra trận đòn roi tập thể với quy mô lớn nhất lên đến hơn 180 quan từ Ngũ phẩm trở xuống, khiến 16 người chết tại trận và 1 người chết sau đó. Một buổi lễ đánh đòn roi quy mô lớn như vậy có lẽ là vô tiền khoáng hậu. [Con người] càng bị mất tôn nghiêm thì càng mất cảm giác hổ thẹn, vì vậy mà có chuyện quái gở là hàng ngàn quan chức tranh nhau làm con làm cháu của Thái giám, mới có chuyện ô nhục hơn 95% quan viên quỳ gối quy phục quân Đại Thuận, quân Mãn Thanh. Montesquieu [5] chỉ ra (đại ý) rằng: Trong nước Cộng hòa mọi người bình đẳng, vì mọi người đều có các quyền như nhau; trong nước chuyên chế mọi người bình đẳng, vì mọi người đều không có quyền gì như nhau.

Thứ ba là không có ý chí tự do. Vì tư duy tự nhiên của Trung Quốc chưa bao giờ vươn tới ý thức chủ thể thuần túy, cho nên hành vi của con người không dựa trên sự lựa chọn của ý chí tự do mà hoàn toàn dựa trên sự vâng phục “mệnh Trời”, tức là “mệnh lệnh” của “Trời”. Vì “Trời” này chỉ là “tự nhiên” cụ thể, không phát triển thành lý tính phổ quát như tư duy triết học phương Tây, do đó “thuận theo mệnh Trời” là mãi mãi không thể chuyển hóa thành ý chí tự do cá nhân, mọi người luôn chỉ giống như con cái theo “chỉ lệnh” của cha mẹ; biểu hiện cụ thể như xem bói, bốc quẻ, đoán mệnh, xem hoàng lịch (để biết chuyện tốt xấu, kiêng kỵ hàng ngày – ND). Những vấn nạn này làm nô tính tuân phục của mọi người ngày càng trầm trọng. Cuộc sống của mọi người chỉ còn là hoạt động “lễ tiết” của “bên ngoài”, không thể trở thành quyết định tự chủ của cái tôi.

Bái vật giáo cho rằng: con người là sản vật của Thiên – Nhân hợp nhất, con người bị môi trường lớn là “Trời” chi phối. Tính người thay đổi theo sự thay đổi của môi trường, không có tính quyết định tự thân. Tướng quốc Yến Anh (578 TCN – 501 TCN) nước Tề đi sứ nước Sở. Vua nước Sở hỏi: “Người nước Tề thích trộm cắp à?” Yến Anh đáp: “Thần nghe nói cây quýt sinh trưởng ở Hoài Nam trở thành quýt thơm, nhưng sinh trưởng ở Hoài Bắc trở thành quýt hôi. Vì lý do gì? Do thủy thổ khác nhau! Người này khi sống ở nước Tề không ăn trộm, nhưng đến nước Sở lại phạm tội ăn trộm, phải chăng do thủy thổ nước Sở khiến kẻ này thích ăn trộm? Yến Anh cổ súy thuyết tính người do môi trường quyết định, xem con người đơn giản như thực vật do môi trường quyết định, như vậy là trái logic khoa học.

Thứ tư là con người không có cảm giác tội lỗi và ý thức trách nhiệm. Khi mà hành vi của con người dựa vào tin theo mệnh Trời mà không xuất phát từ lựa chọn của ý chí tự do thì sẽ thiếu ý thức trách nhiệm trong hành vi bản thân, thường quy cho số phận an bài, hệ quả không có cảm giác tội lỗi và ý thức sám hối. Chẳng hạn, tù nhân trong tù sẽ không ăn năn hối lỗi khi nghĩ rằng do bản thân không cao minh nên bị bắt, vì “mệnh” không tốt, vậy thì còn nói gì ăn năn hối lỗi thay đổi bản thân? Lý do: Vì theo bái vật giáo, tinh thần không còn tính vượt thoát. Cái gọi là tính vượt thoát là tinh thần giữ được một khoảng cách nhất định với vật chất tự nhiên. Trong khi “thuận theo tự nhiên” của Hoa Hạ thì hoàn toàn hủy bỏ khoảng cách này, chỉ cố gắng làm sao ý thức hoàn toàn hòa cùng tự nhiên, như vậy không thể hình thành tính vượt thoát.

Lý Bạch [6] có thơ:

(Phiên âm)

Cử báo yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân.

(Dịch thơ)

“Nâng ly mời trăng sáng,

Đối bóng thành ba người”.

(Đại ý: vầng trăng, cái bóng, và chính ta, ba thứ hòa làm một).

Tư duy sùng bái tự nhiên luôn ngây thơ, hồn nhiên, luôn sống trong vườn địa đàng của lương tâm, cho rằng tính người bản thiện; khi đã không có cảm giác tội lỗi thực sự, hiển nhiên không biết sám hối là gì.

Đoàn Đức Thanh dịch

Nguồn: “无我文化之特性”, 关美文, Boxun.com, 29.04.2019

Chú thích (ND):

[1] Bạch Cư Dị (772 – 846): Nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường.

[2] Chỉ chung các học phái của Trung Quốc thời tiên Tần.

[3] Chó cỏ: Con chó tết từ cỏ mà người Trung Quốc cổ đại dùng trong cúng tế, bị vứt bỏ sau khi sử dụng.

[4] Tư Mã Thiên (145 TCN – 86 TCN): Quan sử thời nhà Hán Trung Quốc, là tác giả bộ Sử ký nổi tiếng.

[5] Montesquieu (1689 – 1755): Nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị của Pháp.

[6] Lý Bạch (701 – 762): Nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s