Đàm Trung Phán – GIAI ĐOẠN XIN ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI MISSISSAUGA (CHƯƠNG MỘT)

Sáng nay, một buổi sáng mùa xuân 2020 tại nơi chúng tôi cư ngụ đẹp vô cùng. Chẳng bù tháng Tư năm nay trời quá lạnh, mà lại có cái ẩm ướt ngoài trời làm cho cái thân già của người viết cảm thấy buốt tới xương , đôi cẳng già và cái lưng “phán cảnh”/cánh phản chỉ muốn… nằm nghỉ cho đỡ đau mà thôi.

Gặm cho xong 2 lát bánh mì được nuốt trôi bằng ly café “home made”, người viết mang cuốn vở cùng với một chai nước nhỏ, đi bộ ngay xuống vườn cỏ có những cây phong cao vút. Chiếm một chỗ ngồi trong khu “pinic area” của chúng cư. Trước mặt tôi là mấy cây phong với lá đỏ, lá xanh được mặt trời ban mai chiếu qua. Không có gió lạnh mà nhiệt độ còn lên đến 15 độ Celsius lận! Sao mà đời lại có những giây phút như thế này, tha hồ mà tôi ngồi xuống để mà viết…

Nhìn sân cỏ xanh tươi và “hoa dandelions” mầu vàng đang tô điểm cho làn cỏ xanh, đâu đây có tiếng chim robbin đang hót, tôi liên tưởng tối hôm hai vợ chồng già chúng tôi đáp phi cơ từ Toronto xuống phi trường Vancouver vào giữa một đêm tháng Sáu năm 2019. Đi dọc hành lang trong phi trường để gặp 2 người bạn đến từ Châu Âu lúc 12 giờ đêm. Trong cái háo hức để gặp bạn, bỗng đâu cái “lù mù, lờ mờ” ban đêm của hành lang phi trường Vancouver làm tôi cảm thấy ướt đôi má ông già 77 tuổi. Sao vậy hè? Bèn vuốt mặt: trời đất quỷ thần ơi, hóa ra ông già song thất đang rỏ lệ. Bỗng đâu cả một mảnh đời “xất bất xang bang” 50 năm về trước đang “dàn cảnh” chào đón tôi tại nơi “xứ lạnh… quê … tôi bây giờ”.

Phải, đúng rồi Vancouver đã là miền đất hứa “chào đón” chúng tôi lúc đó mới 26, 27 tuổi, đến lập nghiệp tại Canada, trong túi chẳng có được đủ tiền như ý mình mong muốn để sống sót cho tới khi kiếm được việc làm. Chẳng có lấy một người bạn, bà con quyến thuộc ra đón! Tất cả còn ở lại Việt Nam và Úc…

Phải bắt đầu lại ngay từ đầu. Mà bắt đầu như thế nào nhỉ, trong khi hai vợ chồng trẻ còn chưa biết … “đêm trăng này nghỉ mát nơi nao”?

Năm mươi năm trong cuộc đời đã mang lại cho tôi biết bao nhiêu là đổi thay. Bắt buộc phải phấn đấu, phải gây dựng lại hết. Bây giờ …“Thất thập cổ lai hy”… Tôi đã trở lại Vancouver trong an nhàn để đánh thức những phiền não lại để mà … “tôi ru tôi ngủ, việc thế là xong!”

Nghe tiếng chim hót, tôi chợt nhớ đến thập niên 1980, khi chính bản thân tôi bước vào tuổi 40 của cuộc đời với “bèo dạt, mây trôi!”

Đầu năm 1985, khi ngoài trời đang có một cơn bão tuyết, anh NV, trưởng nhóm của các anh chị em sinh viên Việt Nam trong Đại Học Cộng Đồng Centennial College đến văn phòng của tôi để nhờ tôi “book” (giữ chỗ) cho một phần trong phòng ăn của giáo sư và nhân viên tại Progress Campus (chi nhánh chính của College). Anh NV lúc đó cũng đã khoảng 40 tuổi đời và đã từng là một cựu sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi họp mặt này là để cho các anh chị em sinh viên Việt Nam gặp mặt nhau và mừng xuân trong đời sống ly hương của chúng tôi.

Tôi hứa là tôi sẽ “book” phòng ăn. Không những vậy, tôi còn gọi điện thoại cho bà MK, Khoa trưởng của phân khoa Kỹ thuật (Dean, School of Engineering Technology) tới dự buổi tiệc này luôn. Bà MK hơn tôi vài tuổi và bà gia nhập College sau tôi hai năm, cùng trong ngành Công Chánh (Civil Engineering Technology) với chúng tôi. Vì tôi là “Giáo Út”, cho nên bà cứ tự ý coi bà như là một “bà chị” của Giáo Út vậy. Mọi người trong gia đình của bà đã may mắn trốn thoát nạn Cộng Sản tại Hungary vào năm 1956. Bà đã thừa biết Cộng Sản là như thế nào rồi cho nên bà rất hoan hỉ đến dự buổi họp mặt tất niên với các anh chị em sinh viên Việt Nam.

Không ngờ rằng buổi họp mặt này đã vô hình chung trở thành cái “Nhân” để rồi sau đó bà MK và Giáo Út PD đã có cái “duyên” cùng nhau hợp tác để thu nhận khoảng một ngàn sinh viên gốc Việt trong hai thập niên 1980 và 1990, trong đó có rất nhiều các sinh viên “gốc Thuyền Nhân”.

Bà  MK đã cùng gia đình trốn khỏi Budapest năm 1956 khi bà còn đang đi học ngành Kiến Trúc Sư. Sang đến Toronto, Canada, bà vào học ngành Công Chánh tại Đại học Toronto (U of T). Sau khi ra trường, bà làm việc cho một công ty xây cất trong chức vụ của một “Structural Engineer” (Kỹ Sư Công Chánh chuyên nghiệp, P.Eng.). Bà chỉ dậy trong department của chúng tôi trong 2 năm, sau đó chuyển sang ngành Kiến Trúc (Architechtural Department) dạy về các môn “Structures”. Bà thích làm việc về hành chánh (administration) hơn dạy học cho nên bà trở thành “Dean” (khoa trưởng).

Trong giữa thập niên 1980, phân khoa kỹ thuật của chúng tôi cũng đang cần có thêm nhiều sinh viên vì có thêm sinh viên thì mới được chính phủ liên bang Canada và chính phủ tiểu bang Ontario cho thêm ngân sách (funding).

Ngay ngày hôm sau, Khoa trưởng MK gọi tôi đến văn phòng của bà ta.

Này anh PD: Anh và tôi đã có “job” rồi đó. Anh sẽ là người đại diện Centennial College đi nói chuyện với các “mature students” gốc Thuyền Nhân Việt Nam (mature students là những ai đã trên 21 tuổi nhưng không có bằng Trung Học tại tỉnh bang Ontario). Tôi thấy các anh chị sinh viên gốc Việt phần lớn đã “già”. Bây giờ anh và tôi sẽ hợp tác với nhau để thu nhận thêm nhiều các sinh viên đó trong Cộng Đồng Việt Nam của các “you”. Tôi đã tính như sau: Tôi là một “admin” (dân hành chánh vì bà là “Dean” cho nên không còn dạy học như Giáo Út). Tôi sẽ đi gặp các “Deans” khác trong các ngành nghề như Y tế (Y tá, nursing), ngành Thương Mại (Business), Giao Thông & Vận Tải (Transportation) , Truyền Thông (Communications)… Riêng về phân khoa Kỹ Thuật nhà mình, tôi sẽ tổ chức một buổi họp với tất cả các giáo sư trưởng phòng (Co-Ordinators / Department heads, các giáo sư full-time (permanent faculty) và nhân viên văn phòng để chúng ta cùng “brain storm” (lấy ý kiến chung) làm sao mà thâu nhận những sinh viên gốc Việt này. Tôi sẽ thu xếp với College nhà mình trả các chi phí đăng trên báo chí, in các tài liệu nhà trường… Anh (Giáo Út) sẽ là người đứng ra tổ chức những buổi nói chuyện với các sinh viên gốc Việt Nam, gốc Ba Lan, gốc Nga, gốc Ấn Độ… vào cuối tuần. Nếu cần, nhờ anh trả lời họ về 2 môn Toán và Anh Văn mà họ phải thi và phải “Pass” (đạt được điểm trung bình, tối thiểu là 50%).

Mà cũng lạ thay: bắt đầu từ năm 1984, Giáo Út PD nhà ta đã “bị” / “được” ngành Công Chánh chuyển sang “làng Toán” dạy một môn Toán trong cả 2 term (học kỳ) mùa Thu và mùa Đông. Chả là vì các môn “dễ nhằn”, “ ăn quen như cơm bữa” về Công Chánh đã bị các giáo sư thâm niên đàn anh dành hết.

Trong cái “rủi lại có cái may”, Giáo Út đã có dịp làm quen với tất cả các giáo sư thực thụ (permanent staff) của “làng Toán”, nhờ vậy mà đã xin được rất nhiều các “text books” (sách giáo khoa) cũ của họ. Mang về văn phòng chất đầy cả một góc tường. Thế là Giáo Út nhà ta đi “mộ binh” (recruit) các “mature students”: ai mà đến gặp tôi trong trường, tôi sẽ biếu cho họ một cuốn sách Toán để vừa ôn lại Toán, vừa học thêm phần “technical terms” (danh từ chuyên môn) về Toán. Đồng thời tôi sẽ cho họ biết thêm về phần “English Test”, cách thi cử ra sao…

Ngoài số sinh viên gốc Việt, còn có nhiều các sinh viên gốc Âu châu, Á Châu, Châu Mỹ La Tinh tới thăm Giáo Út nữa.

Tựu chung các sinh viên này đã chiếm được điểm thi Toán rất khá nhưng phần Anh văn thì không lấy gì “sáng sủa” cho lắm.

 Nhờ có sự tích cực giúp đỡ của phần lớn các giáo sư thực thụ không những của Phân khoa Kỹ Thuật mà các giáo sư Anh Văn của “School of English” cũng hết lòng giúp đỡ các sinh viên lớn tuổi này. Đại Học Cộng Đồng Centennial College đã mở thêm 2 môn Anh Văn nữa: English as a Second Language 1 (ESL1), English as a Second Language 2 (ESL 2) để giúp cho các sinh viên này (mature students) có căn bản về môn Anh Văn trước khi họ được ghi danh học môn English 1 (English Literature, Văn Chương Anh Ngữ) như các sinh viên Canadian khác.

Nhờ vậy mà số sinh viên không những của Phân khoa Kỹ Thuật càng ngày càng đông hơn mà số sinh viên gia nhập các Phân khoa khác cũng được tăng thêm. Và đó cũng là lý do mà toàn thể nhà trường đã không bị “thiếu funding” mà hậu quả sẽ rất là tai hại: một số các chương trình học nghề (academic programs) có thể bị đóng cửa để rồi đưa đến cái vụ “layoff” nhân viên, nhất là các giáo sư ít thâm niên nhất. Ngoài ra, cũng nhờ có ESL1 và ESL 2 mà các Trường Cao Đẳng đã đào tạo được khá nhiều các chuyên viên gốc người di dân và bản xứ luôn. Rất hữu hiệu cho sinh viên di dân tuổi đã cao (immigrant students và sinh viên bản xứ không có bằng Trung Học) tham dự 24 Đại Học Cộng Đồng của toàn tỉnh bang Ontario mà không phải học lại Trung Học ở tỉnh bang Ontario.

Trở về thập niên 1980, trong khi 60,000 người Việt Nam vượt biên, vượt biển đã được Canada đón nhận, lúc này nền kinh tế của Canada cũng không được “sáng giá” cho lắm. Hai mươi bốn Đại học Cộng Đồng (community Colleges) của toàn tỉnh bang Ontario bị thiếu hụt ngân sách. Mỗi một College phải tìm đủ mọi cách để cắt giảm phần chi tiêu: dạy ít giờ hơn trong mỗi một môn học (bằng cách giảm phần “course content” của từng môn học để số giờ giảng huấn được cắt giảm, giáo sư thực thụ (permanent professors) nào mà về hưu sớm hay bị học trò ca thán mà bị “layoff”, College sẽ không thuê giáo sư thay thế; College chỉ thuê các “Part – time professors” mà thôi (thuê theo từng học kỳ để nhà trường khỏi phải trả cho chính phủ phần “unemployment insurances” cho đỡ “hao” phần chi tiêu. Trong khi đó, các vị “admin staff” như “Dean”, SuperChair (phụ tá Khoa trưởng) phải “gánh vác” rất nhiều thứ khác và rất dễ bị nhà trường sa thải!

Có thể nói rằng các trường Cao Đẳng của tỉnh bang Ontario đã thay đổi rất nhiều trong những giai đoạn khác nhau: thập niên 1970 thừa thải tiền bạc, các vị Khoa trưởng (Dean), Chairs (phụ tá khoa trưởng), các giáo Sư toàn phần (Full time faculty), các nhân viên văn phòng đã được hưởng 10 năm lý tưởng trong ngành nghề. Giáo Út chúng tôi đã có được nhiều cơ hội để vừa học hỏi, vừa tiến thân và nhất là có cơ hội xung phong phục vụ Cộng Đồng Việt Nam cũng như Cộng Đồng Canada.

Sang đến thập niên 1980, đây là lúc mà Cộng Đồng Việt Nam mình “tăng dân số” nhiều nhất. Khoa trưởng MK, các giáo sư Trưởng Phòng và Giáo Út không những bận rộn với vụ “Restructuring/Downsizing/Recruiting” mà còn phải sáng tạo ra nhiều chương trình mới “hấp dẫn” hơn (new & practical programs) để những mong có thêm nhiều sinh viên năm thứ nhất (freshman) hơn. Gần cuối thập niên 1980, Khoa trưởng MK đã phải “đổi ngành”, một Khoa trưởng khác lên thay nhưng vẫn “nâng đỡ” Giáo Út trong phần “recruitment of mature students” như trong thời kỳ của bà MK.

Cũng bắt đầu từ năm 1985, Giáo Út đã được Centennial College mời gia nhập “Ủy Ban Tái Xét Ngành Công Chánh của Centennial College” thể theo lời đề nghị của Bộ Đại Học và Cao Đẳng (Ministry of Universities and Colleges) của tỉnh bang Ontario bổ nhiệm trong chức vụ “Advisory Board Members” (Ban Cố vấn về kỹ thuật). Nhờ vậy mà chúng tôi quen được với ông “Commissioner of Public Works of the City of Scarborough”  (Công chức cao cấp nhất của Hội Đồng Thành Phố Scarborough) và một số các nhân viên cao cấp trong ngành Công Chánh của Chính Phủ cũng như các hãng tư. Từ đó, Giáo Sư PD đã có dịp gặp gỡ và làm việc chung với vài nghị viên của TP Scarborough. Điểm son của trường Công Chánh của Centennial College: chúng tôi đã được Thành Phố Scarborough chấp nhận cho sinh viên ngành Công Chánh đi tập sự trong những “Co-op terms” (trong những học kỳ đó, sinh viên của chúng tôi chỉ đi tập sự mà thôi). May mắn thay: TP Scarborough cũng đã thuê thêm một số sinh viên ngành Công Chánh của chúng tôi sau khi họ đã ra trường.

Rồi “chuyện lớn” xẩy ra: Năm 1989, một năm sau khi thân phụ chúng tôi qua đời, trong lúc đầy “bão táp” xẩy ra, Giáo Út được Ban Giảng Huấn của College “cho lên chức” trở thành “Giáo Sư Trưởng Phòng”: vẫn phải dạy như các Giáo Sư khác tuy ít giờ hơn nhưng lại còn phải “đèo bòng” rất nhiều các trách nhiệm hành chánh khác nữa.

Khoa Trưởng mới và ông Phụ Tá Khoa Trưởng (“Super Chair”) mới đã trao cho Giáo Út một… “Mission Impossible”: “You” có trách nhiệm phải viết ra một chương trình học mới (new program) với hy vọng là chương trình này sẽ thu nhận được nhiều sinh viên năm Thứ Nhất thì phân khoa mới có thể tránh được việc sa thải giáo sư và nhân viên.

Thập niên 1970, Giáo Út có cơ hội trông coi mấy phòng thí nghiệm: mua dụng cụ, kiến tạo (design) các phòng thí nghiệm, dậy phần thực tập trong các phòng thí nghiệm, viết các văn kiện về dạy học cũng như sửa chữa phòng ốc…

Đây là thập niên “vào đời dậy học”.

Thập niên 1980, Giáo Út “lang thang” đi kiếm ăn tại “làng Toán”, gia nhập Ủy Ban Duyệt Xét Ngành Công Chánh, kèm theo nhiệm vụ “partnership” với thành phố Scarborough.

Cuối thập niên 1980, “nước thủy triều dâng cao”: “được lên chức bất đắc dĩ” và phải phối hợp 3 ngành:

Công Chánh (Prof. Phan D, Civil Technology)

Hóa Học (Prof. Graham S, Chemistry)

Sinh Vật Học (Prof. Dan M, Biology and Law)

để viết ra văn kiện về “Environmental Protection Technology”, dưới sự yểm trợ mau mắn của “Super Chair” Peter H,  Admin. Bốn người chúng tôi phải làm việc dòng dã bắt đầu vào năm 1989 và hoàn tất năm 1991.

Giáo Già đã có nhiều kinh nghiệm đi dậy và đã đóng góp khá nhiều cho Centennial College, bây giờ trong đời về hưu, mình cần làm một cái gì cho Cộng Đông VIệt Nam nhà mình chứ, Giáo Già tự nhủ.

Với những kinh nghiệm khổ cực này, năm 2013, chúng tôi bèn nẩy ra ý định viết thư xin Thành Phố Mississauga cho phép Cộng Đồng Người Việt Tự Do xây Tượng Đài Thuyền Nhân trong một miếng đất tại Mississauga.

Chúng tôi đã biết trước sẽ có rất nhiều khó khăn nhưng với những kinh nghiệm hồi còn đi dậy, Giáo Út nay đã thành Giáo Già sẽ “lâm trận” một chuyến cuối cùng: cùng với Cộng Đồng thành lập “Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam”, lập Hội Đồng Quản Trị, tổ chức các đợt quyên tiền, kiến tạo (design), xây cất (construction)…

Cộng Đồng Việt Nam chúng ta cũng đã đóng góp ít nhiều trong ngành Giáo dục cấp Trung Học, Cao Đẳng,  Đại Học tại Canada để đào tạo các chuyên viên sáng giá gốc Việt Nam trong nhiều ngành nghề khác nhau không những ở Canada mà còn ở các nước khác nữa. Cộng đồng Việt Nam chúng ta đã lớn mạnh và đây là lúc chúng ta tri ơn đất nước và người dân Canada và để nhắc nhở con cháu chúng ta trong tinh thần “uống nước nhớ nguồn” và “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”!

Đầu tháng 5 năm 2013, bẩy người bạn chúng tôi (3 người đã về hưu, 4 người còn đang đi làm) rủ nhau lên High Park xem hoa anh đào nở. Hôm đó, nắng ấm như chưa bao giờ có được như vậy. Cả buổi sáng hôm đó, người viết lăng xăng đi chụp hình. Mỏi cả cái thân già. Ba vị hưu trí già ngồi nói chuyện với nhau về cuộc đời hưu trí trong cái “xứ lạnh tình nồng”. Xế chiều hai cặp “còn trẻ/còn khỏe để còn mà đi cầy” đã tan sở sớm để đến gặp chúng tôi. Cả một buổi chiều đầy tiếng cười, tiếng nói và khoe nhau những bức hình hoa anh đào đang nở rộ tại High Park,Toronto, Canada.

Sau đó chúng tôi rủ nhau đi ăn phở. Ra về ai nấy đều mong có những ngày nắng xuân ấm cúng và vui vẻ như vậy trong tương lai.

Trong hiệu phở người viết còn gặp lại hai người bạn sau 20 năm xa cách. Ý tưởng xin miếng đất để xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân đã bắt đầu từ “cái buổi chiều hôm đó, hôm gì”.

Nghĩ tới Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam, chúng tôi cảm thấy rộn lên một niềm vui: thế hệ Thuyền Nhân đầu tiên đã có mặt tại Canada, tại các nơi khác trên thế giới trong những năm tháng khó khăn nhất. Rồi đây, Tượng Đài sẽ là một biểu tượng đẹp đẽ, đầy nghị lực đang vươn lên để cho những thế hệ gốc Việt Nam mai hậu noi theo.

Một hôm mùa thu năm 2014, Bích Nga và tôi lái xe ra “Jack Darling Memorial Park” xem phong cảnh. Hôm đó, trời có mây đen đang che phủ mặt hồ Ontario (Lake Ontario). Nhìn mây bay, lá thu đang rớt rụng, người viết lấy ngay máy hình ra thu video clips và chụp ảnh. Không quên nhờ bà vợ đứng “xa xa” làm người mẫu để cho hình và video clips có chút thi vị.

Sau khi ý định xây tượng đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã được một số bạn bè ủng hộ, người viết đã làm Video và đưa lên youtube dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=6k2YdfPaAqo
:AN AUTUMN MID-MORNING WALK IN JACK DARLING MEMORIAL PARK, MISSISSAUGA

Giáo Già có cái thú năm dài trên cái sofa những đêm khuya thanh vắng để thả hồn vào phía “bên trong” và tự đặt nhiều câu hỏi trong đầu về mình phải viết những gì trong cái văn kiện xin đất đó:

Để làm gì?

Sẽ có những ai trong cái project này?

Sẽ tốn bao nhiêu tiền và làm sao mà có được sự hỗ trợ từ cộng đồng trong cái project này?

Sẽ tốn mất bao nhiêu thì giờ để xây xong?

Sẽ phải làm những gì để có nhân lực, nhất là phần nhân lực chuyên môn như Kiến Trúc Sư, Kỹ Sư, Điêu Khắc Gia, thợ đứng ra xây cất?

Cũng đã tự đặt ra những câu hỏi cho chính mình: Làm sao quen được các nhân vật trong Hội Đồng Thành Phố như Thị Trưởng, làm sao làm quen được Nghị viên, Commissioner (Public Works, Parks-Recreations, Cultures)…, các Directors và Managers của Thành Phố?

Phần đối đáp với các nhân vật này thì người viết thấy tạm yên vì trong thập niên 1980, trường Công Chánh của Centennial College chúng tôi đã có quan hệ mật thiết với City of Scarborough qua chương trình Co-op của sinh viên Công Chánh (sinh viên của trường được gửi đi thực tập trong Co-op terms) tại Hội Đồng Thành Phố Scarborough. Ngoài ra một số sinh viên ngành Công Chánh của Centennial College đã có công ăn việc làm với City of Scarborough và các City khác. Giáo Út (hồi đó) “còn trẻ, còn khỏe” cũng đã từng gửi sinh viên đến các Hội Đồng Thành Phố như City of Scarborough, City of Toronto, City of North York, City of East Work để xin tài liệu mà sinh viên phải nộp bài cho GS PD cho các đề tài liên quan đến các tổ chức Hội Đồng Thành Phố của môn “Công Chánh Đại Cương” (Introduction of Civil Engineering Technology).

Sẽ phải đối phó với các nhân viên cao cấp của City of Mississauga như thế nào trong những buổi họp ban đầu. Tuy rằng Giáo Già đã có nhiều kinh nghiệm về “Public Speaking” trong thập niên 1980 qua những nhiệm vụ sau đây:

-Viết văn kiện cho chương trình mới cùng 2 Giáo sư trưởng phòng Hóa Học và Sinh Vật Học về “Bảo Vệ Môi Sinh”. Sau đó bộ 3 chúng tôi phải đứng ra điều trần trước “Academic Council of Centennial College” (Hội Đồng Tối Cao về chương trình giảng dậy toàn trường) gồm có rất nhiều các Giáo Sư Trưởng Phòng, các phụ tá Khoa Trưởng và các Khoa Trưởng của 89 chương trình học (programs) của Centennial College.

Trong đầu thập niên 90, trong chức vụ Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ, sau đó Chủ Tịch của Hội Phụ Huynh Học Sinh Toronto, người viết đã tham dự nhiều buổi họp liên quan đến “chống kỳ thị chủng tộc trong các sách Giáo Khoa” của Thành Phố Toronto, chúng tôi đã có dịp ngồi họp với các “Trustees” (do dân bầu ra để đại diện cho học sinh và phụ huynh của TP Toronto trên phương diện Giáo Dục), một số giáo chức, rất nhiều hiệu trưởng (principals), các đốc học (superintendents), các đại diện sắc dân da màu… Đã có dịp tham dự nhiều buổi họp rất “hot” (to tiếng và đầy căng thẳng…) Đã học được “kinh nghiệm chiến trường”: – mình hòa nhã với người thì người sẽ hòa nhã với mình, – văn viết và văn nói nên ngắn gọn và trong sáng để dễ gây thiện cảm với người “đối tác”.

Sau kỳ họp đầu tiên với nhóm đại diện của Thành Phố Niagara Falls, cá nhân tôi đã rút tỉa được những kinh nghiệm sau đây:

Muốn có được kết quả tốt mình cần phải:

Có một số hội đoàn ủng hộ việc xây TĐTN.

Có thêm nhiều thành viên của Ủy Ban Xin Đất với nhiều kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng (Việt Nam và Canada) vô vụ lợi.

Có được 1, 2 nghị viên sẵn lòng giúp đỡ Ủy Ban để kết nối với các nghị viên khác và nhất là người Thị Trưởng.

Có khái niệm là Ủy Ban sẽ gặp gỡ những ai trong Hội Đồng Thành Phố

Có đủ nhân sự với nhiều kinh nghiệm khác nhau để cùng ngồi viết văn kiện, cùng hoạch định chương trình quyên tiền để xây cất, tuyển chọn mẫu Tượng Đài, tuyển lựa Ban xây cất…

Kính mời quý vị vào đọc để Quý Vị có khái niệm về “những bước đầu khó khăn của chúng tôi”:

CÁC DIỄN TIẾN CỦA CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN TẠI THÀNH PHỐ MISSISSAUGA, CANADA

Xin hẹn gặp lại Quý Vị trong bài viết sắp tới.

Đàm Trung Phán

GS Công Chánh hồi hưu.

Mississauga

Tháng 5, 2020

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s