Nguyễn Bảo Hưng – Đi tìm thời gian đã mất … (phần  chót)                                                         

     Cảm xúc mở đường cho tìm kiếm sáng tạo (*)  

         Ngay trong phần đầu bài viết, tôi có giới thiệu đoạn văn ” Vị bánh madeleine và hai loại ký ức” trong tập một mang tựa đề “Du côté de chez Swann” như là bảng chỉ dẫn giúp ta biết đường xâm nhập hang động văn học Proust. Nhưng còn đoạn văn thứ hai quan trọng không kém, nhưng lại đặt ở mãi phần cuối của tập chót với tựa đề “Le temps retrouvé” . Dầu vậy ta không thể nào bỏ qua nếu muốn nắm được ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm của Proust.  Nói khác đi, để diễn tả văn vẻ theo lối lẩy kiều, đoạn văn về miếng bánh madeleine mới chi cho ta biết chỗ để buông tay mở khóa động đào, còn đoạn văn sau đây mới bày ta biết cách rẽ mây soi tỏ lối vào thiên thai 

,         Đoạn văn này trải dài trên gần ba chục trang ( từ “Je descendis de nouveau… avaient nourri la graine et permis sa maturation.” M. Proust : Le temps retrouvé –  Coll. Bouquins. Vol. 3, p.701-728), thuật lại bữa Proust tới dự buổi trình tấu nhạc tại tư dinh nữ quận chúa Guermantes, nhưng lại với tâm trạng buồn nản vì không kiếm ra được lời lẽ để nói lên vẻ đẹp của miền quê nước Pháp mà Proust đã có lần được chiêm ngưỡng. Trong lúc mải đắm chìm trong các ý tưởng bi quan, Proust giật mình lùi tránh khi nghe tiếng la của một người phu xe xe ngựa. Tới khi định thần, Proust bỗng nghe toàn thân dâng lên một niềm hoan lạc và nhận ra mình đang ở thế đứng khập khiễng vì hai chân vừa đặt trên hai phiến đá lát không đều. Cảm xúc này, Proust nghe như y niềm hoan lạc trước đây khi vừa nhấp vào miếng bánh madeleine tẩm trà. Thế là, bất chấp những tiếng cười giễu cợt của đám phu xe gần đấy, Proust lập đi lập lại thế đứng nhiều lần, cố làm sống lại cảm xúc hoan lạc vừa bắt gặp. Nhưng càng lập lại thế đứng để tìm kiếm, Proust càng cảm thấy vô vọng. Tới khi chấp nhận buông xuôi toan tính của mình, Proust lại thấy cảm xúc bất chợt hiện về : Thì ra đây chính là cảm xúc trước đây khi đặt chân trên hai thềm đá mấp mô trước cửa nhà giải tội của thánh đường Saint Marc. Và rồi, cùng với cảm xúc này, cả một không khí đày ắp kỷ niệm của chuyến viếng thăm lần đầu Venise ào ào kéo về làm thức dậy nơi Proust niềm hoan lạc y như khi vừa nhấp vào miếng bánh tẩm trà. Nhưng giữa Venise và Combray, giữa thế đứng khập khiễng và mùi vị bánh madeleine, trong những hoàn cảnh thời gian và không gian khác nhau, sao Proust vẫn tìm lại được cùng một niềm hoan lạc?

        Trong lúc phải ngồi ở phòng đợi tại nhà quận chúa Guermantes để chờ khúc nhạc đang chơi dở chấm dứt, Proust tiếp tục suy tư tìm hiểu về điều mà Proust gọi là “sự bí ẩn của hạnh phúc  (l’énigme du bonheur). Đã bao lần nhìn ngắm ngắm những tấm hình chjup kỷ niệm về Combray, về Balbec, về Venise, thậm chí có khi còn trở lại thăm mấy chốn này, mà sao Proust vẫn chỉ gặp toàn những cảm xúc ước lệ mỗi lúc một xói mòn? Tâm thức này khác hẳn với cảm xúc chứa chan hoan lạc của buổi viếng thăm Venise lần đầu. Thắc mắc này của Proust khiến ta không khỏi liên tưởng tới điều ta vẫn cho là kỷ niệm đẹp nhất của ta về Venise… Bữa đó, cùng với đám du khách trong đoàn, cái iphone loại xịn G5 mới ra lò, ta lăng xăng cố lấy bằng được một vài thắng cảnh, một vài di tích lừng danh đồn đại,  rồi ta còn đứng ra nhờ người khác chụp dùm, khi thì khuỳnh tay ưỡn ngực, lúc lại cặm mắt xa xăm như tưởng nhớ người yêu hay buồn trông quê mẹ. Rồi tới chỗ được mệnh danh là “Cây cầu có tiếng thở dài” (le Pont du soupir), ta lại dỏng tai lắng nghe lời dãn giải của người hướng dẫn du lịch về sự tích cây cầu : Cây cầu ngắn này nối liền khám đường với phòng tuyên án của Hội đồng thành phố Venise (le Conseil des Doges). Mỗi lần được giải tới cây cầu, phạm nhân đều buông một tiếng thở dài, vì rất có thể đây làn chót họ còn được thấy quang cảnh Venise. Những lời dẫn giải này ta cố ghi từng chi tiết. Cũng như mấy tấm hình kỷ niệm, chúng sẽ là mẩu chuyện hấp dẫn để ta lôi ra kể mỗi lần có khách tới thăm. Và mỗi lần, ta lại hoan hỉ khi thấy trong mắt họ ánh lên một sự ham muốn xen lẫn một niềm thán phục rằng ta con người hải hồ lịch lãm, đi xa, trông rộng, hiểu biết nhiều. Thế rồi, với thời gian, niềm thích thú của ta về chuyến viếng thăm Venise dần dà chỉ được đóng khung trong mấy tấm hình đó, mấy mẩu chuyện đó. Phải chăng chỉ có những thứ ấy mới làm nên điều đáng ghi nhớ của ta về Venise? Hay biết đâu kỷ niệm dẹp thực sự củq tq về Venise có thể sẽ chẳng bao giờ ta được gặp lại nếu như bữa nay không có trận gió tình cờ ấy, khua động tiến lá rào rào làm sống dậy trong ta một niềm hân hoan sảng khoái lạ thường. Niềm hân hoan do đâu mà ra? Chẳng lẽ chỉ nhờ có mấy tiếng lá reo đó sao?…  A! ta nhớ ra rồi. Niềm hân hoan vừa chợt thức giấc trong ta, chính là tâm trạng lâng lâng sảng khoái cái bữa ta được thảnh thơi tản bộ trên quảng trường Saint Marc.

        Lúc ấy khoảng sáu giờ chiều.  Sau một ngày tất bật hết đi thăm chỗ này, đến viếng chỗ nọ theo sự điều động của hướng dẫn viên du lịch, đây ;ới là khoảnh khắc nghỉ xả hơi để tâm hồn ta được buông thả theo nhịp bước chân phiêu bồng lơ đãng. Bóng chiều bắt đầu tô đậm lòng quang trường và các dãy nhà bao quanh càng làm nổi bật ánh vàng chói chang của những tia nắng còn đọng lại trên các vòm cung điện, trên đỉnh tháp chuông thánh đường. Trong hơi gió thoảng mùi bùn kinh lạch, tiếng ngân lanh lảnh ” O sole mio…” của ai đó gợi trong ta hình ảnh bác lái đò duyên dáng trong bộ trang phục truyền thống đang nghiêng mình trên chiếc thuyền thon thon mũi nhọn mang vẻ đẹp muôn thuở Venise. Giữa những tiếng cười nói lao xao của bày đoàn du khách, vài nốt nhạc thánh thót từ quán cà phê vọng ra như muốn giót vào tai ta. Cùng lúc mùi thơm của bánh pizza nóng hổi lại đeo đuỏi khứu giác ta khiến bước chân của ta vô tình khua động làm bày chim cu hốt hoảng vụt rào rào cất cánh bay cao… Thì ra niềm hân hoan sảng khoái ấy chính là  bản giao hưởng của bản giao hưởng dấy lên từ những cảm xúc mới lạ qua thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác đang thấm vào ta khiến ta  như đang lạc bước vào một cảnh tiên bồng. Bản giao hưởng của những cảm xúc thuộc về đời sống chân chất ấy, ta thưởng thức được là nhờ vào khoảnh khắc đó : cái khoảnh khắc ta ung dung tản bộ, đầu óc hết bị ám ảnh bởi những tấm hình quảng cáo du lịch, tâm hồn ta không còn bận bịu vướng mắc bởi những lời dặn dò của người thân, bạn bè : nào là phải chụp lấy cảnh này, nào là phải nhớ mua thứ nọ.

        Phải chỉ có khoảnh khắc ta chợt quên rằng mình là một du khách mới chính là lúc ta thực sự được sống giao cảm với đất trời, với con người, với đời sống Venise… Nhưng tiếc thay, giây phút của những cảm xúc thần tiên ấy lại hiện lên bất chợt và quá ngắn ngủi, ta chưa kịp nhâm nhi thưởng thức, đã nghe tiếng thúc giục lên xe. Tiếp đến nào là bữa ăn tối, nào là những lo toan thực dụng, những chuẩn bị cho chuyến thăm viếng ngày mai, khiến cảm xúc hân hoan sảng khoái ấy đã tức thì bị lấn át, bị dồn ép để mỗi lúc thêm bị vùi sâu trong tiềm thức. Và rồi, cũng như nàng công chúa trong câu chuyện cổ tích sẽ không bao giờ thức giấc nếu không có nụ hôn của chàng hoàng tử, cái đáng lẽ phải coi là kỷ niệm đẹp nhất của ta về Venise – cái cảm xúc tuyệt vời ấy – có lẽ chẳng bao giờ ta tìm lại dược, nếu như bữa nay không có mấy tiếng lá reo rào rào tựa tiếng bầy chim cu vụt cất cánh. Bởi vậy Proust mới cho rằng chỉ đáng gọi kỷ niệm ” cái bị nhận chìm trong quên lãng và tưởng như đã đứt mọi liên hệ với hiện tại, (…) chợt làm ta có cảm giác  vừa được thở hít một làn không khí mới, thực ra chỉ là cái không khí ta đã từng được hít hà một thời xa xưa, nhưng nay ta thấy nó trong lành hơn, y như cái không khí các nhà thơ vẫn cho là chỉ tìm thấy ở Thiên đường nên không sao kiếm nổi lời diễn tả; vậy mà cái không khí vùa làm ta có được cảm giác mới lạ sâu xa ấy, lại chính la cái không khí đã có lầdn ta thở hít rồi, bởi vì chỉ những thiên đường (NBH gạch chú) bị ta đánh mất mới là thiên đường có thật.” (Oui, si le souvenir, grâce à l’oubli, n’a pu contacter aucun lien, jeter aucun chaînon entre lui et la minute présente, (…) il nous fait tout à coup respirer un air nouveau, précisément parce que c’est un air qu’on a respiré autrefois, cet air plus pur que les poètes ont vainement essayé de faire régner dans le Paradis et qui ne pourrait donner cette sensation profonde de renouvellement que s’il avait été respiré déjà, car les vrais paradis sont les paradis qu’ on a perdus. (Sđd, tr. 706).

        Sáng tạo nghệ thuật để tìm lại niềm vui hạnh phúc cội nguồn (*)

        Vậy là Thiên đường, với Proust, không phải là một khái niệm trừu tượng mơ hồ biểu tượng cho cõi toàn thiện toàn bích mà ta tưởng chỉ có trong giấc mơ nên mấy ông nhà văn, nhà thơ mới chọn làm đối tượng để tha hồ mà vò đầu, bóp trán tìm lời ca tụng, và để cho mấy tay đầu nậu chính trị nhân danh nó hô hào cổ võ đấu tranh thực hiện, nhưng thực chất kết quả lại chỉ xô đẩy con người vào những lò sát sinh không lồ. Nhưng nếu không có cái Thiên đường toàn thiện toàn bích ấy trên cõi thế gian này thì, trái lại, vẫn có những khoảnh khắc thiên đường : đó là những khoảnh khắc của những cảm xúc thần tiên chỉ có thể cảm nhận được bởi con người tinh khôi nơi mỗi chúng ta, khác hẳn con người của những toan tính thực dụng hàng ngày.  Đó là con người nguyên thủy còn bảo toàn được cái chân chất của đời sống trung thực nên mới biết cảm thụ cái tinh thể của vạn vật (l’essence des choses, chữ của Proust) vốn là nguồn hạnh phúc trong sáng vô biên như ta vẫn thấy toát ra từ ánh mắt, từ tiếng cười nắc nẻ hồn nhiên của trẻ thơ trong giai đoạn đầu đời. Nhưng tiếc thay con người nguyên thủy đó, con người có những giây phút bắt gặp được cái thần của đời sống mà Proust gọi là hữu thể ngoại thời gian (l’être extra-temporel), lại thường bị con người xã hội vị lợi chèn ép, vùi lấp đi. Và chỉ những giây phút buông thả nhất, khi mà đời sống tâm linh vô tình được giải phóng khỏi sự kiềm tỏa của trí tuệ, chỉ những khi ấy ta mới tìm thấy lại, được sống lại những khoảnh khắc thiên đường đánh mất. Đó là điều mà Proust đã nhận thức : “Cái hữu thể đó chỉ đến với tôi, chỉ hiện ra bên lề hành động, bên cạnh sự hưởng thụ tức thời, mỗi khi nhờ phép lạ của một sự tương ứng tôi thoát ly được hiện tại. Chỉ có hữu thể đó mới có quyền lực giúp tôi tìm lại được những ngày tháng cũ, cái thời gian đã mất, là những thứ mà mọi nỗ lực tìm kiếm bằng trí nhớ và trí tuệ đều vô ích.” (Cet être-là n’était jamais venu à moi, ne s’était jamais manifesté qu’en dehors de l’action, de la jouissance immédiate, chaque fois que le miracle d’une analogie m’avait fait échapper au présent. Seul, il avait le pouvoir de me faire retrouver les jours anciens, le temps perdu, devant quoi les efforts de ma mémoire et de mon intelligence échouaient toujours. Sdd, tr. 706)

        Nhưng cái hữu thể đó lại chỉ hiện lên bất chợt, mong manh chập chờn, làm sao, làm sao để níu kéo, giữ nó lại? Cố suy ngẫm để tìm hiểu, Proust đã phát hiện được điều này : Đó là, “tựu trung, trong mỗi trường hợp tương tự, các cảm giác (impressions) như khi tôi  nhìn thấy gác chuông nhà thờ của Martinville, hay các hoài niệm (reminiscences) như khi đứng trên hai phiến đá lát không đều hay mùi vị miếng bánh madeleine, chúng đều là tín hiệu của những định luật (lois), những ý niệm (idées) ta phải tìm cách diễn giải (interpreter), nghĩa là làm sao lôi được chúng từ vùng tăm tối ra ánh sáng để có thể diễn thành ý, nói lên thành lời. Có lẽ chỉ bằng cách ấy, là làm sao phô diễn được lên giấy trắng những gì ta còn cảm nhận mơ hồ, ta mới mong biến chúng thành trường cửu. Để thực hiện điều này, liệu có phương thức nào hữu hiệu hơn là làm ra một tác phẩm nghệ thuật?” *(En somme, dans un cas comme  dans l’autre, qu’il s’agit d’impressions comme celle que m’avait donnée la vue des clochers de Martinville, ou de réminiscence comme celle de l’inégalité des deux marches ou le gout de la madeleine, il fallait tâcher d’interpréter comme les signes d’autant de lois et d’idées, en essayant de penser, c’est-à-dire de faire sortir de la pénombre ce que j’avais senti, de le convertir en un équivalent spirituel. Or ce moyen qui me paraissait le seul, qu’ était-ce autre chose que faire une oeuvre d’art?   Sđd, tr. 712

        Tuy nhiên theo Proust, muốn làm nên một tác phẩm nghệ thuật ta phải coi như thi hành một nhiệm vụ thiêng liêng : đó là làm sao nói lên được cái thực, cái đẹp của đời sống tâm linh. Và ông đã xác định điều được ông coi là thiên chức nhà văn (vocation littéraire) của mình như sau : ” Thế là tôi đi đến kết luận rằng chúng ta không hề được tự do trước tác phẩm nghệ thuật, chúng ta không thể  thực hiện nó tùy tiện : bởi lẽ tác phẩm tồn tại trước ta, nhưng lại bị cất dấu nên mới trở thành tất yếu, nên ta mới phải phát hiện nó, cũng như ta phải phát hiện một định luật tự nhiên vậy. Vả lại, xét cho cùng, sự phát hiện này, nhờ vào nghệ thuật, phải chăng chính là sự phát hiện ra điều đáng được coi là quý giá nhất đối với ta, nhưng lại bị những thói quen hàng ngày làm nó trở thành xa lạ; vậy mà điều quý giá nhưng xa lạ ấy lại chính là đời sống thực sự của ta, là cái hiện thực như ta đã được sống bằng cảm nhận và hoàn toàn khác biệt với cái hiện thực theo tưởng tượng, nên mỗi lần sự tình cờ đem đến kỷ niệm thực sự, ta mới thấy trào dâng một niềm hoan lạc vô biên? (Ainsi j’étais arrivé à cette conclusion que nous ne sommes nullement libres devant l’oeuvre d’art, que nous ne la faisons pas à notre gré, mais que, préexistant à nous, nous devons, à la fois parce qu’elle nécessaire et cachée, et comme nous la ferions pour une loi de la nature, la découvrir. Mais cette découverte que l’art pouvait nous faire faire, n’était-elle pas au fond, celle de ce qui devrait nous être plus précieux, et qui nous reste d’habitude à jamais inconnu, notre vraie vie, la réalité telle que nous l’avons sentie et qui diffère tellement de ce que nous croyons que nous sommes emplis d’un tel bonheur quand un hasard nous apporte le souvenir véritable?  Sdd, tr.714) 

        Vậy là, với Proust, sáng tạo nghệ thuật không thể là sản phẩm thuần hư cấu. Sáng tạo không phải đi là đi tìm thoát ly bằng tưởng tượng, là thêu dệt vẽ vời, tìm cách đánh bóng cái thực tại nhấp nhúa sần sùi để giúp ta được tìm quên trong chốc lát. Sáng tạo không phải là sáng tác hay phóng tác, muốn phịa ra sao thì phịa. Nó không đơn giản như thuật lại câu chuyện nằm mơ thấy tiên và được cô nàng quì xuống để hiến dâng hai trái đào thơm. Sáng tạo như một công trình nghệ thuật, theo Proust, trước hết phải là thành quả của một phiêu lưu mạo hiểm, một khổ công tìm tòi nhằm đưa ra một cái nhìn khai phá và nói lên được hiện thực mang tính chất qui luật của đời sống tâm linh. Nói khác đi, hành động sáng tạo của nhà văn cũng tương đương với với hành động chứng minh một định luật vật lý với nhà khoa học. Duy có điều khác biệt : do không cùng chung lãnh vực và đối tượng nghiên cứu nên công cụ làm việc và phương pháp làm việc của nhà văn và nhà khoa học cũng phải khác. Đối tượng nghiên cứu của khoa học là thế giới tự nhiên nên nhà khoa học phải vận dụng óc quan sát và trí tuệ trước, sau đó mới cần thực nghiệm để kiểm chứng tính xác thực các giả thuyết khoa học của mình. Trái lại, đối tượng tìm hiểu của nhà văn lại thuộc về đời sống tâm linh nên nhà văn phải dựa vào cảm giác như là công cụ để tìm cách nắm bắt được cái thực ở đời. Cảm giác chính là tín hiệu báo động cho ta về sự tồn tại của một kho tàng ẩn dấu trong ta mà ta không có ngờ. Bởi vậy Proust mới cho rằng “cảm giác đối với nhà văn cũng như sự thể nghiệm đối với nhà bác học, duy chỉ có điều khác biệt là nhà bác học phải vận dụng trí tuệ trước rồi mới qua thử nghiệm, còn nhà văn lại chỉ về sau mới cần tới trí tuệ” (để tìm cách lý giải cảm giác – NBH). “L’impression est pour l’écrivain ce qu’est l’expérimentation pour le savant, avec cette différence que chez le savant le travail de l’intelligence précède et chez l’écrivain vient après” Sdd, tr. 713). Và ông đã dành những năm còn lại cuối đời để suy ngẫm và tìm giải đáp cho điều mà ông gọi là “sự bí ẩn của hạnh phúc” qua tín hiệu của cảm giác. Nhờ vậy tác phẩm “A la recherche du temps perdu” mới ra đời.

        Ta có thể  coi “A la recherche…” trước hết là một hành trình ngược thời gian : Cái thời gian của cuộc đời ảo ảnh, và cũng là thời gian mang chất cường toan tẩy sạch được dấu vết những mặt nạ mà mỗi chúng ta đề có lúc đeo để thủ vai nhân vật trong những tấn tuồng đời. Phải nói hành trình này là một hành động phiêu lưu đầy gian nan thử thách. Và cũng phải có quyết tâm lắm, phải tha thiết với cuộc sống chân thật lắm mới mong vượt thắng được mọi trở ngại để đặt chân lên bến bờ. Nơi đây ông trút bỏ được cái lốt của con người xã hội bon chen vị kỷ, nơi đây ông tháo gỡ được tấm mặt nạ của con người muôn mặt cuộc đời. Bởi vậy ta có thể nói, với Proust, “Đi tìm thời gian đã mất”, chính là đi tìm cái “tôi”. Và rồi, cũng như Ulysse, trong thiên trường ca Homère, cuối cùng được lãnh phần thưởng là tái hợp với người vợ trung trinh Pénélope sau khi vượt thắng không biết bao chặng đường gian nan khổ ải, Proust nhờ cũng được đặt hân lên bến bờ mà phát hiện ra con đường sáng tạo nghệ thuật để hoàn thành thiên chức nhà văn của mình. Thiên chức nhà văn ấy, ông đã thổ lộ với ta trong đoạn văn dưới đây : ” Trái với thứ nghệ thuật mà ông de Norpois cho là một trò chơi (chữ nghĩa – NBH) của văn nhân tài tử, tính cao cả của nghệ thuật đích thực chính là tìm thấy lại, nắm bắt lại, là giúp ta nhận biết được cái hiện thực mà hàng ngày ta vẫn sống xa nó, mà hàng ngày ta lại thêm lảng tránh nó để mỗi lúc đem thế vào chỗ nó cái hiểu biết ước lệ ngày càng tăng phần kín bưng dày đặc; vậy mà cái hiện thực ấy rất có thể mãn đời ta không hay biết lại là một điều hết sức đơn giản, ấy là cuộc đời của chính ta. Đó mới là cuộc đời đích thực, cuộc đời duy nhất ta thực sự sống, mà cuối cùng ta có thể phát hiện và soi tỏ được ấy là nhờ văn chương. Cái cuộc đời ấy, tựu trung mà nói, đều trú ngụ từng khoảnh khắc nơi mọi người, cũng như nơi nhà nghệ sĩ. Nhưng người đời lại không thấy nó, vì họ không tìm cách soi tỏ nó. Bởi vậy quá khứ với họ chỉ là nơi chất chứa vô số sự kiện bị coi là vô bổ nên không thèm dùng ánh sáng trí tuệ để soi tỏ, chẳng khác chi những tấm hình chụp không được đem “ra rửa”. (La grandeur de l’art véritable au contraire, de celui que M. de Norpois eut appelé un jeu de dilettante, c’était de retrouver, de ressaisir, de nous faire connaître la réalité loin de laquelle nous vivons, de la quelle nous nous écartons de plus en plus au fur et à mesure que prend plus d’épaisseur et d’imperméabilité la connaissance conventionnelle que nous lui substituons, cette réalité nous risquerions fort de mourir sans avoir connue, et qui est tout simplement notre vie. La vraie vie, la vie enfin découverte et éclaircie, la seule vie par conséquent réellement vécue, c’est la littérature. Cette vie en un sens, habite à chaque instant chez tous les hommes que chez l’artiste. Mais ils ne la voient pas, parce qu’il ne cherchent pas à l’éclaircir. Et ainsi leur passé est encombré d’innombrables clichés qui restent inutiles parce que l’intelligence ne les a pas “développés”  – Sdd, tr. 725)

        Bí quyết thành công cũng như ý nghĩa và giá trị của bộ “A la recherche du temps perdu”khiến nó được xếp vào hàng di sản văn hóa thê giới, có lẽ là ở chỗ đó. Ấy là nhờ Proust đã chịu khó mầy mò cặm cụi để tìm cách “rửa hình : Từ cảm xúc do một vài sự kiện nhỏ nhoi tầm thường như mùi vị bành madeleine tẩm trà hay thế đứng khập khiễng giữa hai phiến đá lát không đều, mà người đời sẵn sàng đem giục bỏ vào kho phế thải của đời sống tâm linh, Proust lại đem kính hiển vi ra soi rọi và dùng ánh sáng của trí tuệ để tìm ra giải đáp cho điều mà ông gọi là “sự bí ẩn của hạnh phúc” (l’énigme du bonheur). Và chìa khóa giúp ông giải mã dược sư bí ẩn này, ấy là nhờ ông đã chịu khó dành thời gian và bỏ công tìm kiếm để phân định được sự khác biệt giữa hai loại ký ức : lưu ức hay trí nhớ (mémoire volontaire) và hồi ức (mémoire affective). Trí nhớ hay lưu ức chỉ giúp ta gợi lại những hình ảnh về một kỷ niệm mà ta muốn ghi nhớ để thuật lại, hoặc dùng lời lẽ văn chương để ca tụng. Còn hồi ức, và chỉ có hồi ức (memoire affective) mới giúp ta cảm thấy sống dậy toàn bộ cảm xúc nơi một thân xác được hòa nhập với một cõi sống thế gian. Chìa khóa giải mã này là thành quả của một khổ công tìm kiếm mà ông đã phải dành gần hai mươi năm để nghiền ngẫm hiện thực. Và phải chăng đó chính là yếu tố đem lại giá trị văn học quốc tế của bộ truyện “A la recherche du temps perdu” ?

                                                                      Đọc lại để viết lại xong ngày 30-6-2020

                                         Nguyễn Bảo Hưng

—————————————————————————————————

Tài liệu tham khảo :

 –  Marcel PROUST :  A la recherche du temps perdu, (3 volumes) Bibliothèque de la Pléiade   Edit. Gallimard 1967 

 –  Marcel PROUST :  A la recherche du temps perdu (3 volumes), Collections Bouquins – Robert Laffont 1987

 – Claude Mauriac    : Marcel Proust par lui-même, Coll. Ecrivains de toujours – Éditions du Seuil 1954 

 –  Bernard Gros        : De “Swann” au “Temps retrouvé”, Coll. Profil d’une oeuvre – 1986

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s