Nguyễn Bảo Hưng – Đi tìm thời gian đã mất … (3)                                            

Marcel Proust

     Khả năng giới hạn của trí tuệ trong tìm tòi sáng tạo (*) 

         Đoạn văn vừa được dẫn trên có thể được coi là một trong những đoạn văn quan trọng nhất của ” A la recherche du temps perdu”, đặc biệt với câu: “C’ est peine perdue que nous cherchions à évoquer ce passé, tous les efforts de notre intelligence sont inutiles”, vì nó cho thấy, với Proust, trí tuệ tự nó không đủ khả năng khai quật dĩ vãng, mà phải nhờ vào cảm xúc do tình cờ đem đến . Vì thế, đoạn văn lẽ ra  phải được dùng làm phần mở đầu cho trích đoạn nói về mùi vị miếng bánh madeleine tẩm trà mới đúng.

Vậy mà các sách giáo khoa trung học lại không chịu dành cho nó vị thế ưu đãi này. Lý do tưởng cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì không thể chỉ dành một buổi học để giúp cho học sinh tiếp thu được ý nghĩa và vai trò của câu văn này trong toàn bộ tác phẩm. Để giải thích tại sao Proust lại cho rằng trí tuệ (intelligence) không có khả năng làm thức dậy cả một khung trời kỷ niệm, ta cần phải liên kết câu văn trong đoạn văn dưới đây,  mà lại nằm ở tập bảy Le temps retrouvé , tức là phần chót của tác phẩm : ” Les idées formées par l’intelligence pure n’ont qu’une vérité logique, une vérité possible, leur sélection est arbitraire… Non que ces idées que nous formons ne puissent être justes logiquement, mais nous ne savons pas si elles sont vraies. ” M. Proust : Le temps retrouvé – Coll. Bouquins vol.3 p713.

(Những ý tưởng thuần trí tuệ chỉ đem lại một sự thật hợp lý theo luận lý, một sự thật khả hữu, vì sự lọc  lựa các ý tưởng ấy đều có tính võ đoán… Không phải vì các ý tưởng của ta không đúng theo luận lý, nhưng ta không thể biết chúng có thật hay không.) Nhìn vào toàn bộ tác phẩm ngót nghét ba ngàn trang với những câu có khi dài tới gần trang giấy, người đọc có thể nghĩ Marcel Proust thuộc loại nhà văn ba hoa chích chòe, thích múa bút câu dài câu giờ, câu dòng để câu tiền theo loại truyện kể feuilleton. Nhưng có chịu khó để ý cách ông sử dụng từ với cân nhắc chọn lọc, ta mới thấy M. Proust là nhà văn có ý thức chức nghiệp như thế nào. Có thể nói hai câu văn vừa được nêu trên thuộc loại những câu văn ngắn gọn và sáng sủa nhất của ông. Nhưng dù có ngắn gọn và sáng sủa, ý tưởng lại cô đọng nội dung lại súc tích nên ta cũng cần một vài giải thích để làm rõ nghĩa.

     Điều cần làm sáng tỏ ở đây là thế nào là đúng theo luận lý (justes logiquement), thế nào là thật (vraies). Tại sao có những ý tưởng có thể đúng mà lại không thật? Đúng là khi các ý tưởng, các dữ kiện được lọc sắp xếp sao cho đáp ứng được đòi hỏi hợp tình hợp lý của trí tuệ. Tuy nhiên cái hiện thực trình bày như thế có được coi là đúng theo trí tuệ, lại chưa hẳn đã là thật vì chắc gì nó đã phản ánh đúng sự thật ở đời. Để nắm cụ thể hơn sự khác biệt giữa cái đúng và cái thật, đề nghị ta hãy tới dự phiên chót của một vụ án hình sự. Mở đầu là bản cáo trạng của ông biện lý. Qua những bằng chứng, dữ kiện nêu ra rồi được ông biện lý phân tích lý giải trước khi kết luận, ta không khỏi nghĩ thầm bị cáo đúng là có tội và sẽ khó tránh khỏi hình phạt tối đa. Rồi tới phiên luật sư đứng ra bào chữa. Ông ta lấy lại các dữ kiện của ông biện lý nhưng lại trình bày dưới góc cạnh khác, đôi khi còn chưng thêm một vài dữ kiện rồi, bằng lời lẽ hùng hồn, ông ta bác bỏ từng điểm một các luận cứ của ông biện lý. Thế là ông luật sư làm ta phân vân tự hỏi chắc gị bị cáo đã có tội. Rút cục ta đâm hoang mang không biết đâu là sự thật. Ta hoang mang cũng phải vì cả ông biện lý lẫn ông luật sư đều là những nhân vật rành rẽ luật pháp, dồi dào kinh nghiệm nên biết vận dụng trí tuệ để lọc lựa và bố trí các dữ kiện sao cho gợi lên hình ảnh về bị cáo phù hợp với nhiệm vụ họ được giao phó :  hình ảnh một tội phạm với ông biện lý, hình ảnh một bị can vô tội với ông luật sư bào chữa.

      Nhưng các dữ kiện được họ lọc lựa với lý lẽ đi kèm đều mang tính chất chủ quan độc đoán (leur sélection est arbitraire , chữ của Proust), nên không giúp ta nhìn ra sự thật ra sao. Bởi vậy, dẫu có thông minh tài giỏi và hiểu biết nhiều, mấy vị này chỉ có tài nói đúng hơn là nói thật. (cũng như một vài chính khách con buôn chính trị hay mấy ông nhà văn, nhà báo chuyên nghề nói láo ăn tiền). Khổ một nỗi luật pháp không đóng vai trọng tài để phân định kẻ thắng người thua trong một cuộc trổ tài đấu lý. Luật pháp có sứ mạng thi hành công lý nên chỉ muốn biết sự thật để phân sử công minh, mà sự thật ở đời lại có nhiều uẩn khúc éo le không dễ gì ánh sáng trí tuệ soi rọi được tôi nói tới chốn. Bởi vậy, trong những vụ án quan trọng liên quan đến sinh mệnh một con người, luật pháp thường nhờ cậy đến ánh đèn soi sáng của lương tri nhiều hơn : Thay vì là một chánh án, quyền phán quyết tối hậu lại được trao cho một bồi thẩm đoàn dân sự. Luật pháp đặt niềm tin nơi bồi thẩm đoàn và kỳ vọng nhiều nơi họ vì hai lẽ : một là, bồi thẩm đoàn phải được tuyển trong số công dân lương thiện bình thường ( mà đã là công dân lương thiện thì con tim chân chính ắt là không biết nói dối); hai là, cho dù kiến thức hạn hẹp, các bồi thẩm viên với con mắt của lương tri và sự nhạy cảm của con tim chân chính thường có khả năng len lỏi được vào ngõ ngách tâm hồn nhiều hơn. Nhờ vậy, họ hiểu được đúng động cơ hành động của con người trong những trạng huống éo le hơn là lý trí. Sự kiện này, triết gia Blaise Pascal, còn được coi là thần đồng về toán học và vật lý học (tức là có thừa khả năng lý luận chính xác trong tinh thần tìm hiểu khoa học khách quan hơn ai hết), cũng phải thừa nhận trong câu nói để đời : ” Con tim có những lý lẽ của nó mà lý trí không sao biết được” ( Le coeur a ses raisons que la raison ne connaît pas. – B. Pascal – Les Pensées). Chắc cũng cảm nhận được điều này nên các cụ nhà ta mới có lời khuyên bảo : Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.  Trẻ đây là trẻ thơ, trẻ nít chứ không phải mấy cậu trẻ đã lơ thơ vài cọng râu cầm hay mấy cô trẻ ở tuổi đang độ trổ bông (des jeunes filles en fleurs, chữ của Proust) đó nghen, bà con.

     Proust với các lý thuyết văn học (*)

      Nếu về mặt công lý, Tòa án không mấy tin tưởng vào lý trí để thi hành Công lý như thế nào, thì về mặt sáng tạo văn học nghệ thuật, Proust cũng dè dặt đối với trí tuệ trong nỗ lực tìm tòi để nói lên cái thật chừng nấy. Qua kinh nghiệm tiếp xúc với xã hội thượng lưu trưởng giả, Proust cảm nhận được rằng những gì phơi bày sờ sờ trước mắt ta và ta cứ tưởng là thật, lại thường là cái thực ảo vì nó chỉ cho ta những biểu hiện của hình thức, của cái vỏ ngoài. Như nhân vật thời thượng Legrandin, như tình yêu ảo ảnh một thời của Swann với Odette, hay như mọi tấn tuồng đời với những màn dàn dựng ảo thuật của nó. Trái lại, chính cảm giác bất chợt của mùi vị bánh madeleine làm khơi dậy được cả khung trời niên thiếu của Proust mới là cái thực, vì nó bảo toàn được cho ta một niềm hoan lạc vĩnh hằng. Bởi vậy Proust mới cho rằng ” Dù cho thể chất có èo uột, dù cho dấu vết có chập chờn, cảm giác vẫn là tiêu chí của cái thật, và vì thế chỉ có cảm giác mới đáng cho tâm trí tìm cách nắm bắt để làm toát ra được cái chân lý ẩn náu trong đó. và chính nhờ vậy mà chỉ có cảm giác mới làm tâm trí ta được hoàn thiện và đem lại cho ta một niềm vui thanh khiết” ( Seule l’impression si chétive qu’ en semble la matière, si insaisissable la trace est un critérium de vérité, et à cause de cela mérite seule d’être appréhendée par l’esprit car elle est seule capable, s’il sait en dégager la vérité, de l’amener à une plus grande

perfection et de lui donner une pure joie.”  Sdd. tr. 713) Từ đó Proust rút ra hai hệ luận : ” Cái gì ta không phải giải đoán, ta không phải mất công làm cho sáng tỏ, cái gì đã được tỏ tường trước ta, đều không phải của ta. Chỉ đến từ nơi ta những gì ta lôi ra từ bóng tối ở nơi ta mà người ngoài không biết được.” ( Ce que nous n’avons pas eu à déchiffrer, à éclaircir par notre effort personnel, ce qui est clair avant nous, n’est pas à nous. Ne vient de nous-même que ce que nous tirons de l’obscurité en nous et que ne connaissent pas les autres”. Sdd, tr.713 ). 

     Ta có thể nói hai ý tưởng then chốt này ( chỉ có cảm giác mới là tiêu chí của cái thật, cái gì đã tỏ tường trước ta đều không phải là của ta) chính là hai điều tâm niệm trong nỗ lực tìm tòi sáng tạo của Proust, đồng thời chúng cũng giải thích tại sao Proust ít có chịu dựa dẫm vào các lý thuyết văn học. Ám chỉ tới các cuộc tranh luận liên quan đến vai trò văn học đối với vấn đề thời sự lúc bấy giờ ( vụ án đại úy Dreyfus gốc do thái, bị cáo oan là; gián điệp cho Đức), ông phát biểu : ” Nghệ thuật đích thực không có mần ăn gì được với ngần ấy lời tuyên bố huênh hoang và chỉ nên thực hiện trong thầm lặng.” ( L’art véritable n’a que faire de tant de proclamations et s’accomplit dans le silence” Sdd, tr. 714). Điều này không có nghĩa nhà văn phủ nhận giá trị của các lý thuyết văn học. Trái lại là đằng khác. Xuyên suốt toàn bộ tập truyện A la recherche du temps perdu, nếu để ý tới các đoạn văn trong đó Proust đưa ra những nhận định suy tư về các vấn đề văn học nghệ thuật và sáng tác, ta sẽ thấy không phải là ông không có hiểu biết về các lý thuyết văn học. Đặc biệt hơn nữa, nếu chịu khó sưu tầm một số câu văn nói lên những cảm nghĩ riêng của Proust cũng về các vấn đề này trong đoạn văn trải dài ngót ba chục trang của tập chót Le temps retrouvé (coll. Bouquins, vol. 3, tr.701-727), ta có thể  đúc kết và hệ thống hóa chúng thành một lý thuyết văn học giá trị.

     Nhưng đề xuất một lý thuyết văn học không hề là tham vọng của Proust. Với ông, các lý thuyết chỉ là nhận thức về một thể loại, một trào lưu, một trường phái văn học hay một quan niệm sáng tác, được hệ thống hóa thành một mỹ quan với nguyên tắc, các tiền đề hầu tạo điều kiện cho nhà phê bình có cơ sở luận lý để nhận định về một tác phẩm văn học, và cho đọc giả được định hướng để tiếp cận và thưởng ngoạn tác phẩm đó. Còn như là tác giả, nếu chi dựa vào lý thuyết – dù là tiên phong nhất – để sáng tác  thì tác phẩm, dẫu hoàn hảo đến đâu, cũng chỉ nói lên một thiện chí học hỏi để cách tân, chứ không là biểu hiện của một tài năng sáng tạo. Bởi vậy Proust không đánh giá cao những tác phẩm mang ý đồ tằng tịu với chủ nghĩa này hay lý thuyết nọ. Sau đây là ý kiến của ông về một chủ trương văn học văn dĩ tải đạo : ” Ý tưởng về một nghệ thuật đại chúng cũng như về một nghệ thuật ái quốc, nếu không là nguy hiêm thì cũng là lố bịch … (Nhà văn M. Barrès) có nói là người nghệ sĩ trước hết phải phục vụ cho sự vinh quang của tổ quốc mình. Nhưng anh ta chỉ có thể phục vụ tổ quốc trong cương vị nghệ sĩ, nghĩa là … với điều kiện đừng tưởng nghĩ tới bất kỳ điều gì khác – dù là tổ quốc chăng nữa – ngoại trừ sự thật trước mắt anh ta. Ta chớ bắt chước đám người cách mạng  để chứng tỏ tinh thần công dân, lên mặt dè bỉu, nếu như họ đã chẳng tiêu hủy rồi, những bức họa của Wateau và de La Tour là những họa sĩ đã làm vinh danh nước Pháp nhiều hơn là tất cả các họa sĩ thời Cách Mạng Pháp”   (L’idée d’un art populaire comme d’un art patriotique si  même elle n’était pas dangereuse me paraît ridicule … (M. Barrès) avait dit que l’artiste doit avant tout la gloire de sa patrie. Mais il ne peut la servir qu’en étant artiste, c’est-à-dire qu’à condition … de ne pas penser à autre chose  –  fût-ce à la patrie  –  qu’à la vérité devant lui. N’imitons pas les révolutionnaires qui par “civisme” méprisaient, s’ils ne détruisaient pas, les oeuvres de Watteau et de La Tour (4), peintres qui honorent davantage la France que tous ceux de la Révolution. Sddtr. 719-720). Vậy là ngay với câu mở đầu cho đoạn văn này, Proust đã chủ trương nghệ thuật chỉ có chức năng tìm kiếm để nói lên cái Chân, Thiện, Mỹ. Còn gán cho nghệ thuật một vai trò nào khác, là buộc nó phải từ bỏ cái thiên chức nó được giao phó. Về phần các tác phẩm định dựa vào lý thuyết này nọ để nói lên trường phái sáng tác của mình, ông không ngần ngại phẩm bình : “Một tác phẩm mà có ôm đồm các lý thuyết thì cũng như một món đồ trên đó ta còn để lại phiếu giá tiền.” (Une oeuvre où il y a des théories est comme un objet sur lequel on laisse la marque des prix. Sdd, tr. 715)

     Hai câu văn vừa trích dẫn : ” Ý tưởng về một nghệ thuật đại chúng như về một nghệ thuật ái quốc nếu không nguy hiểm thì cũng là lố bịch…” và ” Một tác phẩm mà có ôm đồm các lý thuyết thì cũng như một một món đồ trên đó ta còn để lại phiếu giá tiền“, có thể được coi như là hai câu văn nòng cốt nói lên quan điểm về sáng tạo văn học nghệ thuật, hay cái mỹ học của Proust. Ta có thể trình bày tóm lược cái mỹ học đó như sau :

     1) Không nên gán ghép cho nghệ thuật một sứ mạng nào ngoài là nỗ lực tìm đến cái Chân, Thiện , Mỹ. Còn nếu bắt nó phải đảm nhiệm một chức năng nào khác; cho dù là đẹp đẽ như cổ võ lòng ái quốc hay ca tụng một nhân vật lịch sử nào đó, có thể biến nó thành một công cụ tuyên truyền, nếu không là nguy hiểm (như đám vệ binh đó trong cuộc Cách mạng Văn hóa dưới thời Mao Trạch Đông hay phong trào đánh nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 tại miền Bắc), thì cũng lố bịch (như những lời đầy huyết lệ của Tố Hữu bày tỏ lòng thương tiếc một lãnh tụ sắt máu đã thủ tiêu hàng triệu con người)

     2) Nghệ thuật sáng tạo đích thực không phải chỉ có là nỗ lực tìm tòi một hình thức diễn tả mới để biến nó thành một lý thuyết văn học (théorie littéraire) hay một chủ nghĩa văn học (doctrine littéraire). Mượn tác phẩm cốt để cổ võ hoặc phô trương một hình thức sáng tác mới mẻ nào đó chỉ là một đua đòi thời thượng mà thôi. Nói khác đi, theo Proust, các lý thuyết văn học chẳng qua chỉ là những tìm tòi hiểu biết nhằm mở rộng kiến thức trong mọi lãnh vực sinh hoạt và đóng góp vào kho tàng tri thức (connaissance) của loài người. Mà cái gì khi đã trở thành tri thức rồi, thực tình mà nói, chẳng có gì là mới lạ cả. Nếu có được coi là mới lạ đi chăng nữa, thì cũng chỉ do khác biệt về chân trời, về thời điểm mà thôi. Như khi ta nói : cũ người mới ta hoặc mới người cũ ta cũng vậy. Bởi lẽ đó Proust coi các lý thuyết văn học chỉ là những ánh đuốc soi đường giúp ta tiến xa hơn trong hành trình tìm tòi sáng tạo; còn bản thân lý thuyết không thể là giải pháp cho sáng tạo. Và “chỉ có những gì ta lôi ra được từ vùng tăm tối nơi ta, trong ta mà người ngoài không biết được” mới là của ta, thuộc về ta nên mới đáng được coi là sáng tạo. 

     Trên đây là hai ý tưởng chủ đạo giúp ta đi sâu vào mỹ học mang tính sáng tạo của Proust. Ta có thể tóm lược cái mỹ học trong vài hàng như sau : Theo Proust, nghệ thuật chỉ có là nỗ lực tìm tòi sáng tạo nhằm dẫn dắt ta tới gần cái Chân, Thiện, Mỹ. Gán ghép cho nó một chức năng nào khác như quảng bá một lý thuyết văn học hay tuyên truyền sách động cho một mục tiêu đấu tranh, cho dù có cao đẹp như tinh thần yêu ái quốc chẳng hạn, thì kết quả đem lại, nếu không là nguy hiểm thì cũng lố bịch. Điều này ta có thể kiẻm chứng được qua một số biến cố lịch sử tại bất cứ đâu trên thế giới. Riêng trong cuộc Cách Mạng 1879 tại Pháp, ngoài những bức tranh của các họa sĩ Watteau hoặc de La Tour được Proust trích dẫn, có cần kể thêm chăng câu nói thời danh của Mme Rolland, một nữ dân biểu cũng tham gia Cách Mạng, nhưng đã phải lên đoạn đầu đài chỉ vì bà gốc quý tộc : ” Ôi Tự Do, người ta đã nhân danh mi để gây ra biết bao tội ác !” ( Oh, Liberté! Que de crimes a-t-on commis en ton nom!).  Quan điểm về sáng tạo văn học nghệ thuật này của Proust, hay để nói cho tóm gọn là Mỹ học của ông, là thành quả của cả một khổ công lâu dài tìm kiếm, nên chỉ được đúc kết ở tập bảy mang tựa đề “Le temps retrouvé” tức là tập chót của toàn bộ tác phẩm ” A la recherche du temps perdu”. Nhưng mỹ học này, mà Proust đã dành gần hai mươi năm quăng đời còn lại của mình để khổ công tìm kiếm, ông lại không hề nuôi tham vọng biến nó thành một thứ chủ nghĩa cứu rỗi thế gian. Tham vọng nếu có, chỉ là mưu cầu cứu rỗi cho bản thân ông, tức là làm sao tìm lại được điều mà Proust gọi là “tinh thể của vạn vật” (l’essence des choses) để được sống lại cái cảm giác hoan lạc toàn thiện toàn mỹ đã có lần đến với ông. Vậy cái mỹ học ấy đã giúp Proust tìm lại được khoái cảm hoan lạc ra sao? Proust đã dành câu trả lời cho ta trong tập Le temps retrouvé tức là phần kết thúc cho toàn bộ tác phẩm A la recherche du temps perdu của ông.     

( Còn tiếp)

———

   (4) – George de La Tour (1593 – 1632), danh họa Pháp đầu thế kỷ 17 được người đương thời ngưỡng mộ do một số tranh đượm màu sắc tôn giáo của ông.

        – Antoine Watteau (1684 – 1721) họa sĩ Pháp nổi danh nhờ vào các bức tranh màu sắc vui tươi ghi lại cảnh những buổi hội họp liên hoan (fêtes galantes) của xã hội trưởng giả Pháp trước cuộc Cách Mạng 1789.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s