Nguyễn Bảo Hưng – “Đi tìm thời gian đã mất” với Marcel Proust                                                                                                                   

Marcel Proust (1871 – 1922)

      ” Đi tìm thời gian đã mất” là tựa đề tiếng Việt của bộ truyện ” A la recherche du temps perdu” (1) gồm bảy tập của đại văn hào Pháp Marcel Proust (1871 – 1922) được xếp vao loại các tác phẩm văn học giá trị nhất thế giới. Tuy nhiên, nếu nhờ tiếng tăm tác phẩm được người đời ưa nhắc tới, con số thực sự tìm đọc để nhận thức giá trị văn học về mặt tìm tòi sáng tạo của Proust lại không có là bao.  Bản thân tôi cũng phải thú nhận là không đủ can đảm để ngốn trọn khoảng ba ngàn trang sách được coi thuộc loại khó nuốt của bộ  Đi tìm… (mặc dù nay đã bước sang giai đoạn tuổi già bóng xế tôi bắt đầu tìm đọc lại, đọc thích thú, đôi khi còn say mê những trang sách của Proust). Tuy nhiên, căn cứ vào những phần của bộ sách đã đọc được và tìm kiếm học hỏi thêm, tôi xin tạm tóm lược những gì tôi cho là đã hiểu, hay đúng ra tưởng mình đã hiểu được về Proust.

              Thời gian đánh mất và thời gian đã mất (*)

              Trước hết, ta có thể coi ” Đi tìm thời gian đã mất “  là một câu chuyện đời đồng thời cũng là câu chuyện về một cuộc đời: câu chuyện về Proust. Câu chuyện đời  vì là câu chuyện về một giai đoạn từ sau cuộc chiến tranh Pháp-Đức 1870 đến Đệ nhất thế chiến, và về  một môi trường xã hội mà Proust quen lui tới: cái xã hội thượng lưu trưởng giả với nếp sống phù phiếm giả tạo ở đó thường thấy xuất hiện một loại nhân vật thời thượng với một thứ ngôn ngữ khoa trương rỗng tuếch. Cũng nhờ được tham dự thường xuyên các buổi tiếp tân của xã hội thượng lưu trưởng giả này và quan sát các nhân vật quay cuồng trong môi trường phù phiếm giả tại ấy, Proust mới nảy sinh nhu cầu nghiền ngẫm về hiện thực để đi tìm cho mình một đời sống mang ý nghĩa đích thực. Ta có thể coi đó là động lực chủ yếu thúc đảy Proust dấn thân vào cuộc hành trình ” Đi tìm thời gian đã mất”. Cái khái niệm ” thời gian đã mất” (du temps perdu) mà Proust muốn đi tìm để lấy lại ấy, ta cần phần biệt với khái khái niệm ” thời gian đánh mất” hay “thời gian lãng phí” (du temps gaspillé) là loại thời gian không thể lấy lại được, hoặc có tìm cách lấy lại cũng chẳng làm ta thích thú gì.  

            Thời gian đánh mất là thời gian ta không biết sống cho ta, mà lại thích đeo mặt nạ để sắm vai ta đã chọn trong tấn tuồng đời, như nhân vật thời thượng Legrandin chỉ lo bộ tịch cho phù hợp với hình ảnh mình muốn hiện ra trước mắt mọi người, chứ không dám sống thật với cái tôi của mình ( M. Proust : A la recherche du temps perdu – Coll. Bouquins, Edit. Robert Laffont 1987 – Vol.1 – Du côté de chez Swann, pp. 118-125).  Nhưng thời gian đánh mất còn chủ yếu là thời gian lãng phí  của những năm tháng ta đã mê muội

chạy theo những ảo ảnh  cuộc đời : danh vọng, địa vị, của cải, chủ nghĩa, ý thức hệ (như nhân vật Kiên trong ” Nỗi buồn chiến tranh”  của Bảo Ninh)… Nhưng lãnh vực làm ta thường và dễ đánh mất thời gian hơn cả, ấy là tình yêu. Như mối tình mê muội của Swann với Odette de Crécy. Trong lúc cùng Odette dự một buổi trình tấu nhạc thính phòng tại tư gia Verdurin, tình cờ Swann nhận ra ở Odette vài nét phảng phất chân dung của Xephora, vợ Moise, được Boticelli họa trên cửa kinh của nhà nguyện Sixtine nên đâm mê muội. Trong khi đó Odette, một góa phụ trở thành loại gái bao hạng sang, bằng những điệu bộ “em chả em chả” lửng lơ con cá vàng, kích thích được sự nghi ngờ ghen tuông nơi Swann, làm anh chàng phải cay cú chết mê chết mệt. Khi tinh ngộ, biết  mình đã chạy theo ảo ảnh, Swann chỉ đành than thở:” Vậy là ta đã phí phạm đời ta biết bao năm, vì ta tưởng gặp mối tình lớn nhất, và ta tưởng có thể sẵn sàng chết vì một người đàn bà thực ra không làm ta thìch thú, chẳng hề hợp với sở thích của ta” (Dire que j’ ai gâché des années de ma vie, que j’ai voulu mourir, que j’ai le plus grand amour, pour une femme qui ne me plaisait pas, qui n’était  pas mon genre”. –  M. Proust: A la recherche du temps perdu –  Coll. Bouquins, Edit. Robert Laffont 1987 – Vol.1 – Du côté de chez Swann, p. 316)

           Ta có thể nói trong trường hợp chạy theo ái tình ảo ảnh này, Swann đã là nạn nhân của điều mà Stendhal, trong tiểu luận ” De l”amour” gọi là sự “kết tinh” (la cristalisation) để giải thích về hiện tượng tình yêu mù quáng : Như một nhánh cây khô trụi lá được vùi sâu trong mỏ muối vùng Salzbourg, vài tháng sau khi lấy lên, nhánh cây đó được  phủ đầy những hạt óng ánh như những hạt kim cương; cũng vậy, tình yêu mê muội là sự kết tinh của những phẩm chất, những đức tính được thêu dệt trong trí tưởng tượng và dem ghép  lên nhân vật ta theo đuổi. Nói khác đi, đối tượng cuồng si của ta không phải là bản thân con người bẵng xương bằng thịt ta định theo đuổi, mà là hình ảnh người yêu lý tưởng ta thêu dệt trong trí tưởng tượng và đem ghép lên con người đó. Rồi tới khi được “giải kết” (décristallisé), ta mới biết là ta đã bị “vỡ mặt” vì điều mà thiên hạ vẫn gọi là cú sét ái tình. Bản thân Proust cũng đã thể nghiệm được điều này, khi mượn lời nhân vật xưng tôi để nói về Albertine mà tác giả trong truyện, đã có thời si mê và ghen tuông cuồng nhiệt : ” Ta tưởng ta yêu một cô gái nhưng, hỡi ôi, ta lại chỉ yêu ở cô ta có cái hào quang ửng hồng thoáng hiện trên khuôn mặt.”  (Nous croyons aimer une jeune fille et nous n’aimons, hélas, en elle que cette aurore dont le visage reflète momentanément la rougeur. –          M. Proust : A la recherche du temps perdu. Edit Laffont 1987 Vol.3  La Fugitive, p. 517 ). Những vụ si mê theo kiểu bé cái lầm ấy, ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng thay tìm hiểu xem có phải là một trường hợp “kết tinh” hay không, ta lại ngả theo khuynh hướng cho rằng chàng trai hay cô gái si tình đa ăn phải bả hay bị bùa ngải. Nhưng dù là nạn nhân của hiện tượng kết tinh hay bị bùa ngải, thì cũng là thí dụ về thời gian đánh mất.

          Khác với thời gian đánh mất hay thời gian lãng phí, thời gian đã mất là thời gian ta đã sống qua, nhưng lại để chìm rơi trong quên lãng tưởng chừng nó đã mất đi, nhưng thực ra nó chỉ bị thất lạc mà thôi, nên ta vẫn có thể tìm lại được. Vấn đề là ta có biết cách, hay đúng ra là có cơ hội để “nhớ lại” và làm cho nó sống lại hay không? Gọi là thời gian đã mất (chứ không phải thời gian đánh mất) vì là thời gian ta được sống và sống thực sự cho bản thân ta, bởi ta và cho  ta, làm nên cuộc sống của ta. Nhưng vì là thời gian ta sống cho ta và, vì cho rằng nó thuộc về ta, đã là của ta, nên ta ít quan tâm tới nó hơn là thời gian ta sống với người khác hay vì  người khác. Cũng bởi thê nên nó dễ bị ta lơ là, bỏ rơi  để dần dần chìm sâu trong quên lãng, và có thể vĩnh viễn mất đi nếu không nhờ một sư ngẫu nhiên hay tình cờ nào đó gợi nhớ cho ta cái thời gian bị lãng quên đó và thâu hồi nó toàn vẹn. Bởi vậy Proust mới cho rằng chỉ có thời gian đã mất hay để chìm sâu trong quên lãng mới là thời gian thực sự thuộc về ta, làm nên cuộc sống đích thực của ta, nó chính là kho tích lũy những  cảm xúc, những giây phút ý vị nhất đem lại ý nghĩa cho đời sống của ta. Nhưng cũng như cõi vô thức mới là nền tảng của cái ngã theo phân tâm học của Freud, thời gian đã mất (hay có thể mất đimới chính là kho báu vật ẩn dấu nơi cõi sống tâm linh theo Proust. Nhưng làm sao biết được thời gian đã mất hay kho tàng bí mật đó để mà thâu hồi nó? Câu trả lời không đơn giản như ta tưởng. Ta có thể nói ngay rằng rằng cái thời gian đã mất ấy, ta không thể biết nó được, mà chỉ nhờ gặp cơ hội mới thâu hồi được nó mà thôi. Muốn nắm được câu trả lời, ta cần phải đi sâu vào tìm hiểu quan niệm của điều mà vẫn được quen gọi là trí nhớ nhưng với Proust, ta nên gọi là ký ức. Đây không phải là một trò chơi chữ nghĩa. Trái lại, có phân định được sự khác biệt giữa trí nhớ với ký ức, ta mới thấy được cái nhìn sáng tạo của Proust. Muốn vây, ta cần trở về với trích đoạn liên quan tới mẩu chuyện về vị bánh madeleine tức là loại bánh ngọt nhỏ có những đường gân như được đúc từ một khuôn vỏ sò.( M. Proust : A la recherche du temps perdu – Edit.  Robert Laffont -vol. 1  – Du côté de chez Swann, pp 56-59). Trích đoạn này, thường được nhắc đến với tựa đề ” La petite madeleine ou les deux mémoires”, Miếng bánh madeleine với hai loại ký ức) hoặc ” Un univers dans une tasse de thé” ( Một cõi nhân sinh trong một tách trà), có thể được coi là một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất mà bất cứ ai muốn nói về Proust không thể không nhắc tới, cũng như đoạn đường chiến binh với một quân nhân vậy (dù rằng đoạn văn này không phải tất cả Proust, cũng như đoạn đường chiến binh không phải là binh nghiệp của một quân nhân).

          Một cõi nhân sinh trong một tách trà (*) 

          Đoạn văn này liên quan đến quãng đời niên thiếu của Proust khoảng thời gian từ 1878 đến 1884, khi vào những djp lễ Paques hay nghỉ hè, Proust thường theo gia đình về nghỉ mát tại nhà ông cậu ở Illiers-Combray, một thị trấn thuộc hạt Eure-et-Loire cách thành phố Chartres 24 cay số về phía tây nam. Illiers-Combray, mà trong truyện Proust chỉ gọi là Combray, là khởii điểm cho toàn bộ tập truyện vì nó là sân khấu cho một bi kịch nhỏ cho cậu bé Proust, nhưng với một kết thúc happy end nên đã đẻ lại một cảm nhận sâu sắc cho Proust, đồng thời tạo nên mối gút mắc cho toàn bộ ” Đi tìm thời gian đã mất”.

          Là một đứa bé yếu đuối nhưng đa cảm và nhạy cảm, Proust quen sống dưới sự nuông chiều của mẹ. Có một nhu cầu trở thành hầu như nghi thức (rite), có được thỏa mãn mới giúp cho Proust dễ dàng tìm ra giấc ngủ: đó là cái hôn của mẹ mỗi tối đặt lên trán để chúc Proust ngủ ngon lành. Nhưng một bữa nhà có khách là Swann tới dùng cơm tối. Vì bận tiếp khách nên tới giờ đi ngủ, mẹ không thể tới hôn trán Proust như thường lệ. Tìm mọi cách để nhắc mẹ không được, Proust quyết định ra hành lang đứng chờ để đòi cho được cái hôn. Tới khi bố mẹ bắt gặp sau khi khách ra về, Proust đâm bối rối lo sợ là bố sẽ la, mẹ sẽ mắng. Nhưng khi nhìn thấy bộ mặt hốt hoảng thiểu não của con, bố Proust, thường lệ rất nghiêm khắc, đã không la rầy  mà còn để cho mẹ ở lại với Proust. Thê là đêm đó cậu bé Proust không chỉ nhận được cái hôn và lời chúc ngủ ngon của mẹ, mà còn được mẹ nằm cạnh đọc cho nghe truyện Francois le Champi của nhà văn George Sand. Tuy biết là đêm độc nhất, nhưng Proust vẫn ước mong cái đêm thần tiên đó được tái diễn. Kỷ niệm của Proust vè cái đêm được mẹ đọc cho nghe truyện Francois Le Champi ấy, làm tôi liên tưởng tới mối tình học trò của tôi khi còn là học sinh trung học. 

         Hồi đó, đang phải chuẩn bị thi tú tài nên tôi chỉ lo chúi mũi vào sách vở cốt sao giành cho được tấm bằng mà thôi. Thế mà  một bữa, bỗng dưng tôi đâm phải lòng một cô gái tuy không cùng lớp nhưng chung một trường. Sau nhiều lần lân la tìm cách làm quen không được, tôi quyết làm liều thảo một bức thư trao tay với mấy lời mở đầu như sau : ” Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng… Có người con gái đẹp như mơ…”. Không biết có phải cô gái trí nhớ tốt hay vì tôi nét chữ phượng múa rồng bay mà sau bữa đó, mỗi lần đối diện gặp nhau, cô lại miệng ngậm ngón tay cái hơi cúi mặt mủm mỉm cười, tay kia che nửa mặt ra vẻ e lê thẹn thò, khiến con tim tôi cứ nhảy cà tưng cà tưng như muốn theo nhịp vũ điệu mambo cha cha cha ấy. Nhưng mối tình học trò của tôi chỉ đến đó rồi dừng lại. Năm sau, tôi tiếp tục lủi thủi đến trường vẫn trên con đường đầy lá rụng ấy, nhưng miệng lại lầu bầu : ” Thu đến làm chi để lá phải rụng rơi, lá bay (mẹ kiếp) cho đám cưới về…”  Dần dà, vết thương lòng của tôi cũng lên da non để cuối cùng chỉ còn lại một vết thẹo nhỏ . Nhỏ thì có nhỏ, nhưng cũng đủ làm tôi quên bẵng cái không khí hồn nhiên vô tư của tuổi học trò. Cái tuổi dành cho đám học trò tóc xanh như tôi,  đến trường, tai nghe lời thầy giảng, nhưng mắt lại nghếch sang phiá mấy cô bạn học miệng cũng đang lép nhép thì thầm với nhau. Nhưng cũng nhờ vết thẹo đó, nay tôi mới hiểu được tại sao mỗi lần nghe nhắc đến Combray, Proust chỉ nhớ tới cái đêm được nằm bên mẹ. Còn lại những gì thuộc về Combray, những sinh hoạt với khung cảnh thân quen của thị trấn ấy, đều bị tâm trí  Proust gạt qua lề, để dần dà bị vùi sâu trong quên lãng…

         Vĩnh viẽn vùi sâu? Có thể lắm chứ nếu như không có cái buổi chiều đông ấy: Môt buổi chiều đông ảm đạm khi Proust đi học về, mẹ sợ Proust lạnh bèn sai pha một bình trà và đem đến môt chiếc bánh madeleine để Proust ăn cho ấm bụng. Tuy không đói, nhưng để vui lòng mẹ Proust nhận lời. Ai dè mới cắn vào miếng bánh vừa được nhúng vào tách trà, Proust bỗng thấy dâng lên một niềm hoan lạc làm tan biến mọi ý tưởng bi quan chán chường. Niềm hoan lạc đó do đâu mà ra? Proust tợp ngụm thứ hai, rồi thêm ngụm nữa, vùa tợp vừa nhấm nháp mùi vị mới làm thức dậy cảm giác hoan lạc nơi Proust. Ai dè mùi vị vẫn đó mà cảm giác đã không tăng lại còn tan loãng. Vậy là cảm giác có liên hệ với vị bánh tẩm trà, nhưng lại không do vị bánh mà ra. Proust cố vận dụng trí nhớ, cảm giác càng chơi vơi y như bong bóng xà bông với một chú bé : càng giơ tay với, bong bóng càng bay cao cho tới khi tan vỡ. Cuối cùng Proust quyết định buông xuôi và chấp nhận quay về với những bận bịu ưu tư hàng ngày. Đúng vào lúc đó dĩ vãng vụt hiện lên : Thì ra cái mùi vị đã đã làm sống dạy cảm giác hoan lạc nơi Proust, chính là mùi vị của miếng bánh madeleine nhúng vào tách trà mà trước đây, vào một dịp hè ở Combray, dì Leonie đã cho  nếm khi Proust đến chào hỏi dì  vào một sáng chủ nhật. Và rồi, cùng với mùi vị bánh madeleine được nhúng trà cả một khung trời kỷ niệm liên quan đến thị xã Combray, nơi Proust đã trải qua những chuỗi ngày hè hạnh phúc êm ả chợt bừng thức dậy : những nhân vật thân quen vẫn chào hỏi hàng ngày, ngôi nhà thờ, khu phố chợ, những con đường quen thuộc Proust thường qua lại để mua đồ cho mẹ…

          Đoạn văn về miéng bánh madeleine có thể dược coi là một trong những đoạn văn của Proust được nhắc nhiều trong tác phẩm của Proust. Và tôi cũng đã đọc đi đọc lại nhiều lần : đọc khi còn là học sinh trung học để chuẩn bị cho bài giảng văn trong lớp; đọc lại khi lên đại học để nghe giáo sư giảng dạy cho hiểu biết thêm; và nay đọc lại với những phần khác của tác phẩm để nghiền ngẫm. Đọc nhẩn nha. Đọc tà tà. Đọc mới được vài trang đã quẳng sách đi. Rồi bất thần lại lôi ra đọc lại. Vừa đọc vừa kiểm nghiệm với những giây phút sống của bản thân để hiểu sâu hơn, hiểu sát hơn, hiểu được đúng ý tác giả hơn. Ấy, có lẽ nhờ chịu khó đọc theo kiểu ngâm tôm như vậy (con tôm cần ngâm cho ngấu mới lên men và thành mắm thơm ngon được, có đúng không nào?), nên mỗi lần đọc là một lần thích thú, là một lần tôi lại phát hiện thêm được vài điều mới mẻ. 

         Lưu ức và hồi ức hay hai loại ký ức (*)

         Điều phát hiện đầu tiên đem lại cho tôi nhiều thích thú, ấy là cái nhìn khai phá sáng tạo của Proust về điều mà ta vẫn quen gọi là “trí nhớ” . Với Proust, trái lại, cái khái niệm “trí nhớ” này chỉ có một ý nghĩa hạn hẹp, không đủ để diễn tả được điều mà miếng bánh madeleine đã làm sống dậy trọn vẹn nơi Proust những kỷ niệm thời niên thiếu ở Combray.

        Để làm sáng tỏ tầm quan trọng của tính sáng tạo khai phá của Proust về khái niệm mà ta vẫn quen gọi là “trí nhớ” ấy, đề nghi ta hãy đọc lại đoạn văn nêu trên, nhưng thay cho tiểu đề ” Un univers dans une tasse de thé” lại là tiểu đề ” La petite madeleine ou les deux mémoires” (Miếng bánh madeleine hay là hai loại ký ức). Giả dụ có ai nhờ tôi dịch ra tiếng Việt cái tiểu đề thứ này, chắc chắn tôi sẽ dịch thành ” Miếng bánh madeleine hay là hai loại trí nhớ“. Dịch tút suỵt, dịch không đắn đo, dịch chắc ăn như bắp, bởi vì tra bất cứ cuốn từ điển Pháp-Việt nào ta lại chẳng tìm ra mémoire là trí nhớ. Nhưng sự tin tưởng ấy chỉ mới dựa trên hiểu biết của một học sinh trung học còn trên ghế nhà trường mà thôi. Cũng may, khi đó người nhờ dịch đã không đòi hỏi tôi phải đi sâu vào nội dung của cái hiện thực Proust muốn làm sống dậy. Bằng không, tôi mới thấy rằng từ “trí nhớ” được chọn là không ổn khiến tôi lúng túng. Bởi vì từ trí nhớ, theo nghĩa thường dùng, để chỉ những sự việc xảy ra ta muốn dùng trí óc để ghi lại hoặc vận dụng trí óc để có thể nhớ lại. Như khi ta khen một cậu bé có trí nhớ tốt vì học bài chóng thuộc mà lại nhớ dai; hoặc khi ta vỗ trán than rằng ” trí nhớ mình sao hồi này cùn quá” chỉ vì gặp một người trông quen mặt mà moi óc mãi vẫn không nhớ tên. Trí nhớ, hiểu theo nghĩa thông dụng này, Proust lại cho rằng chỉ có một ý nghĩa hạn hẹp, phiến diện và nhất thời.

          Hạn hẹp, vì các sự kiện ghi nhớ thường là do chọn lọc chủ quan với mục đích thực dụng: cậu học trò chỉ học những bài phải học để trả bài, hoặc những điều cần ghi nhớ để làm bài kiểm hay đi thi. Phiến diện là do ý đồ của nó : anh thí sinh chọn học một số bài cho là quan trọng với hi vọng sẽ trúng tủ; nhưng khi bị trật đường rầy anh ta lại thấy những bài đó là vô tích sự và chẳng mấy chốc quên đi. Cũng bởi tính hạn hẹp và phiến diện đó nên cái hiện thực do trí nhớ đem lại thường chỉ có giá trị hữu dụng nhất thời. Ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt, những bài học ở lớp dưới thường bi bỏ quên để nhường chỗ cho những bài học mới ở lớp trên. Bởi vậy ta có thể ví trí nhớ, theo nghĩa thông dụng, như là một kho cất giữ hồ sơ. Chừng nào chúng còn hữu ích, hữu dụng ta còn muốn lưu giữ. Nhưng khi thấy chúng hết cần thiết, ta sẵn sàng đem rục bỏ để nhường chỗ cho những hồ sơ mới. Bởi thế Proust mới cho rằng cái ta vẫn gọi là trí nhớ chẳng xứng với danh hiệu chút nào. Cái trí mà ta cứ tưởng khôn ngoan đáo để ra phết ấy, nào có biết nhớ cho ra hồn: cái đáng nhớ chẳng chịu nhớ, lại chỉ thích nhớ toàn những thứ tào lao gì đâu. Ngay cái đêm được nằm bên mẹ ở Combray mà Proust cho là phải dược khắc họa suốt đời, nay có nhớ lại, chắc Proust cũng chỉ nhún vai tự nhủ : Ừa, mà sao hồi đó mình lại con nít thế nhỉ ! Cũng may còn lại mùi vị của miếng bánh madeleine tẩm trà. Bằng không cả một bàu trời hạnh phúc của những ngày hè êm ả tại Combray có thể theo thời gian đã bị vùi lấp trong quên lãng. Bởi vậy, Proust mới đi tới kết luận rằng : “Cái làm ta nhớ lại nhiều nhất về một hữu thể lại chính là cái ta lơ là bỏ quên ( vì bị ta rẻ rúng nên nó mới bảo toàn được trọn vẹn hương nhụy). Do đó cái phần tốt đẹp nhất của ký ức lại ở ngoài ta:  trong cái chớm lạnh của  cơn mưa đầu mùa, trong mùi hương của một khuê phòng cái kín song the hay trong hơi khói tỏa ra từ vung cơm thơm mùi lúa mới … trong bất kỳ những gì bị tri tuệ coi là vô tích sự nên không thèm đoái hoài; vậy mà chính cái đó mới làm cho ta gặp lại được chính ta, và cũng chỉ có những cái đó mới là kho dự trữ cuối cùng của dĩ vãng, tức là cái phần tốt đẹp nhất, bởi lẽ, khi mà những giọt nước mắt tưởng như đã khô cạn, chỉ riêng chúng còn làm ta rưng rưng khóc được. Ở bên ngoài ta ? Đúng ra là ở trong ta, nhưng lại vuột ra khỏi tầm nhìn của ta nên mới bị đắm chìm ít nhiều trong quên lãng” (… ce qui nous rappelle le mieux un être, c’est justement ce que nous avons oublié ( parce que c’était insignifiant et que nous lui avions laissé toute sa force). C’est pourquoi la meilleure part de notre mémoire est hors de nous, dans un souffle pluvieux, dans l’odeur de renfermé d’une chambre ou dans l’odeur d’une première flambée, partout où nous retrouvons de nous-même ce que notre intelligence, n’en ayant pas l’emploi, avait dédaigné, la dernière réserve du passé, la meilleure, celle qui quand nos larmes semblent taries, sait nous faire pleurer encore. Hors de nous? En nous pour mieux dire, mais dérobé à nos propres regards, dans un oubli plus ou moins prolongé . – M. Proust : A la recherche du temps perdu. Edit. R. Laffont 1987. Vol. 1  A l’ombre des jeunes filles en fleurs, p 554)

          Tới đây chắc bạn đọc cũng thông cảm được tại sao tôi lại muốn xin rút lại từ “trí nhớ” như ta vẫn thường gặp khi tra từ “memoire” trong từ điển. Thế nhưng tại sao Proust lại không coi “trí nhớ” là nguyên nhân đem lại cho Proust cái niềm hoan lạc khi được nhấm vào miếng bánh madeleine tẩm trà đó? Để trả lời chính xác, đồng thời cũng cho thấy cái nhìn khai phá sáng tạo của Proust, ta cần đọc kỹ đoạn văn dưới đây : ” Thoạt nhìn, cái bánh madeleine không gợi gì trong tôi trước khi tôi nhấm nháp nó; có lẽ từ bữa đó đến giờ tôi đã quen nhìn thứ bánh ấy trên khay các tiệm bánh ngọt mà không hề đụng tới, nên hình ảnh nó đã tách rời với chuỗi ngày ở Combray để, theo thời gian, hòa nhập với những ngày sau đó; cũng có thể kỷ niệm của những ngày xa xưa, từ lâu bị ký ức bỏ rơi, hay đã ngủ miệt mài …nên không còn đủ sức để ngoi lên được vùng ý thức. Nhưng từ một quá khứ xa xôi, mọi hữu thể tưởng chừng đã mất đi, tưởng như đã tan biến, tưởng như không còn tồn tại; thì chỉ những cái mảnh mai sương khói hơn, nhưng dai dẳng hơn, đó là mùi hương và mùi vị, như những linh hồn để nhắc nhở, như chờ được hồi sinh, như để dựng lại trên đống vụn đổ nát cả một vùng trời bao la kỷ niệm.” ( La vue de la petite madeleine ne m’avait rien rappelé avant que je n’ y eusse goûté; peut-être parce que, en ayant souvent aperçu depuis, sans en manger, sur les tablettes des pâtissiers, leur image image avait quitté ces jours de Combray pour se lier à d’autres plus récents; peut-être parce que, de ces souvenirs abandonnés si longtemps hors de la mémoire, rien ne survivait, tout s’était déjà désagrégé; les formes … s’étaient abolies, ou, ensommeillées, avaient perdu la force d’expansion qui leur eût permis de rejoindre la conscience. Mais, quand d’un passé ancien rien ne subsiste, après la mort des êtres, après la destruction des choses, seules, plus frêles mais plus vivaces, plus immatérielles, plus persistantes, plus fidèles, l’odeur et la saveur restent encore longtemps comme des âmes, à se rappeler, à attendre, à espérer, sur la ruine de tout le reste, à porter sans fléchir, sur leur gouttelette presque impalpable, l’édifice immense du souvenir   . – M. Proust : A la recherche du temps perdu. Edit. R. Laffont 1987)   

         Vậy là, như đoạn văn ở trên cho thấy, từ “trí nhớ” không phản ánh đúng tinh thần nội dung của sự nhớ lại theo Proust. Hai là, nếu dùng từ “trí nhớ” để dùng toàn bộ các chữ “mémoire” cho tác phẩm, việc làm này chẳng những không giúp cho người đọc tách thoát khỏi quan niệm cố hữu về sự nhớ lại bằng vận dụng trí tuệ, mà có thể còn gây ra một lẫn lộn mơ hồ khiến họ khó nắm bắt được sự phát hiện mang tính chất sáng tạo của Proust về sự nhớ. Bỏi không kiếm ra được từ nào khác để thay thế cho từ “mémoire” theo nghĩa thông dụng, Proust đành phải mượn tính từ volontaire (mémoire volontaire) hoặc cụm từ bổ túc de l’ intelligence (mémoire de l’intelligence) để chỉ sự nhớ lại theo nghĩa “trí nhớ” thông dụng, và tĩnh từ involontaire hay affective (mémoire involontaire, affective) để chỉ sự nhớ lại không chủ ý hay do cảm xúc ngẫu nhiên. Sự phân biệt giữa hai loại mémoires này, mà thay vì đơn thuần chỉ  bằng từ “trí nhớ” ta nên gọi là ký ức cho thích hợp với cái nhìn sáng tạo của Proust. Bởi vì cái nhớ lại bằng trí nhớ hay memoire volontaire, theo Proust, chỉ là những hình ảnh của một khung trời kỷ niệm được gợi lên bằng tưởng tượng theo trí óc, mà ta thường được đọc trong các bài văn, thơ nói về kỷ niệm. Còn cái nhớ lại bằng hồi ức hay  memoire involontaire, affective mới chính là toàn bộ cảm xúc được sống dậy nơi một thân xác có một thời được hòa nhập với một cõi sống thế gian.

          May mắn hơn Proust, tiếp tục tra cứu từ điển và tham khảo tài liệu, tôi kiếm ra được một số từ, tuy đồng nghĩa với “trí nhớ” nhưng lại có khả năng diễn tả chính xác với âm hưởng, sắc thái riêng. Đó là các từ ký ức  tức mémoire theo nghĩa từ điển thông dụng, nghĩa là để chỉ tất cả những gì, dù bằng trí tuệ hay nhờ cảm xúc, được tích lũy làm nên thế giới tâm linh của ta. Nói khác đi, ta có thể ví ký ức như một nhà kho cất giữ đủ loại vật dụng trong nhà. Tiếp đến là lưu ức ( memoire volontaire, memoire de l’intelligence) để chỉ khu dành riêng cho những dụng cụ được chọn lọc để đem ra sử dụng khi cần đến. Sau cùng, hồi ức ( memoire involontaire, afective) là nơi chất đống đủ mọi thứ mà ta cho là vô tích sự, nhưng vì tiếc rẻ nên ta đem tống khứ vào đó. Vậy là, nếu “ký ức” là để nói về toàn thể các sự kiện thuộc vê đời sông tâm linh của ta, thì các từ “lưu ức” và “hồi ức” lại nhắc nhở ta rằng trong thao tác nhớ lại, theo quan niệm của Proust, không chỉ có “bản chất” các sư kiện được nhớ lại, mà “thể thức” hay cách làm cho các sự kiện được sống lại cũng quan trọng, có khi còn quan trọng hơn nữa là đằng khác. Có nắm được sự phân định này của Proust giữa lưu ức và hồi ức, ta mới hiểu được tại sao cùng một đoạn văn mà người ta lại có thể đặt cho hai tiểu đề khác nhau. Thực ra, dù là ” Một cõi nhân sinh trong một tách trà” hay ” Miếng bánh madeleine hay hai loại ký ức”, hai tiểu đề này không hề đối nghịch nhau; trái lại, chúng còn bổ sung cho nhau để soi sáng về sự khác biệt  giữa hai loại ký ức và khả năng phục hồi dĩ vãng của chúng. Cái tựa “Miếng bánh madeleine và hai loại ký ức” là đê lưu ý ta về vai trò của miếng bánh madeleine như là nguyên nhân thúc đảy Proust đi tìm đầu mối của niềm khoái cảm khi cắn vào miếng bánh. Còn cái tựa “Một cõi nhân sinh trong một tách trà” lại nhắc nhỏ ta rằng chỉ riêng chiếc bánh madeleine mà thôi, chưa đủ làm thức dạy cảm giác hoan lạc nơi Proust. Chỉ khi tợp vào miếng bánh được tẩm trà tilleul, hương vi (l’ odeur) và mùi vị ( la saveur) pha trộn của hai thứ đó mới làm sống dạy nơi Proust niềm khoái cảm buổi sáng chủ nhật khi được dì Leonie trao cho miếng bánh sau khi đã nhúng vào trong tách trà. Và rồi, cùng với cái khoái cảm ấy là cả niềm hoan lạc của chuỗi ngày niên thiếu đẹp đẽ Proust đã được trải qua thời gian sống tại Combray.

          Kiếm ra được chữ để dịch hai cái tiểu đề, tôi mới cho là mình có may mắn hơn Proust vì có khả năng lựa chọn từ thích đáng để diễn tả sự nhớ lại theo tìm tòi sáng tạo của Proust. Từ đó tôi phát hiện thêm một điều mới mẻ khác khá thú vị: Tiếng Việt quả là một thứ ngôn ngữ năng động, dồi dào sức sống nhờ vào một tiềm năng lớn sáng tạo. Tiềm năng sáng tạo đó, trước hết do tiéng Việt là thứ tiếng đơn âm (monosyllabique) nhưng lại có cấu trúc câu được làm thành bởi các từ ghép là những từ có thể do hai ba từ khác nhau làm thành (thí du: tổ quốc, ý thức hệ, xà bông vv…). Thứ đến, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm là sự hội nhập của nhiều tiếng gốc khác nhau : tiếng Hán, tiếng Pháp (với gốc la tinh) và tiếng Việt chính gốc. Nhờ vào đặc tính này của tiếng Việt vốn là ngôn ngữ đơn âm lại gồm các từ vựng được cấu tạo bởi các từ ghép nên ta có thể, tùy theo hoàn cảnh,tùy theo nhân vật, tùy theo tâm trạng, tùy theo cảm nghĩ, tạo từ mới bằng cách hoán đổi vị trí của chữ trong một từ, hoặc thay thế một chữ nào đó bằng một chữ trong một từ để làm cho ý tưởng được sáng tỏ, hoặc làm nổi bật sắc thái (nuance) hay âm hưởng (résonnance) đặc biệt của điều ta muốn diễn tả.. Tôi cho rằng nêu ta chịu khó tìm hiểu thấu đáo và quan tâm sủ dụng chữ nghĩa với ý thức, có cân nhắc, có chọn lọc, ta sẽ thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên tài sáng tạo, có phép thần thông biến hóa không thua gì ông Tề Thiên Đại Thánh dám đánh cả Trời luôn. Để dẫn chứng tôi xin tạm liệt kê sau đây danh sách đây danh sách các từ vựng được tạo với từ tưởng chọn làm gốc tôi đã sưu tầm được : ý tưởng, tư tưởng, lý tưởng, tưởng tượng, tưởng nhớ, tưởng niệm, tin tưởng, hồi tưởng, hoài tưởng, mơ tưởng, tơ tưởng, vọng tưởng, đồng tưởng, giả tưởng, ảo tưởng, không tưởng, hoang tưởng, bệnh tưởng, cuồng tưởng, huyễn tưởng… Bây giờ tôi xin nhờ mấy vị soạn từ điển hoặc các nhà lý luận phê định nghĩa dùm tôi mỗi từ trên và, nếu có thể dược cho một câu thí dụ kèm theo để giúp tôi nắm vững cách sử dụng chúng thích đáng. Cụ thể hơn, như vùa trinh bày ở trên, chỉ riêng chữ ức làm gốc, tôi đã kiếm ra được ba từ khác nhau : ký ức, lưu ức, hồi ức để  diễn tả không mấy khó khăn, như Proust chắc đã phải vận dụng tới các cụm từ như mémoire affective,  memoire involontaire, hoặc memoire volontaire, memoire de l’ intelligence, mà cũng chỉ để giải thích hơn là diễn tả. Có lẽ vì vậy nên các cụm từ kể trên chỉ được coi thuộc loại từ vựng của riêng ông (du vocabulaire proustien) chứ không được sử dụng phổ quát như ngôn ngữ đại chúng. Riêng tiếng Việt, nhờ vào các đặc tính trình bày ở trên, có thể được coi là  một mảnh đất phì nhiêu, một tài nguyên phong phú mà nếu biết cách, nghĩa là nếu chịu khó cân nhắc chọn từ và sử dụng có cân nhắc, nó sẽ giúp ta có được những mảnh vườn quí với những bông hồng rực rỡ. . Đó là điều đã được kiểm chứng với những tác phẩm văn học có giá tri của ta trong suốt các giai đoạn lịch sử vừa qua. Tiếc thay, thời gian gần đây tại Việt Nam, đã có nhiều biểu hiện cho thấy người ta có vẻ coi thường rẻ rúng Việt, sử dụng chúng một cách bừa bãi, vô tội vạ, khiến ngôn ngữ ngày một xuống cấp kéo theo sự suy thoái văn học nghệ thuật. Nhưng thôi, đây không phải là mục đích của bài viết này. Tôi đã có dịp bàn về khả năng diễn tả của tiếng Việt trong một bài viết trước đây (2), cũng như hiện tượng sử dụng cẩu thả ngôn ngữ Việt hiện nay ở trong nước rồi. (3). Vậy xin trở lại với đề tài Proust còn đang bàn dở để đào sâu hơn nữa về sự khác biệt giữa “lưu ức” và “hồi ức”, theo Proust. (còn tiếp)

     (*)  Các tiểu đề với hàng chữ đậm in nghiêng có gạch dưới là do người viết thêm vào để lưu ý về một số khái niệm then chốt do tìm tòi sáng tạo của Proust.

————————————————————————————————————————————————————————————

     (1) Đã từ lâu bộ A la recherche du temps perdu  của Proust thuộc tủ sách La Pleiade do Gallimard ấn hành (1967) vẫn được coi là tài liệu tham khảo sáng giá nhất cho những ai muốn nghiên cúu về Proust. Nhưng năm 1987 có thêm một ấn bản mới của bộ sách này trong Collections Bouquins của nhà xuất bản Robert Laffont gồm ba tập. Đặc điểm ấn bản của Robert Laffont là cung cấp cho ta thêm nhiều tài liệu chi tiết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn học của Proust, cũng như nhân vật hay những môi trường sinh hoạt có liên hệ mật thiết tới công việc sáng tạo của Proust.  Thêm vào đó, trước mỗi tập truyện đều có một bài tựa của ô. Bernard Rafalli, một học giả chuyên khảo về Proust và cũng là giáo sư thỉnh giảng (maitre de conférence) tại đại học Sorbonne. Những trích đoạn trong bài viết này được dựa theo ấn bản Collections Bouquins của nhà xuất bản Robert Laffont.

     (2) Mời đọc bài viết “Có nên đặt vấn đề về khả năng diễn đạt của tiếng Việt” của người viết đã được phổ biến trên một số diễn đàn mạng.

     (3) Mòi coi lại phần kết của bài viết ” Đi tìm cuốn sách dịch đã mất”  được gủi đi trước đây. 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s