Trần Kiêm Đoàn – VỀ LẠI TRUYỆN KIỀU

Thưa quý bạn hiền,

Đọc thư quý Anh, tôi bâng khuâng vui buồn lẫn lộn, quên cả màn dịch Coronavirus đang bốc khói xung quanh. Vui vì chưa tới “tam bách dư niên hậu” mà cũng đã có người khóc cười với Nguyễn Du. Nhưng buồn vì cảm nhận của khách văn chương và bút nghiên vẫn chưa trãi lòng để thưởng thức tinh túy của truyện Kiều!

Đọc tới lời yêu cầu “nêu ý kiến” của các Anh, tôi bỗng dưng nhớ tới hai câu 465-466 trong truyện Kiều:

Thưa rằng: “Tiện kỹ sá chi,

Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng.”

            Xưa Kiều đem “cầm trăng” ra gảy cho tri âm tri kỷ nghe thì nay mình lên keyboard gõ lóc cóc cho vui tai bạn hiền nhé.

Đến hôm nay, đã 75 tuổi mà còn nhớ được cả số câu trong Đoạn Trường Tân Thanh như thế là vì tôi không những chỉ đọc mà còn “sống” với truyện Kiều của Nguyễn Du đến 4 bận trong cuộc đời: (1) Thuở nhỏ ở làng quê Liễu Hạ, tôi được bác Quyền Vân khuôn trưởng cho cuốn Truyện Kiều đã cũ vàng nhưng còn tươm tất với lời khuyên là “cháu cứ tập đọc” đi! Tôi đọc cả năm trời và chỉ hiểu lờ mờ, nhưng khi trở thành “Thầy bói Kiều” cho bà con trong làng thì tôi lại gần Kiều sâu nặng theo từng bước chân của tác giả Nguyễn Du vì hàng ngày tôi gọi hồn, gõ phách các nhân vật Kiều qua thân phận của của bà con thich bói Kiều tự vận mình vào các hành trạng nhân vật khóc cười của một thế giới “oai phong như Từ Hải, lải nhải như Tú Bà, tà tà như Kim Trọng…”. (2) Khi ra đời dạy học, tôi lại dạy Quốc Văn trung học nên gần Kiều như cơm áo. (3) Sau 1975, khi lái xe Lam và bán chợ Trời tôi lại thương mình như thương Kiều đứng ở lầu Ngưng Bích nhớ quê xưa. (4) Và, gần 40 năm ở Mỹ, càng có dịp đọc những tác giả thi ca cổ điển tầm cỡ Nguyễn Du như Shakespeare, Tagore, Eliot… mới “sáng” ra được tại sao một tác phẩm có nội dung mô phỏng như Truyện Kiều của Nguyễn Du lại chiếu sáng rực rỡ mãi mãi cả một vùng trời văn học và xứng đáng ở một ngôi vị kiệt tác của thi ca Việt Nam và văn chương thế giới; cũng như tại sao một hồn thơ mênh mông ảo diệu như Nguyễn Du lại băn khoăn “Ba trăm năm lẻ sau đâu biết. Thiên hạ còn ai khóc Tố Như”!

 Thời còn trẻ, suốt bốn năm học ở Văn khoa và ban Việt Hán Sư phạm Huế, chúng tôi có dịp làm quen – chợt xa và chợt gần – với khái niệm và cảm nhận về chữ Hán Việt và chữ Nôm. Có nếm trải chút hương vị và tri thức về nét đẹp của phép Lục thư sáng tạo chữ Hán và cách chế tác chữ Nôm của những bậc túc Nho tiền phong mới hiểu và cảm nhận được thế giới ngôn ngữ Thuần Việt đẹp đến ngỡ ngàng trong tuồng chữ mới gọi là Quốc Âm.

 Trong văn chương và sáng tạo nghệ thuật, tiếng nói là ký âm và chữ viết là ký hiệu. Ký âm và ký hiệu đều có nét đẹp quyến rũ riêng của nó, thường ở trong 3 mức độ:

–         Bình dân (face-to-face language)

–         Bác học (academic language)

–         Nghệ thuật (artistic language)

Trong các mối tương quan xã hội hằng ngày. Thực tế sáng tạo văn chương nghệ thuật cũng có các kiểu cách ngôn ngữ tương ứng với cuộc sống đời thường nhưng ngôn ngữ nghệ thuật là chủ đạo.

            Gia tài văn học chữ Nôm của Việt Nam tuy rất khiêm tốn và giới hạn kéo dài trong gần 8 thế kỷ kể từ bài Văn Tế Cá Sấu của Nguyễn Thuyên (1282), nhưng dòng văn học chữ Nôm là một biểu tượng của lòng tự hào dân tộc song song với dòng văn học chữ Hán. Những tác phẩm văn học chữ Nôm xuất hiện dưới dạng thi ca với những bài thơ, bài phú, ngâm khúc. Riêng thể loại truyện dài bằng thơ (văn vần) chữ Nôm thì có nhiều truyện thơ phóng tác truyện Trung Hoa như Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Sơ Kính Tân Trang của Phạm Thái, Phan Trần, Vương Tường, Phạm Công Cúc Hoa; Tây Sương của Lý Văn Phức hoặc sáng tạo độc lập không mô phỏng Trung Hoa như Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu của Nguyễn Đình Chiểu… nhưng chưa có tác phẩm nào nổi bật.

Chờ cho đến khi truyện Kiều xuất hiện (trong khoảng 1804 -1809) mới được từ vua đến quan và đại chúng đón nhận là một Kiệt Tác trong dòng văn học chữ Nôm của Việt Nam. Trong phạm trù ngôn ngữ quy ước thì Kiệt Tác là một tác phẩm nghệ thuật nổi bật, đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật.

            Đỉnh cao nghệ thuật trong truyện kiều của Nguyễn Du không phải cốt truyện, cũng chẳng phải là triết lý mà chính là Ngôn Ngữ Thi Ca. Sự sáng tạo ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật xưa nay chẳng phải là một phép lạ để làm chóa mắt ai mà đó chỉ là sự tài hoa vận dụng, chắt lọc, nối kết, khắc họa, diễn đạt, đẽo gọt, kiến trúc ngôn ngữ. Một chữ, một nhóm chữ, một câu thơ, một đoạn văn hay và đạt ở mức độ xuất thần là thiên khiếu của nhà điêu khắc ngôn ngữ. Cũng là thi ca chữ Nôm, trong khi Nguyễn Đình Chiểu viết tới 3456 câu trong Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu nhưng vẫn không tạo được một câu nào bay lượn xuất thần để đời cho hậu thế. Nhưng Nguyễn Du với 3256 câu lục bát Đoạn trường Tân Thanh đã để lại ít nhất không dưới 200 câu thơ có cánh đại bàng thi ca bay vút lên tới chín tầng trời cao ngất. Kiệt tác không phải là sức nặng tác phẩm đem cân kí lô; cũng chẳng phải là số từ mang đếm và lại càng không phải vừa vặn kích thước theo một tiêu chuẩn ước lệ nào đó! Kiệt tác thiên tài trong áng mây bay.

Bởi vậy, một đời Nguyễn Du đã khóc vì phải ra tay sát sanh, hủy diệt, phá đổ những tinh túy yêu thương nhằm làm thỏa mãn cho những giá trị tầm thường thô thiển quy ước của nhân thế. Nguyễn Du đã khóc khi dìm Kiều xuống vũng bùn để bán mình cho chữ Hiếu. Nguyễn Du đã giết Từ Hải để làm thoả mãn chữ Trung hủ Nho thô thiển của giới vua quan. Nguyễn Du đã chôn sống thổi tắt đốm lửa tình yêu cuối đời còn sót lại của cặp đôi bất hạnh Thúy Kiều và Kim Trọng để lừa dối chữ Trinh khi biến “duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ”. Những người biết yêu đều quay mặt khóc khi nhìn tới cảnh cặp tình nhân lứa tuổi trung niên ngày hai buổi uống trà, nhắm rượu, đánh cờ như hai bợm già cổ quái…

            Thiên sứ Tố Như ơi:

            Ngã kim nhị bách dư niên hậu,

            Tái cố Kim Kiều khấp Tố Như.

 

            Nhưng Tố Như đã chứng đạo quả khi phút lâm chung người nhà mang đèn tới hỏi: “Bẩm ngài có cần gì không ạ?”. Liền nghe tiếng trả lời: “Được!”. Được là an nhiên, là như như tự tại. Thảo nào trên đường đi sứ Tàu về lại quê hương, người đã làm “chứng đạo ca”:

            Ngã độc Kim Cang thiên biến linh:

            Kim Cang vô tự thị chân kinh.

            (Nghìn lần ta đọc tâm linh:

            Kim Cang chân nghĩa là kinh không lời.)

 

            Kiệt tác thi ca là sự im lặng của Thể Tánh Hư Không có sẵn trong mỗi người.

Sao phải đi tìm quanh xa xôi thế, bạn hiền của ta ơi!

 

                                                                                    Trần Kiêm Đoàn

                                                                                Sacramento-3-2020

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s