Phạm hy Sơn – Người Việt và Đầu Óc Vọng Ngoại

               Từ ngàn xưa ông cha chúng ta luôn nêu cao ngọn cờ độc lập với các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, bà Triệu , Lý Bôn, Phùng Hưng, Mai hắc Ðế  . . .  và các cuộc chiến thắng lẫy lừng chống ngoại xâm của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo  . . .  Ngay cả trong hơn 200 năm Nam – Bắc Triều ( Lê, Mạc ) và Trịnh, Nguyễn phân tranh ( 1527  – 1774 )  không thấy nói đến quân đội ngoại quốc được cầu viện để giúp bên này hay bên kia .  Tinh thần độc lập ấy chỉ bị mất đi ba lần khi nhà Trần có Trần Khang tức Trần thiêm Bình sang Tàu xin nhà Minh đem quân sang đánh cha con Hồ qúy Ly để khôi phục nhà Trần, rồi nhà Lê với Lê chiêu Thống dựa vào quân nhà Thanh hòng khôi phục ngôi vua và Nguyễn Ánh Gia Long đem  quân Xiêm, quân Pháp vào nước tranh dành quyền lực . 

Quân Minh bị Bình định Vương đánh tan tác tại Chi Lăng, Tụy Động . . . phải khấu đầu tạ tội mới được cấp cho lương thực trở về Tàu, quân Thanh, quân Xiêm bị hoàng đế Quang Trung tiêu diệt ở Đống Đa, Mỹ Tho không còn manh giáp .

Nhưng từ khi vua Gia Long thống nhất được đất nước thì tinh thần lệ thuộc người Tàu, nói rõ hơn là tinh thần vọng ngoại, càng ngày càng phát triển .      

              Nguyên nhân từ đâu ?

                Có lẽ cuộc nội chiến Nam Bắc Phân Tranh kéo dài qúa lâu với bao nhiêu hệ qủa như chết chóc vì binh đao, sưu cao thuế nặng cung phụng chiến tranh gây cảnh đói khát, cướp bóc, những cảnh tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, cha mất con, vợ mất chồng, nhân tâm ly tán,  do đó tinh thần dân tộc bị suy yếu, đạo đức xói mòn, dân khí xuống thấp, sĩ khí không còn . 

              Khi vua Quang Trung khi ra Bắc có hỏi một ông tiến sĩ thời ấy :

               – Ðậu Tiến sĩ có làm chánh tổng được không ?

              Trong Văn học sử Việt Nam vào thời Lê Mạt và đầu nhà Nguyễn có bốn tác giả tạo ra hai khúc ngâm não nuột là Bần Nữ Thán, Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu ( 1741 – 1798)  và  Chinh Phụ Ngâm của Ðặng trần Côn được bà Ðoàn thị Ðiểm ( 1705 – 1746 ), một  người đương thời đem dịch ra chữ nôm  .  Tiếp đến là Tiếng Kêu Mới Ðứt Ruột  hay Ðoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ) tả cuộc đời bi thảm của Thúy Kiều  .  Qua những tác phẩm  buồn thảm ấy chúng ta thấy tinh thần  người Việt xuống thấp tới mức nào .

                  Lê chiêu Thống  mượn quân nhàThanh để giữ lấy ngai vàng .  Tiếp đến Nguyễn Ánh, trong âm mưu khôi phục địa vị của dòng họ đã mượn hết quân Xiêm La (Thái Lan)  đến quân Pháp đem về nước gây cảnh tương tàn .  Không biết Nguyễn Ánh ( sau này là vua Gia Long) hứa hẹn cho quân Xiêm những gì, nhưng khi quay sang cầu viện với Pháp thì với hiệp ước Verseilles ký ngày 21 -11 – 1787,  Nguyễn Ánh đã nhường cho Pháp cửa biển Hội An ( Ðà Nẵng ), đảo Côn sơn .  May mắn khi ấy Pháp đang có tranh chấp  ở Âu châu không thi hành hiệp ước nhưng Bá đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đã tuyển mộ được một số lính Pháp và mua vũ khí, tàu bè về tiêu diệt  nhà Tây Sơn .

                  Lên ngôi năm 1802, vua Gia Long ( Nguyễn Ánh ) vẫn mang nặng đầu óc ngoại thuộc .  Bao nhiêu những cải cách của vua Quang Trung bị bãi bỏ như việc dùng chữ Nôm trong học hành thi cử, những kinh sách được Viện Sùng Chính do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chủ trì dịch sang chữ Nôm bị thịch thu và đem đốt ; bắt các sĩ tử phải học lại chữ Hán và kinh sách của Khổng Mạnh . 

 Vua Gia Long lấy gần như nguyên bộ luật khắc nghiệt của người Mãn Châu lập ra để áp bức dân Trung Hoa đem áp dụng cho người Việt Nam gọi là luật Gia Long, không kể gì đến phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của người Việt .  Giáo Sư Vũ quốc Thông, Tiến sĩ, nguyên Khoa trưởng Ðại Học Luật Khoa Saigòn  trong cuốn Pháp Chế  Sử Việt Nam (trang 395)  nhận xét :   ” . . . người dân Việt thời Nguyễn gần như sống ngoài lề bộ luật Gia Long và vẫn tiếp tục theo các tập quán cổ truyền đời Lê được lưu truyền lại  .”  

                 Những luật lệ khắc nghiệt và trái ngược với phong hóa ấy đã làm người dân bất mãn nổi loạn khắp nơi .  Chỉ trong khoảng 60 năm, từ đời Minh Mạng (1820 – 1840 ) đến đời Tự Ðức (1847 – 1883) có khoảng 500 cuộc nổi loạn của dân chúng từ Bắc chí Nam – trung bình mỗi năm có gần 10 cuộc nổi loạn trong nước – dẫn quốc gia đến suy bại mất vào tay người Pháp .

                  Lịch sử cận đại chứng minh một lần nữa chúng ta ( những người Việt ) kém tinh thần độc lập và tự chủ  .  Trong thời Pháp thuộc, chúng ta đã không dựa vào thực lực của dân tộc để vận dụng công cuộc giải phóng đất nước  .   Ông Hồ chí Minh tự nhận là học trò của Karl Marx, Lénine, Mao trạch Ðông sang Nga, Tàu cầu cạnh ; ông Ngô đình Diệm sang Mỹ nương nhờ   .   Những sự sai lầm của hai ông ấy gây cho đất nước quá nhiều tai hại chúng ta ai cũng biết cả rồi .

                 Ông Ngô đình Diệm sau khi không thỏa mãn được những đòi hỏi của người Mỹ đã đưa đến cái chết .   Ông Hồ chí Minh – qua các hồi ký của Nguyễn văn Trấn : Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Vũ thư Hiên : Ðêm Giữa Ban Ngày  –  bị  những người thân Nga, thân Tàu bao vây và xử dụng như một loại bù nhìn .  Cả  hai ông không biết vì lý do gì không nhớ tới lời tâm huyết “Vọng ngoại tắc tử : vọng ngoại tất chết ” của cụ Phan Bội Châu, một nhà cách mạng đã từng lăn lộn từ Nhật tới Tàu, Xiêm và trãi qua những lần bị Nhật, Tàu bán đứng khi được Pháp chia chác cho chút quyền lợi ở Việt Nam , Cụ bị Nhật trục xuất,  làm cụ và những đồng chí phải bôn đào khắp nơi, cuối cùng cụ bị Pháp bắt và đày ở Huế cho đến chết .

                Về văn hoá, các nho sĩ ngày xưa học Tứ Thư, Ngũ Kinh không bỏ một câu, một chữ, một dấu khuyên (vòng tròn giá trị như dấu chấm, dấu phảy bây giờ ) . Người hay chữ là người thuộc lòng kinh sách , điển tích Trung Hoa .  Văn thơ phải có phong, hoa, tuyết, nguyệt  và lấy mẫu mực Hán, Ðường làm tiêu chuẩn  :

                                      – Văn như Siêu , Quát vô tiền Hán ,

                                      Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Ðường .

                                                                Vua Tự Ðức

                  Chúng ta thử đọc qua hai bài thơ một của thi sĩ Cao Bá Quát và một của Bà Huyện Thanh Quan sống dưới thời Tự Ðức  :

                                                    Ngán Ðời

                                Thế sự thăng trầm quân mặc vấn , (1)

                                Yên ba thâm xứ hữu ngư châu .

                                Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu ,

                                Ðem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt .

                                Duy giang thượng chi thanh phong, dữ sơn gian chi

minh nguyệt . (5)

                                 Kho trời chung mà vô tận của mình riêng .         

                                 Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng .

                                 Kẻ thành thị, kẻ vui miền lâm tẩu (rừng và đầm lầy)

                                 Gõ dịp lấy, đọc câu ” Tương tiến tửu “ .                           

                                 Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,

                                  bôn lưu đáo hải bất phục hồi .” (10)

                                  Làm chi cho mệt một đời !

                                                                                          Cao Bá Quát

                  Ai cũng công nhận thơ của Thi sĩ Cao bá Quát hay về tứ nhưng rất khó hiểu cho người đọc vì dùng nhiều chữ Hán, Hán Việt và điển tích bênTrung Hoa .  Hai câu đầu là chữ Hán ( việc đời lên xuống ngươi hỏi làm gì, hãy vui cùng chiếc thuyền câu nơi con sông gợn sóng khói phủ mờ), . Câu thứ 5 trích thơ Tô đông Pha trong bài Tiền Xích Bích ( chỉ có gió mát trên sông và trăng sáng trong khoảng núi ) . Câu 10 lấy trong bài Tương Tiến Tửu (sắp kèo rượu) của Lý Bạch ( Ngươi không thấy nước sông Hoàng hà từ trời cao đổ xuống chảy vào bể không quay trở lại – ý nói thời gian trôi đi không lấy lại được ) .  Những chữ Hán như mộng sự, chân thân, lâm tẩu . . . người không học chữ nho không hiểu được .  Câu “Ðem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt .” mang nặng tư tưởng Lão Trang và lấy từ điển tích : ngày xưa Thuần vu Phần bên Tàu  ngủ dưới gốc cây hoè nằm mộng thấy được nhà vua cho làm phò mã cực kỳ vinh hoa phú quí  .  Khi tỉnh mộng thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây hoè  . 

                   Người ta ví cuộc đời như giấc mộng, mộng và thực lẫn lộn nhau .

 

                                           Thăng Long Thành Hoài Cổ .

 

                                          Tạo hoá gây chi cuộc hí trường ,

                                          Ðến nay thấm thoát mấy tinh sương .

                                          Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo ,

                                          Nền cũ lâu đài bóng tịch dương .

                                          Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt ,

                                          Nước còn cau mặt với tang thương .

                                          Ngàn năm gương cũ soi kim cổ ,

                                          Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường .

                                                                             Bà Huyện Thanh Quan

                  Bài thơ trên đây của bà Huyện Thanh Quan thường vẫn được coi như khuân thước của thể thơ Ðường .  Các độc giả trẻ không mấy người hiểu nổi những chữ hí trường (rạp hát ), thu thảo (cỏ mùa thu ), tịch dương (mặt trời chiều), tuế nguyệt (năm tháng), tang thương ( thương hải biến vi tang điền : biển xanh hoá thành ruộng dâu, ý nói việc đời thay đổi ), kim cổ (cũ, mới ), đoạn trường ( đứt ruột )  .  Những chữ Việt Hán trong bài thơ  –  nhất là những hình ảnh như “hồn thu thảo “, “bóng tịch dương ”  –  nếu không có đầu đề là thành Thăng Long (Hànội ) thì người đọc có ý nghĩ tác giả tả một cảnh nào đó bên Tàu  .

                  Sự lệ thuộc tinh thần “học vay viết mướn ” ấy kéo dài cả 2 ngàn năm  .   May nắm tổ tiên đã trang bị cho con cháu một nền văn chương, tư tưởng . . . đủ vững để không bị người Tàu đồng hóa như những sắc tộc khác bên phía bắc ải Nam quan .   Chúng ta may nắm chỉ có một thiểu số rất ít người chịu  học chữ Nho ( vì khó, mất nhiều thì giờ, nếu không đậu đạt thì học cũng vô ích, chỉ “dài lưng tốn vải  ăn no lại nằm “)  như nhà nho (Nho giáo ), nhà sư ( Phật giáo ), thầy cúng ( Lão giáo) , còn đại đa số tiếp tục  duy trì nền văn hóa truyền thống của ông cha để lại  bằng ngôn ngữ – ca dao, tục ngữ – chứ không bằng chữ viết  . Vì học vay viết mướn một thứ chữ quá khó, khó ngay cả với người Tàu, phải học khoảng 10 năm mới đọc được báo chí – ngược với chữ Việt chỉ học khoảng 6 tháng – nên hơn 2 ngàn năm học nho ở Việt Nam mà số tác phẩm do người Việt viết bằng chữ Hán có giá trị thực sự không biết được bao nhiêu trong vỏn vẹn hơn 100 cuốn sách ? 

                  Giáo sư Dương quảng Hàm trong tác phẩm Việt Nam Văn Học Sử Yếu liệt kê được 156 cuốn sách và 7 bài thơ, văn như  Vạn Ngôn Thư của Lê cảnh Tuân,  Ngọc Tỉnh Liên Phú của Mạc Ðĩnh Chi . . .    .     Trong  156 cuốn sách đã kễ một số khá nhiều ghi lại những cuộc đi sứ sang Tàu  như Phùng Công Thi Tập của Phùng khắc Khoan,  Trúc Ông Phụng Sứ Tập của Ðặng Thụy,  Nguyễn Trạng Nguyên Phụng Sứ Tập của Nguyễn đăng Ðạo  . . .     .  

                  Sau khi có “chữ quốc ngữ”, những tác phẩm viết bắng chữ nôm đã nhanh chóng được chuyển sang chữ quốc ngữ và in ra như truyện Kiều, Nhị Ðộ Mai, Phan Trần, Trinh thử, Trê Cóc, Tấm Cám . . . ;  những thơ chữ nôm của Vua Lê thánh Tông, TrạngTrình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ xuân Hương, Nguyễn công Trứ, bà Huyện thanh Quan . . .  cũng được phổ biến rộng rãi bằng chữ quốc ngữ làm cho số người đọc tăng lên gấp trăm gấp ngàn lần . 

                  Thơ, văn không còn là thứ xa xỉ ưu đãi cho một số người nữa .    Sau khi thoát khỏi ảnh hưởng của chữ Hán, chỉ trong chưa đầy một thế kỷ (1918 – 2008), chữ quốc ngữ được phổ biến thì số sách, báo, văn, thơ, triết học, tôn giáo, lịch sử, sách giáo khoa . . .   có thể gấp trăm, ngàn lần của hơn 2.000 năm học chữ Hán . Chẳng những thế, các ngành khác như ca nhạc, kịch, họa phát triển rất mạnh, nhất là hội họa và nhiếp ảnh Việt Nam được quốc tế biết đến  .

                 Thế nhưng gần đây lại có người  cho rằng chữ quốc ngữ  viết theo mẫu tự Latin do thực dân Pháp áp đặt nhằm mục đích làm dân tộc Việt Nam “đứt đoạn ” với văn hoá truyền thống ngàn xưa . Theo  đó, cần phải học lại chữ nho, có học chữ nho mới hiểu được hết ý nghĩa thâm sâu của từng chữ, dịch ra tiếng Việt thì mất hết cái hay  .  Những người bài bác chữ nho hay không muốn học chữ nho là những người lười biếng vì chữ (nho) nào nhiều nét nhất cũng chỉ hơn 30 nét mà thôi !

                  Nếu nói rằng dịch không hay, không lột được hết ý nghĩa của chữ nghĩa”Thánh Hiền ” thì ngày xưa Ðường Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh về dịch là sai lắm sao ?  Bà Ðoàn thị Ðiểm dịch khúc Chinh Phụ Ngâm, ông Phan Huy Vịnh  dịch Tỳ Bà Hành dở lắm sao ?  

                  Nói rằng chữ quốc ngữ do thực dân Pháp áp đặt thì chữ Nho ai đem tới ?  Hai thứ chữ  đều xuất hiện trong thời kỳ xấu nhất của lịch sử dân tộc, nhưng trong cái rủi có cái may : những cái chúng ta chưa có thì mượn của người .   Âu châu bị Hy Lạp rồi La Mã đô hộ khoảng 500 năm, nước nào cũng dùng tiếng Hy Lạp rồi tiếng Latin  nhưng sau đó nước nào nước ấy phát triển ngôn ngữ  riêng của mình  . 

                  Vấn đề là có đầu óc độc lập  để thoát khỏi lệ thuộc mãi mãi không . 

                  Ông Ðỗ thông Minh, giáo sư ở Nhật, cho rằng trong nước ( 2006 )  hiện có khoảng 300 ngàn người học chữ Hán và 250 ngàn học chữ Nhật  . ” Ðây chính là một cơ may thật hạn hữu, có thể giúp phục hồi văn hoá dân tộc Việt Nam ” .  ( Ðỗ thông Minh, Tiếng Việt Mến Yêu đăng trong  Ðặc san Lê Hoa số Xuân 2006 trang 116) . 

                  Văn Hoá dân tộc Việt Nam chỉ nằm gọn trong 156 cuốn sách chữ Hán và 7 bài văn, thơ sao ?    Hay còn phải kể cả sách của Khổng, Mạnh, Mao, Tưởng . . .  ?  

                  Về kinh sách nhà Phật chúng tôi không dám nói đến nhưng những loại như Tứ Thư, Ngũ Kinh hay những sách do những đồ đệ của Khổng Tử ở VN biên soạn thiết nghĩ  không nên nhắc tới cho mất thì giờ vì đã hơn một thế kỷ rồi những người Tàu  như Lương, Khang, Lỗ Tấn . . . đã làm một cuộc cách mạng đối với giáo điều Khổng, Mạnh  .  Sáu  bảy chục năm nay sĩ tử Trung hoa không còn đụng đến những cuốn sách do Khổng, Mạnh  viết nữa   .  

                  Trở lại với 300 ngàn người trong nước học chữ Hán mà ông Ðỗ thông Minh cho là cơ may hạn hữu, thiết tưởng  không đúng lắm vì chính  ông Minh cũng nhận thấy do Tàu, Nhật đầu tư nhiều ở Việt Nam nên : ” Nếu biết chữ Hán đi làm thì mức lương sẽ cao gấp bội “, chứ không có hậu ý “giúp phục hồi văn hoá dân tộc Việt nam ” như ông nghĩ .         

                 Ðó là một thực tế đáng buồn nữa .  Người Việt học hành, thi cử chỉ cốt mong được đi làm mướn cho người ngoại quốc ngay tại đất nước mình !  

                 Ðọc lịch sử cận đại, chúng ta thấy người Pháp chiếm toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ từ năm 1864, lúc ấy những nhà nho yêu nước của chúng ta lãnh đạo Ðông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Ðông Du sau này hầu hết đều chưa chào đời .  Cho đến khi Pháp hoàn toàn đặt nền đô hộ ở Việt Nam (1884), các cụ đang tuổi cắp sách đến trường : Cụ Phan bội Châu 17 tuổi ( 1867 -1940 ), Cụ Phan Chu Trinh 12 tuổi ( 1872 – 1926), cụ Huỳnh thúc Kháng 16 tuổi ( 1876 -1947 )  nhưng các cụ cũng như các nhà nho khác lúc ấy chưa thức tỉnh, mặc dù đã có những bản điều trần của ông Nguyễn Trường Tộ trình lên Triều đình Huế yêu cầu đổi mới đất nước từ lâu,  nhất là lời kêu gọi thống thiết của nhà nho Phan Thanh Giản vào lúc dân tộc đang bên bờ vực thẳm của nạn ngoại xâm do thực dân Pháp tiến hành trên đất nước ta :

                                     – Từ ngày đi sứ tới Tây kinh ,

                                     Thấy việc Âu châu phát giựt mình .

                                     Kêu gọi đồng bào mau tỉnh thức ,

                                     Hết lời năn nỉ chẳng ai tin .

                                                 Phan thanh Giản

                  Sức mạnh của văn minh Tây phương với chiến hạm, đại bác nổ liên hồi như tiếng gầm gừ của loài thú dữ đang há rộng miệng nuốt từng khúc thân hình tổ quốc nhưng những nhà Nho Việt Nam vẫn tôn ông Khổng tử là “Vạn Thế Sư Biểu “, vẫn lấy chế độ quân chủ Trung Hoa làm khuân mẫu không chịu nhìn ra thế giới bên ngoài .     Sau này các cụ lại nhờ đọc sách vở của Tàu do các ông Lương khải Siêu, Khang hữu Vi viết mới biết đến chế độ dân chủ ở  Pháp và các nhà lập thuyết của chế độ  ấy như  Montesquieu (1689 – 1755),  Jean Jacque  Rousseau (1712 – 1778 )  . . .  . 

                  Trong khi người Pháp vác súng trường đứng sừng sững trước mặt, đi giày da cồm cộp nhức cả tai mà phải tìm hiểu họ gián tiếp  qua người Tàu, thật đáng buồn .  

                  Chúng tôi nêu sự việc trên ra đây với mục đích trình bày 1 sự kiện lịch sử khách quan, không dám xúc phạm tiền nhân vì những nhà cách mạng thời chống Pháp chúng tôi luôn đề cập đến với tất cả lòng tôn kính .

                  Việc đáng buồn này, Giáo sư Dương quảng Hàm có nhận xét : ” Về đường học thuật, thì xưa kia ta chỉ biết có học thuật của nước Tàu, lấy ngườu Tàu làm mẫu mực mà bắt chước họ, qúa ham chuộng việc nước Tàu mà quên cả việc nước mình và không biết đến việc thế giới ;  lại có tính quá phục tòng cổ nhân thành ra mất cả trí sáng kiến mà không nghĩ ra được điều gì là cái đặc sắc của mình “( Việt Nam Văn Học Sử Yếu  trg 389) .   Chữ ” ta” Giáo sư Dương quảng Hàm dùng ở đây để chỉ giới học chữ Nho, tức giới trí thức thời xưa chứ không phải chỉ chung tất cả người Việt Nam ;  chữ ” phục tùng cổ nhân ” là phục tùng ông Khổng, ông Mạnh  chứ không phải phục tùng văn hoá của tổ tiên Việt vì theo Giáo Sư thì : ” Về đường văn chương, xưa kia các cụ thường viết chữ Nho mà có ý khinh miệt và nhãng bỏ quốc văn ” ( VNVHSY trang 389) .

                  Giới trí thức học Tàu cũng như giới trí thức học Tây sau này thay vì đi thâu thái  tinh hoa của người về vun trồng cho cái gốc của mình thì lại quên nguồn,  không bám được rễ vào mảnh đất quê hương nên trôi giạt, mất định hướng :

                                     – Lũ chúng ta lạc loài năm, bảy đứa ,

                                     Bị quê hương duồng bỏ, giống nòi khinh .

                                                                          Vũ Hoàng Chương

                  Ðó là những việc xẩy ra ở thế kỷ thứ 19, 20 cách nay hàng 100 năm .

                  Nhưng thời hiện tại ở Nga, thánh địa Cộng Sản và Ðông Âu, chủ nghĩa Cộng sản đã bị loại bỏ và bị coi như một chủ nghĩa phi nhân thì tại Việt Nam sinh viên, học sinh vẫn phải học thuộc lòng từng dấu chấm, dấu phảy như các nhà nho xưa kia . Những người viết sách, viết báo trong nước vẫn phải chưng dẩn từng chương, từng điều, từng câu, từng chữ  nhưng khi Marx còn sống, chỉ trong 15 năm ông sửa cuốn Tư Bản Luận tới 3 lần – trung bình 5 năm sửa 1 lần .  

                  Phải chăng như  một số người nghĩ, chúng ta bị hơn ngàn năm đô hộ giặc Tàu và 80 năm đô hộ giặc Tây mà mất hết đầu óc độc lập ?

                  Ðiều đó không đúng vì suốt thời gian bắc thuộc và Pháp thuộc, nếu xem kỹ lại lịch sử, dân tộc ta luôn luôn quật cường, không mấy khi quân giặc được ăn ngon ngủ yên .  Ðầu óc vọng ngoại chỉ có trong một số trí thức, khoa bảng và những kẻ cầm quyền vì lợi lộc thôi .  

                  Trên thế giới không có dân tộc nào không bị ngoại xâm  . Hy lạp xâm chiếm La Mã, Âu Châu và vùng Cận Ðông, Nam Á  lâu 4, 5 thế kỷ và văn hoá Hy Lạp theo đoàn quân viễn chinh lan toả từ Âu sang Á tới Ấn Ðộ  nhưng về sau Hy lạp bị La Mã đô hộ cũng khoảng thời gian đó . La Mã còn đô hộ khắp Âu Châu như Ðức, Pháp, Tây Ban Nha . . .  Những nước Âu châu sau này thoát khỏi ảnh hưởng của La Mã và trở nên cường thịnh bậc nhất thế giới vì người ta có đầu óc độc lập  .  

(Trích trong NGƯỜI VIỆT CHÚNG TA : Những điều hay – Những điều dở)               

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s