Trần Viết Điền – VỀ NHỮNG TƯ LIỆU QUÍ GIÚP BỔ SUNG LỊCH SỬ CHÙA THIỀN LÂM

Chùa Thiền Lâm – Huế

Khi nêu giả thuyết lăng mộ vua Quang Trung có tiền thân là cung điện Đan Dương được tôn tạo trên nền cũ phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có dựa vào sự kiện lịch sử; rằng Thái sư Bùi Đắc Tuyên từng chiếm chùa Thiền Lâm, ở gò Dương Xuân, làm dinh Thái sư để gần lăng tiên đế. Không những thế, theo NNC Nguyễn Đắc Xuân Chùa Thiền Lâm-Dinh Thái sư có khi trở thành “cung đình Quang Toản” trong giai đoạn từ 1792-1795 (?). Cung đình này sinh hoạt theo lệ cũ thời vua Quang Trung tại vị. Vì thế, những tư liệu thư tịch do người đương thời viết về chùa Thiền Lâm được NNC Nguyễn Đắc Xuân tiếp cận và công bố. Dạng tư liệu hỗ trợ này có khi đắc dụng, trong tình hình tư liệu lịch sử về lăng mộ Quang Trung quá ư hiếm hoi.

Chùa Thiền Lâm – Huế

Sau đây chúng tôi thử tìm hiểu hai bài thơ của hai đại thần Tây Sơn, Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm, cảm tác về chùa Thiền Lâm, sau khi Bùi Đắc Tuyên bị đảo chánh năm 1795, được NNC Nguyễn Đắc Xuân vận dụng trong những quyển sách mà ông đã xuất bản trong những năm gần đây. Chúng tôi xem thử hai tư liệu này có giúp củng cố giả thuyết cung điện Đan Dương – sơn lăng vua Quang Trung hay không ? Những thông tin do hai bài thơ cung cấp góp phần bổ sung lịch sử chùa Thiền Lâm như thế nào?

Bài thơ của Phan Huy Ích:

Trong sách “Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử Thiền viện đầu tiên lớn nhất ở xứ Đàng Trong” (Nguyễn Đắc Xuân, NXB Thuận Hóa Huế 2017), tác giả đã công bố bài cảm tác do Phan Huy Ích viết khi ngang qua chùa Thiền Lâm hoang phế (khoảng năm 1796). Bài cảm tác chép tay, do Đinh Khắc Thuân, Viện Hán Nôm cung cấp, được tác giả Nguyễn Đắc Xuân chụp ảnh và công bố, Ngô Văn Lại phiên âm và dịch nghĩa (xem tr.92-93, tư liệu [5]).

Phần phiên âm và dịch nghĩa của Ngô Văn Lại:

Kinh Thiền Lâm phế tự cảm tác.

Tự tại Dương Xuân xã sơn, thử ư cựu Võ Hiếu Vương thời, viện vũ cao xưởng, tương truyền đồng dao vân:

Thiền Lâm có đá cheo leo

Ai thương sư phụ thì trèo Thiền Lâm”

Tiền Thái sư Bùi Đắc Tuyên nhân tự kiến đế thiện tài thứ chính vu sở cư, quan lại quân dân… sơn kính tự dĩ dao ngôn giai sám. Đãi Bùi Đắc Tuyên hạch tội, tự phế vi thán khố, yên phong hoang mạc quá cảnh nhiên tri ý yến.

Thùy sử kiêu ngu nhiếp chí tôn

Khỉ tri trung thánh cụ lưu lưu ngôn

Tam niên chính bính tư……

Dịch nghĩa: Cảm tác khi đi ngang chùa Thiền Lâm

Chùa ở núi thuộc xã Dương Xuân, bắt đầu dựng từ thời Võ Hiếu Vương, nhà cửa cao to, tương truyền có câu đồng dao:

Thiền Lâm có đá cheo leo

Ai thương sư phụ thì trèo Thiền Lâm”

Ngày trước Thái sư Bùi Đắc Tuyên chiếm chùa làm nhà riêng mặc tình giải quyết việc nước (tại nhà riêng).(Nên) quan lại, lính tráng, dân chúng, lũ lượt trên đường núi, tự coi lời đồng dao ấy là lời sấm đẹp.

Đến khi Bùi Đắc Tuyên bị tội, chùa bỏ hoang làm kho than. Những núi than lặng lẽ (làm cho) kẻ đi qua (Phan Huy Ích) giật mình để ý.

Ai xuôi kẻ kiêu ngu nối bước bậc chí tôn?

Há biết chăng bậc trung thánh sợ lưu ngôn?

Ba năm nắm quyền riêng…” (sđd,tr.93)

Chúng tôi phát hiện phần phiên âm của Ngô Văn Lại có chữ bị sai và có hai chữ không phiên:

Phần phiên âm nhầm chữ “thỉ” () (ban đầu) thành “thử”( )(này), nhầm chữ “vi” ()(thành ra) thành “vô”( ) ( không),nhằm chữ “yên”( )(nơi đó)thành “yến” () (yên vui) và không phiên cụm chữ “cấp tập” (彶緝) (lũ lượt) nằm giữa chữ “dân”( ) và chữ “sơn”( ).Nên chăng chữ “xuôi” trong câu “Ai xuôi…” phải chữa thành “xui”( chữ nôm 使) mới đúng. Những lỗi vừa nêu cho thấy NNC Nguyễn Đắc Xuân đã sử dụng văn bản tư liệu thiếu cẩn trọng!

経 禅 林 废 寺 感 作

寺 在 陽 春 社 山 於 舊 武 孝 王 時 院 宇 高 廠 相 傳

童 謠 云 禅 林 固 跢 㹦 撩

埃 傷 師 父 时 蹽 禅 林

前 太 師 裴 得 亘 因 寺 建 邸 擅 裁 庶 政 于 所 居

官 吏 军 民 彶 緝 山 径 自 以 謠 言 佳 讖. 迨 裴 得 亘

覈 罪 寺 废 炭 库 煙 峰 荒 漠 過 者 耿 然 致 意 焉.

誰 使 驕 愚 摄

岂 知 忠 聖 惧 流 言

三 年 政 柄 私屡辣

Thậm chí ông không ngờ tư liệu này làm cho giả thuyết công tác mà ông xây dựng trở thành mâu thuẫn nội tại.Vì sao?

NNC Nguyễn Đắc Xuân cho rằng sát “dinh Thái sư” (chùa Thiền Lâm) có “cung điện Đan Dương “(sinh thời nhà vua ở và làm việc), là tiền thân của “lăng Đan Dương”(sau khi vua Quang Trung băng hà) và không xa lại có “cung phủ” của Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân (trưng dụng đại danh lam Kim Tiên). Rõ ràng trong bài cảm tác, Phan Huy Ích đã phê phán nặng lời họ Bùi khi coi ông ta là “kẻ kiêu ngu” trong việc “chiếm chùa Thiền Lâm làm nhà riêng”. Nếu theo giả thuyết của Nguyễn Đắc Xuân, vua Quang Trung trưng dụng “phủ Dương Xuân hoang phế” làm “cung điện Đan Dương”, Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân trưng dụng “đại danh lam Kim Tiên” làm “ cung phủ Bắc cung Hoàng hậu”, Bùi Đắc Tuyên trưng dụng đại danh lam Thiền Lâm làm “dinh Thái Sư”, thì hóa ra tác giả Phan Huy Ích khi làm bài thơ này đã sơ ý phạm tội “bất kính” đối với tiên đế Quang Trung, đương kim hoàng đế Cảnh Thịnh, Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân! Một trọng thần và một tác gia lớn như Phan Huy Ích không thể cảm tác thiếu cẩn trọng như thế. Hơn nữa nếu theo giả thuyết Nguyễn Đắc Xuân thì triều vua Cảnh Thịnh quá coi thường sơn lăng /viên lăng của tiên đế, khi triều Tây Sơn sau năm 1795 đã biến “dinh Thái sư” thành “kho than”, biến “tả long” của lăng vua trở thành “yên phong hoang mạc”. Nếu Đan Dương lăng nắm sát bên phải chùa Thiền Lâm thì sau cuộc đảo chánh 1795 quang cảnh ngôi lăng quá nhếch nhác tiêu điều! Vậy giả thiết Đan Dương lăng ở gò Bình An mâu thuẫn ý từ bài thơ này.

Bài thơ của Ngô Thì Nhậm.

Năm 1797, Ngô Thì Nhậm từ Thăng Long vào triều cận vua Cảnh Thịnh đã trưởng thành, có dịp trở lại viếng chùa Thiền Lâm, lúc bấy giờ chùa đã được phục hồi, họ Ngô đã cảm tác bài thơ:

再 経 禅 林 寺

将 府 繁 华 局 崺 移

村 冈 古 刹 尙 依 依

寒 泉 儆 世 眈 权 利

枯 樹 嘲 人 作 福 威

寄 往 是 非 云 变 化

如 來 色 相 月 明 煇

経 过 故 氐 重 回 首

為 弔 西 風 類 壹 卮

NNC Nguyễn Đắc Xuân đã sử dụng phiên âm và dịch nghĩa của sách Văn học cổ cận đại Việt Nam, Thơ Ngô Thì Nhậm, Tuyển dịch, Nxb Văn học Hà Nội-1986( tr. 142-144):

Tái Kinh Thiền Lâm Tự

Tướng phủ phồn hoa cục dĩ di,

Thôn cương cổ sát thượng y y.

Hàn tuyền cảnh thế đam quyền lợi.

Khô thụ trào nhân tác phúc uy.

Ký vãng thị phi, vân biến hóa,

Như lai sắc tướng , nguyệt minh huy.

Kinh qua cố để trùng hồi thủ,

Vi điếu tây phong loại nhất chi.

Dịch nghĩa:

LẠI QUA CHÙA THIỀN- LÂM

Cái cuộc phồn hoa ở dinh quan tướng đã thay đổi rồi,

Ngôi chùa cổ trên ngọn đồi thôn quê vẫn hương khói y nguyên.

Dòng suối lạnh kia, có ý răng đời ham đường quyền lợi,
Chối cây khô nọ, dường còn nhạo kẻ tác oai tác phúc.

Bao việc phải trái đã qua, đều tựa áng mây biến đổi,

Tượng Phật vàng son rực rỡ, vẫn cùng vầng trăng sáng ngời.

Nay qua nơi dinh thự cũ, lại ngoảnh nhìn lại,

Muốn rót một chén rượu xuống đất để viếng làn gió tây.

Dịch thơ:

Phồn hoa dinh tướng cuộc tàn rồi,

Chùa cũ làng quê cảnh lại tươi.

Suối lạnh nhường răn người hám lợi,

Cây khô như giễu kẻ khoe oai.

Việc đời phải trái mây thay đổi,

Đạo Phật xưa nay nguyệt sáng ngời.

Chốn cũ dạo qua, nhìn trở lại,

Gió tây một chén rót cho ai.

(Đỗ Ngọc Toại dịch)

Qua bài thơ của Ngô Thời Nhậm cho thấy vị trọng thần của Tây Sơn rất coi thường họ Bùi khi cho thái sư “đam quyền lợi”, “tác phúc uy”, nghĩa là “tham quyền vị tiền”, “tự tung tự tác ở chùa Thiền Lâm. Nếu theo giả thuyết Nguyễn Đắc Xuân , họ Bùi vì chiếm chùa Thiền Lâm làm dinh Thái sư, gần Đan Dương lăng đ bảo vệ và hương khói, cũng như Bắc cung hoàng hậu Ngọc Hân trưng dụng chùa Kim Tiên để ở và tiện hương khói lăng Đan Dương, chưa kể chùa trở thành cung đình triều Cảnh Thịnh thì hai trọng thần Phan, Ngô phạm tội khi quân khi làm thơ văn có tính phê phán họ Bùi. Bởi vì Bùi Đắc Tuyên chiếm chùa Thiền Lâm, vừa tiện công việc của thái sư vừa hương khói ở lăng Đan Dương một hành xử đáng khen chứ không đáng trách!

NNC Nguyễn Đắc Xuân từng cho phủ Dương Xuân gần chùa Thiền Lâm “chỉ trong gang tấc”, nghĩa là cung điện Đan Dương/sơn lăng của vua Quang Trung sát gần chùa Thiền Lâm. Viếng chùa, trong khi lăng vua cạnh đó, họ Ngô quả là hờ hững với lăng tiên đế, không thấy, không chiêm bái trong khi vẫn đón “tây phong”, từ phía lăng vua thổi qua (?). Con đường đến chùa Thiền Lâm, vòng quanh Đan Dương lăng (suy từ giả thuyết Nguyễn Đắc Xuân), theo miêu tả của họ Ngô, quá ư mộc mạc, không phải con đường trước cung điện lăng tẩm vua chúa! Dòng suối chảy trước chùa Thiền Lâm sớm vào “minh đường thủy tụ” lăng Đan Dương, theo họ Ngô là “ Hàn tuyền cảnh thế đam quyền lợi” thì đâu chỉ phê phán họ Bùi? Không khéo họ Ngô bị triều thần đàn hặc việc ông đã vô ý đụng chạm triều Tây Sơn với lăng Đan Dương, cung phủ Bắc cung hoàng hậu ở gần dòng suối ư ?Trong thời gian sáng tác bài thơ này, họ Ngô sáng tác tập Thu cận dương ngôn, có bài “ Khâm vãn Đan Dương lăng”; miêu tả lăng Đan Dương, có câu: “Trắc giáng hoàng linh khâm tại tả”. Theo BS.Dương Phước Sinh, địa lý gia từng cộng tác với NNC Nguyễn Đắc Xuân, nếu lăng Đan Dương vua QT ở gần chùa Thiền Lâm, trên gò Bình An thì lăng vua “tọa càn hướng tốn”, như thế chùa Thiền Lâm(cổ)-Dinh Thái sư phải nằm sát phía trái của lăng. Triều thần tập trung ở khoảnh sân bên trái lăng để tế lễ vào những ngày sóc vọng có khi phải cung cúc lễ bái,…trên những “núi than” ư. Vậy giả thiết Đan Dương lăng ở gò Bình An mâu thuẫn với tư liệu này.

Hai bài thơ góp phần bổ sung lịch sử chùa Thiền Lâm.

Bài thơ của họ Phan chứng tỏ Bùi Đắc Tuyên trú trì chùa Thiền Lâm trước khi giữ chức Thái Sư.

Đặng Phương Nghi trong bài Triu đi Quang Trung dưới mt các nhà truyn giáo Tây phươngS Đa, S 13 (1969), trang 151, có đoạn giới thiệu thư ca giáo sĩ Longer gi B Giáo Thánh Hi (La Propagande) ngày 14/3/1795, cho biết Bùi Đc Tuyên là “mt cu tăng sĩ”. Phan Huy Ích trong bài“Cảm tác khi đi ngang chùa Thiền Lâm” từng chép lại câu đồng dao “ Thiền Lâm có đá cheo leo/Ai thương sư phụ thì trèo Thiền Lâm” ra đời khi Tuyên cỏn trú trì chùa Thiền Lâm. Khi họ Bùi giữ chức Thái sư, người đời cho bài đồng dao trên là lời sấm đẹp.Khi chùa Thiền Lâm trở thành dinh Thái sư của Bùi Đắc Tuyên (3 năm từ 1793 đến 1795) Chùa Thiền Lâm từng là Phậtviện, từng được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát trùng tu nên chùa có nhiều công trình để họ Bùi đưa nha sở đến ở chung quanh dinh Thái sư. Do Bùi Đắc Tuyên với hậu thuẫn của chùa Thiền Tôn, đứng đầu là ngài Đại Tuệ, đã góp phần không nhỏ trong việc lo tang ma cho vua Quang Trung; bởi vậy vua trẻ Cảnh Thịnh thấy quả ông cậu là một người thân ruột đáng tin cậy và giỏi giang nên sớm phong Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư.

Sách “Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóa” ( Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2010) cho rằng sau khi tổ Liễu Quán viên tịch, các đệ tử đắc pháp của tổ như Tế Hiệp- Viên Minh, Tế Hải- Viên Giác đã kế tục trụ trì chùa Thiền Tôn. Từ năm 1775, khi quân Lê-Trịnh đã chiếm Phú Xuân, họ hàng chúa Nguyễn “tan đàn sẻ nghé”, tăng chúng xiêu dạt, ngài Tế Mẫn -Tổ Huấn kế tục trú trì chùa trong 3 năm, cố gắng trùng tu chùa, lợp lại mái ngói nhưng quan trọng là “chính Tổ Tế Mẫn -Tổ Huấn là người hoằng Pháp chân truyền, làm cho Pháp phái Thiền Lâm Tế Tử Dung-Liễu Quán phát triển và long thịnh rực rỡ về sau” (sdd, tr.155 ). Tổ Tế Mẫn-Tổ Huấn viên tịch năm 1778, thiền sư Đại Tuệ – Chiếu Nhiên, Lâm Tế đời thứ 37, kế tục trụ trì chùa Thiền Tôn. Vị này có quan hệ mật thiết với Tây Sơn nên các đệ tử ắt có cộng tác với triều Tây Sơn! Sách “Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóachép: “Hòa thượng Chiếu Nhiên húy Đại Tuệ thuộc đời thứ 37 dòng thiền Lâm Tế tức đời thứ 3 thuộc pháp phái Liễu Quán, về tiểu sử của Hòa thượng hiện thời tôi chưa nắm rõ, nhưng trong khi ngài làm Trú trì chùa Thuyền Tôn gặp thời Tây Sơn, tự điền bị chiếm dụng, chùa chiền của cải hư hao, Tăng chúng tán thất, Hòa thượng thì âm thầm tự tu, dấu kỹ các pháp khí của chùa, chỉ còn giữ lại được giấy tờ ruộng đất như trong văn bia Thiền Tôn ghi. Đến năm 1789, sau khi lệnh cấm được bãi bỏ, Hòa thượng trở về nhóm họp tăng chúng, giáo pháp tạm thời hưng khởi. Năm 1793, có thí chủ bà Đốc Hữu phát nguyện dựng nhà tranh, thiện tín vân rập ngày càng hưng thịnh. Năm 1799 Hoàng đệ Thái Tể (thuộc triều Tây Sơn), tuổi vừa hai mươi sáu, phát nguyện rộng lớn, hết lòng sùng kính Tam bảo, phát tâm chẩn thí, ủy cho Đại Tư mã trùng tu tự viện trang nghiêm quang rạng.Năm 1801, vua Gia Long thống nhất đất nước, tôn sùng tượng giáo, Tăng già được trọng nễ.

Hòa thượng viên tịch năm 1802 truyền ngôi trú trì Thuyền Tôn cho Hòa thượng Đạo Tâm -Trung Hậu”(s đ d, tr.155). Rõ ràng từ năm 1789, Hòa thượng trú trì chùa Thiền Tôn đã gắn bó với Tây Sơn và có khả năng đệ tử của ngài Đại Tuệ- Chiếu Nhiên, pháp danh Đạo Minh-Phổ Tịnh ở ngôi chùa nhỏ (tiền thân chùa Huệ Lâm) cùng với nhà Công Quán của Tây Sơn (nơi Phan Huy Ích ở) trong khuôn viên cũ của Trường Pháo được lập thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Khi bà Phạm Thị Liên mang bệnh và băng năm 1791, tăng sĩ Bùi Đắc Tuyên, anh cùng cha khác mẹ với Phạm hoàng hậu. lo việc cầu đảo ma chay, có sư phụ Đại Tuệ hộ trì. Bùi Đắc Tuyên, sớm thọ giới với thiền sư Đại Tuệ-Chiếu Nhiên (trụ trì chùa Thiền Tôn), có công lớn trong việc tang ma thân mẫu của Cảnh Thịnh, sớm trở thành một vị trụ trì có uy vọng của chùa Thiền Lâm. Bởi vậy có người tạo câu hát cho trẻ nhỏ: “ Thiền Lâm có đá cheo leo/Ai thương sư phụ thì trèo Thiền Lâm” .Khi vua Quang Trung băng hà vào năm Nhâm Tý[1792] ở kinh đô Phú Xuân, sư trụ trì Bùi Đắc Tuyên chùa Thiền Lâm, lo việc tang ma cho vua Quang Trung rất chu đáo với sự hộ trì của sư phụ Đại Tuệ-Chiếu Nhiên, các pháp/huynh đệ Đạo Tâm-Trung Hậu, Đạo Minh-Phổ Tịnh… . Lúc khủng hoảng tinh thần, có người thân lo cầu đảo, sau đó lo ma chay, vua trẻ Cảnh Thịnh đã quyết định chọn Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư. Thái Sư và đã biến chùa Thiền Lâm thành dinh Thái Sư.

Bùi Đắc Tuyên là ngài Đạo Tuyên-Chánh Tín

Bùi Đắc Tuyên bị dìm sông năm 1795 thì chắc chắn tăng chúng âm thầm lập bài vị thờ họ Bùi. Nhờ các bài vị còn thờ ở chùa Thiền Lâm các nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sáng đã liệt kê được một phổ hệ truyền thừa, nửa Tào Động, nửa Lâm Tế, có khi Tiên Thiên Thánh Giáo (?). Thời chúa Nguyễn (từ 1680-đến 1775), các vị Khắc Huyền, Quả Hoằng thuộc Tào Động. Có khả năng khi chúa Nguyễn Phúc Chu phật lòng vụ Quả Hoằng đề bạt thương gia Lưu Thanh, có hành động xấu nên Quả Hoằng bị thất sũng, khi ấy nhà chúa giao ngài Minh Hoằng -Tử Dung của chùa Ấn Tôn chủ trì mùa kết tập ở Thiền Lâm viện vào năm 1712. Thanh Thận Chiêu QuảThanh TĩnhĐạt Tôn thuộc về Lâm Tế Chánh tông, đệ tử đắc pháp của ngài Minh Hoằng –Tử Dung tiếp tục trú trì chùa Thiền Lâm. Ngài Thanh Thận có khả năng trụ trì vào thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, đã trùng tu chùa Thiền Lâm và sắc tứ ngôi chùa này. Thời Lê-Trịnh và Tây Sơn (1775-1789), các vị thiền sư Lâm Tế chánh tông từ Quảng Nam ra, cùng lúc triều Tây Sơn ngự trị Phú Xuân. Các ngài Phổ Trừng, Phổ Minh, Phổ Tịnh, Thông Huy, Thông Tải, Thông Giác, Tâm Huệ có pháp danh là theo bài kệ truyền thừa của ngài Trí Bản-Đột Không( Lâm Tế đời thứ 25) rất phát triển ở Quảng Nam.Bài kệ “…Tịch Chiếu Phổ Thông.” và chùa Phổ Đà núi Nga Mi có bài k tiếp nối “ Tâm Nguyện Quảng Tục…”. Khi thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp –Di Đà thì chùa Thập Tháp Di Đà đặt pháp danh theo bài kệ vừa nêu. Chùa Thập Tháp Di Đà là nơi đặt bản doanh của phong trào Tây Sơn. Khi Tây Sơn đã hàng nhà Lê-Trịnh thì các vị sư xuất thân tổ đình Thập Tháp Di Đà ra Phú Xuân kế thế trú trì chùa Thiền Lâm cũng hợp lý. Bùi Đắc Tuyên có thể thọ giới với ngài Đại Tuệ-Chiếu Nhiên đang trú trì chùa Thiền Tôn với pháp danh Đạo Tuyên-Chánh Tín, có các pháp huynh đệ Đạo Minh-Phổ Tịnh, Đạo Tâm-Trung Hậu. Như thế bài vị thờ Đạo Tuyên Chánh Tín Thiền sư được lập vào thời Cảnh Thịnh, do tăng chúng chùa Thiền Lâm lập nhằm bí mật thờ sư phụ Đạo Tuyên-Chánh Tín (thế danh Bùi Đắc Tuyên) ở chùa Thiền Lâm, sau khi Thái sư họ Bùi bị hại.

Thay lời kết:

Ngô Thời Nhậm và Phan Huy Ích là hai đại thần của triều Tây Sơn, rất yêu kính vua Quang Trung. Qua các tác phẩm của hai ông thấy rõ tấm lòng của họ Ngô, Phan đối với vua Quang Trung khi ngài còn sống cũng như khi ngài đã băng hà. Còn đối với Thái sư Bùi Đắc Tuyên thì họ không phục. Chỉ cần ý và từ của hai bài thơ nêu trên, có thể biết thái độ phê phán của hai vị Ngô, Phan đối với việc họ Bùi biến chùa Thiền Lâm thành dinh Thái Sư. Từ đó có thể thấy không có cung điện Đan Dương ở gần chùa Thiền Lâm khi vua Quang Trung còn tại vị và lại càng không có Đan Dương lăng ở gần chùa Thiền Lâm khi nhà vua đã băng hà. Và hệ quả là không có sự kiện Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân trưng dụng chùa Kim Tiên ở phía bắc lăng Đan Dương, gần lăng tiên đế để tiện hương khói! Khi Nguyễn Quang Toản dâng sớ lên vua Càn Long, báo cáo đã táng tiên đế ở Thăng Long, gần đất Liêu, nơi có hành cung Nhiệt Hà, theo lời dặn của vua cha, thế nên lăng thật ở Phú Xuân phải giữ bí mật. Thái sư Bùi Đắc Tuyên đã biến chùa Thiền Lâm làm dinh thái sư, đưa nha thuộc đến ở chung quanh chùa, sát lăng vua Quang Trung, cho nên “quan lại, lính tráng, dân chúng, lũ lượt trên đường núi” để đến dinh Thái sư thì liệu có bảo đảm bí mật lăng vua không ?. Việc tang ma do Bùi Đắc Tuyên, Đạo Minh-Phổ Tịnh, Đạo Tâm-Trung Hậu, Phan Huy Ích phụ trách. Nhà công quán gần chùa Huệ Lâm, không xa chùa Thiền Lâm, rất tiện cho Phan Huy Ích nói riêng và các vị sư nói chung, lo việc tang ma cho vợ chồng vua Quang Trung. Bọn “tiểu giám hộ lăng”, ở vùng “Ngọc Trản phong đầu” thường liên lạc với các vị phụ trách việc tang ma, trong giai đoạn vua Cảnh Thịnh còn cư tang, nên thường hay thăm viếng Phan Huy Ích đang ở nhà Công Quán, nhân thể “hầu rượu” quan lớn họ Phan vậy.

Huế, 1.5.2019

Trần Viết Điền

Tài liệu tham khảo chính:

[1]: Hà Xuân Liêm, “Những ngôi chùa Huế”, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000. [2]:Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn , Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóa,NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010

[3]:Nguyễn Đắc Xuân, Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2007.

[4]:Nguyễn Đắc Xuân (2015), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung(tái bản lần thứ 1), Nxb Thuận Hóa, Huế,2015.

[5]:Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2017.

 [6]:Võ Vinh Quang, “Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm,đăngthành4phần, bắtđầutừ ngày03/01/2018,trênwebsite http://hueworldheritage.org.vn/

[7]:L.Cadière (1928), “Tombeaux Annamites dans les environs de Hué” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế)”, Bullentin des Amis du Vieux Hué (BAVH) No.1, Janv-  Mars.

[8]:Trần Viết Điền, “Làng cổ Dương Hóa”, Tạp chí Sông Hương số 333, tháng 11/2016, tr.11-16.

[9]:Trần Viết Điền, “Phủ Dương Xuân: Vài chi tiết cần trao đổi với tác giả Nguyễn Đình Đính”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Sở KH&CN Thừa Thiên Huế,Số 1(135) 2017, tr,134-148.

[10]:Trần Viết Điền, “Tâm cảm Ngô Thì Nhậm khi viết bài thơ Cảm Hoài”, Tạp chí Sông Hương số 337, tháng 3/2017, tr.72-79.

[11]: Trần Viết Điền, “Ngàyxuân “vịnh sử” nhớ anh hùng”, Tạp chí Sông Hương số đặc biệt T.3-2017 (19-5-2017)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s