Võ Thị Điềm Đạm (chương 23, Kết)

Heaven and Earth – Tranh Hồ Thành Đức

Chương hai mươi ba

Tháng hai, năm hai ngàn lẻ bảy

Tiếng bánh xe chạy trên mặt tuyết mới rơi thêm đêm qua làm cho sân ngoài nhà trắng mượt óng ánh lớp tuyết còn đang ngái ngủ cựa mình thức dậy. Chris nhìn ra sân, Kim lái xe vô ga ra, anh thở nhẹ người. Lần nào cũng vậy, hễ Kim có phiên trực một ngày và một đêm liên tục ở bệnh viện là Chris lo lo, trông ngóng vì Kim phải lái xe về một mình. Đường mùa đông trơn trợt, sáng sớm xe ủi tuyết chưa ra đường, tính Kim lơ đãng cứ hay nghĩ ngợi đâu đâu khi lái xe hoặc cứ nhâm nhi tự hát tự diễn cho mình nghe rồi quên nhỏ ga để quẹo, rồi lại thắng gấp, đường trơn, trợt bánh xe là tai nạn.

Chis đòi đưa đón mà Kim nhất định không chịu, cứng đầu lắm, lý luận: “Anh phải để em tự lo cho em, em muốn đi làm thì em phải tự đi tự về, anh phải thức dậy sớm để đón em, em không yên tâm đâu. Em lái xe cẩn thận hơn anh mà anh cứ bày đặt lo với lắng.”

Chris chịu thua, không dậy sớm để đón Kim thì Chris cũng dậy sớm để chờ Kim về, để làm cho Kim ly sữa nóng với mật ong, thức ăn sáng cho Kim. Còn không là Kim lười, chui thẳng vô giường để bụng đói mà ngủ. Chris nhắc Kim hoài là ăn no rồi đi ngủ thì ngủ mới ngon giấc, mới lấy lại sức, vậy mà Kim đâu có nghe lời. Chris lắc đầu: “Năm chục tuổi rồi mà cái tật cứng đầu càng lúc càng tệ hơn, cái gì cũng dành làm, cái gì cũng dành lo một mình, bịnh hoạn cũng không than không vãn, ai biết đường đâu mà lo…”.

Lấy nhau vừa hai mươi mốt năm, càng lúc Chris càng thương vợ, thương cái chân tình đơn giản, cái hết lòng của Kim với chồng với con. Thương cả cái tính giận không thèm nói, không thèm cãi, ai biết giận chuyện gì mà sửa đổi, quay lưng dấu giọt nước mắt. Thương luôn cái tính không chịu xin lỗi, bao giờ anh cũng là người làm lành trước, anh lì thì anh lỗ. Mỗi lần Kim giận chồng là Kim bỏ đi ngủ trước, không thèm ngồi đọc báo chung, không thèm ngồi coi phim chung, không thèm ngồi coi tin tức chung… Nằm ngủ thì cuốn chăn, không cho Chris chạm vô người mình. Cách xin lỗi của Kim là làm một ngón ăn ngon mà Chris thích, đêm ngủ vùi vào lòng chồng nũng nịu, dâng hiến.

Cuộc sống với Kim thật hiền hòa, thật vững bền. Vợ chồng có lúc thăng hoa có lúc u buồn nhưng Kim cũng như Chris không bao giờ để cho chữ “ly dị” hay “bỏ nhau” làm vẩn đục đời sống gia đình ấm êm mà chính anh và Kim rất cố tâm gầy dựng cho chính mình và cho các con.

Lần đầu tiên theo Kim cùng các con về thăm gia đình Kim. Chris chờ lúc Kim không có mặt gần bên, anh nhờ Therese lúc đó mới mười hai tuổi thông dịch cho bà Ba Hòa. Anh trân trọng nắm tay bà Ba Hòa, nhìn bà và nói thật rõ ràng: “Con cảm ơn ba má. Con lấy được Kim là một việc làm đáng giá nhất trong cuộc đời con”.

Bà Ba Hòa, người đàn bà đơn giản thật tình chỉ biết gật đầu nhận lời cám ơn đó, lòng hãnh diện về đứa con gái ngày xưa ông bà thường mắng là du côn, cứng đầu, nhưng trong thâm tâm ông bà rất thương đứa con nhiều tình cảm này, nhất là từ ngày nó mất tin anh Hải, tính tình đổi hẳn, một thân bươn chải buôn bán lo cho gia đình.

Và bà cũng nói lời cám ơn Chris rằng: “Anh đã bảo bọc thương yêu Kim, đã cho ông bà sự an lòng kể từ ngày Kim về sống với anh. Cuộc đời Kim may mắn. Anh là điểm tựa cho Kim, chúng tôi hãnh diện được có anh là người con trong gia đình. Tiếc là Ông đã mất, không có cơ hội gặp người rể quí và các cháu ngoại.” Con bé Therese thủ thỉ kể với mẹ.

Chris mở cửa cho vợ, đón lấy giỏ xách để Kim cởi áo khoác dắt lên móc, hôn lên trán vợ hỏi:

– Em mệt không? Có ông bệnh nhân cà chớn nào đòi được nắm tay cô y tá mới chịu ngủ không?

– Có, không phải ông mà là bà xồn xồn. Bà bắt em ngồi nghe bà kể chuyện ông chồng đã đi lính ở Việt Nam, chụp hình gởi về cho bà toàn là hình chụp chung với mấy cô gái đội cái gì trên đầu như cái rổ, bận áo đầm rồi còn bận quần nữa. Ông chồng là sĩ quan huấn luyện ở quân trường, chuyên về vũ khí, đạn dược, toàn kể chuyện nghèo khổ, thiếu thốn, cảnh dơ bẩn ở Việt Nam hồi đó làm bà ta không dám qua Việt Nam thăm chồng.

– Ha… ha… Bà này dại. Bà đâu biết là ông chồng dọa bà, bà sợ, bà không tính chuyện qua Việt Nam thăm chồng để ông tự do với người tình bé bỏng như biết bao lính Mỹ thời đó.

– Đúng vậy đó anh. Đến bây giờ bà ta cũng không dám về Việt Nam du lịch. Em phải giải thích, phải biện luận cho những cái nhìn thiên lệch chắc chắn cố ý của chồng bà, mỏi cả miệng.

– Thì em đừng lại giường bà ta nữa.

– Đâu có được. Bà giựt dây gọi, hết đòi thứ này đến xin thứ kia, làm như đang ở khách sạn năm sao vậy. Em phải đẩy con nhỏ Sarah lại “hầu” bà ta, chứ em lại là bà ta bắt đầu hỏi chuyện về Việt Nam. Bà tưởng đâu chắc nói chuyện về Việt Nam là em thích em sẽ ngồi xuống giường cho bà thỏa mãn cái tật già chuyện. Lúc nào bà dựt dây gọi mà Sarah bận là em rầu lắm. Tội nghiệp ông chồng, chắc bà nói suốt ngày, mà nói đi nói lại một vài chuyện, chắc có ngày ông chồng nổi khùng.

– Thôi ăn chút gì đi cô đặng có sức mà ngủ. Quên cái bà già nhiều chuyện đó đi. Hai thằng nhóc cũng sắp dậy rồi đó. Anh đã làm thức ăn trưa cho tụi nó rồi. Buổi nay em có cần anh mua gì không thì anh ghé chợ?

– Thôi để chút ngủ dậy, em đi chợ, đi ra ngoài cho khoẻ người.

***

Giấc ngủ không yên. Câu chuyện bà xồn xồn người Na Uy nói về Việt Nam theo những lá thư của ông chồng về cuộc chiến ngày đó kéo Kim trở lại Việt Nam, về những hình ảnh tưởng chừng như đã được dấu kín dưới nhiều lớp đá hoa cương, khó ai lật bung lên, ngay cả Kim cũng không muốn nhích tảng đá ấy. Sau ba lần cùng chồng con về thăm Việt Nam, mỗi lần thăm là mỗi lần nhắc Kim trở lại những ngày tháng ở Sài Gòn mà Kim tưởng chừng như mình đã quên hẳn.

Vô tình hay từ trong tìm thức thúc đẩy, Kim thích đưa gia đình đến những nơi ngày xưa Kim thường đi với Hải. Kim không cảm thấy làm như thế là không đúng với Chris, bởi vì tình yêu với Hải ngày xưa đối với Kim bây giờ như một kỷ niệm thật đẹp, một kỷ niệm trải đầy thương yêu của một thời con gái, một kỷ niệm không cay đắng trắc trở để khi nhớ lại làm người trong cuộc thở dài cho một cuốn phim không có đoạn kết.

Cả Kim và Chris đều chấp nhận dĩ vãng của nhau, Kim không hỏi gì về Maritta và Chris không hỏi gì về quãng đời còn trẻ của Kim khi ở Việt Nam. Cả hai cùng hiểu là mỗi người đều đã trải qua một mối tình lớn trong đời, mối tình đã làm cả hai chững chạc, đầm thấm hơn. Cả hai đều hiểu với nhau rằng dĩ vãng đã được chôn sâu khi hai người chấp nhận sống với nhau, tin tưởng nhau. Nghĩ đến, tìm đến một nơi chốn nào chỉ vì Kim biết nơi đó có những món ăn đặc biệt của Kim và cũng thích hợp cho cả gia đình.

Lòng Kim thật thanh thản trong những ngày tháng trở về Sài Gòn cùng gia đình. Thành phố không mang dấu tích nào của Sài Gòn trong những ngày sôi động đang ôm quả bom nổ chậm của cuộc chiến đang hồi kết thúc; để những người Việt đã một lần trốn chạy trong cơn kinh hoảng giặc Cộng đang lần lượt trở về thăm quê hương không còn có tâm trí mà nghĩ đến Sài Gòn xưa. Kim tránh và không thích xem những phim về chiến tranh Việt Nam do những hảng phim từ USA dựng lên, bóp méo hình ảnh chiến đấu của người lính Cộng Hòa, bóp méo cuộc chiến mà người Mỹ gọi là không đúng lúc không đúng thời.

Bây giờ, bà già này nói hoài, nhắc hoài về thời chiến tranh ở Việt nam, về những hình ảnh chiến tranh, hình ảnh nghèo khó được nhìn từ một người không thực sự tham gia trực tiếp và được chuyển dịch từ người đàn bà chỉ nhìn sự việc theo tầm suy tư của người đã được sinh ra và sống trong một xã hội an phận dư thừa.

Kim trằn trọc, những cơn ác mộng ngày nào thường hiện ra trong những năm đầu sống ở Na Uy và cả những năm đầu sống chung với Chris đã trở lại. Những giấc mộng trong khu rừng sương mù âm u kín mít nghẹt thở, trong cái khí lạnh phủ dầy đặc. Khi thì Kim lạc vào khu rừng chỉ toàn là rắn, rắn lúc nhúc lạnh người cố vùng vẫy. Khi thì ráng hết sức đẩy ai đó nằm vất vưởng qua người trong mùi máu tanh rờn rợn. Khi thì nằm co ro cô đơn trong bụi cây giữa một nơi hoàn toàn xa lạ, rừng rú mịt mù. Khi thì Kim bị đuổi, không rõ bị ai đuổi, nhưng Kim chạy, chạy trong vô vọng. Kim hoảng hốt, Kim kêu thét, Kim co rúm, Kim khóc tức tưởi làm Chris bị đánh thức, ôm Kim dỗ dành.

Và Chris quen với những mộng mị làm Kim vung tay la hét trong đêm, làm Kim rũ người nức nở trong tay Chris vỗ về. Những cơn ác mộng đó về thưa dần thưa dần theo năm tháng êm đềm hạnh phúc, hầu như mất hẳn trong giấc ngủ bình yên bên hơi ấm từ thân thể chồng. Đêm đêm Chris thường nắm tay Kim áp lên ngực mình cho vợ được ngủ yên hay chỉ cần nghe tiếng Kim ú ớ là Chris ôm vợ vào lòng, vỗ về, đưa Kim thoát khỏi cơn mộng mị và giờ thì gần như mất hẳn.

Hôm nay, Kim trằn trọc, không có Chris kế bên để tìm hơi ấm, để vòng tay ôm ngang ngực chồng, dùi mặt vào cổ chồng tìm sự bình an đã bị khoáy đục vì người đàn bà nhiều chuyện hồi đêm qua trong bệnh viện. Kim thức dậy sớm hơn thường lệ, mới mười hai giờ. Kim làm cho mình một ly cà phê sữa nóng, ngồi chống cầm nhìn ra con đường vắng hoe người trong buổi sáng tháng ba nắng đã lên cao và tuyết còn trắng xóa óng ánh ngoài sân.

***

Ông đưa thư ngừng chiếc xe hơi nhỏ màu đỏ, nhanh nhẹn đi lại dãy thùng thư của bốn căn nhà nằm cùng khu. Tiếng mở, đậy thùng thư lộc cộc vội vã rồi im bặt trong khu dân cư vắng vẻ nghe sao cô đơn buồn bã. Kim khoác hờ chiếc áo choàng, ra sân lấy thư.

Đã từ lâu, Kim ít đợi thư ai, bạn bè liên lạc với nhau qua e-mail, nếu có thư thì chỉ là giấy tờ công văn hay giấy báo lương, hoá đơn… Chỉ có má Kim là còn thư từ với con qua bưu điện, nhưng năm thì mười hoạ má mới viết thư cho chị em Kim, còn muốn nhắn nhe điều gì thì cô em út gởi e-mail cho chị. Ra lấy thư chỉ là việc làm mà Kim muốn đánh tan nỗi ưu tư còn vương lại sao giấc ngủ chập chờn.

Cầm phong bì thư đề tên mình rõ ràng, chữ in: Phan Thị Song Kim, lối viết tên này ít khi Kim nhận được từ hơn hai mươi năm nay. Ngay cả má cũng viết Kim Stephansen. Kim đã tự đơn giản tối đa tên mình, đơn giản như cách sống Kim tự tạo cho mình với Chris và các con, đơn giản để dễ hòa nhập vào, đơn giản như con cá liệt nhỏ bé không màu sắc tươi tắn khoe màu như những con cá khác, đơn giản để bơi lội không ai để ý đến.

Phong bì không để tên người gởi, Kim lật qua lật lại, dấu bưu điện từ Hamburg, nước Đức. Tim Kim đứng lại: “Có chuyện gì đây! Mình mới gọi điện thoại cho Therese hôm kia, trước khi có phiên trực ở bệnh viện. Con bé khoe sẽ tặng mình chai dầu thơm có mùi đặc biệt của riêng mình mà thầy cô Savan vô tình chọn, tặng cho con bé trong ngày sinh nhật của Therese. Thế là mình phải tìm một món quà khác bù lại đây, con bé cũng thích mùi này lắm nhưng má dùng trước rồi nên “nhường”. Chắc thư của trường. Cũng không đúng, trường có bao giờ thư từ trực tiếp với cha mẹ đâu, Therese quá tuổi trưởng thành rồi!”

Hồi hộp, Kim vội vã xé phong bì, dòng chữ mở đầu với nét viết quen thuộc đúng ba mươi năm trước làm Kim sững người, buột miệng kêu : “Anh Hải!” Kim ngồi xuống sofa, tay cứng lạnh. Mắt Kim lướt từ từ từng chữ như để lấy lại bình tỉnh, nghiền ngẫm sự thật.

Kim thương,

Anh phân vân rất nhiều khi chọn chữ mở đầu cho bức thư này. Sau hơn ba mươi năm kể từ đêm 7 tháng 3 năm 1975 anh giã từ em dưới dàn hoàng lan với nỗi lòng hoang mang nặng trĩu, thì em vẫn là con bé Kim yêu thương trong anh. Anh không thể gọi em là bà Stephansen, tiếng kêu khách sáo đó. Anh cũng không thể gọi em là “con Chó Nâu của anh” như ngày xưa bởi em không còn là của anh, mình không còn là của nhau. Nhưng mình không xa lạ với nhau cho nên anh tự cho phép mình gọi em như vậy.

Nước mắt Kim rơi lã chã tự lúc nào, nước mắt mặn chát chảy dài len lỏi vào ngấn môi. Không là nước mắt tủi đau, không là nước mắt sung sướng, đó là nước mắt của sự xúc động tận cùng không tưởng. Kim liếm khô môi, dơ cánh tay trái chùi má trái ướt đẫm, cánh tay phải chùi má phải đẫm nước mắt, Kim đọc tiếp.

Em không thể ngờ rằng ông thầy Chheng Savan người Campuchia mà con bé Therese chắc chắn đã kể cho em là anh, Trần Ngọc Hải. Từ hôm ở nhà hàng về, hôm tối sinh nhật của Therese, được Therese cho xem hình mẹ cháu, nhận ra được em từng hồi theo lời kể vô tình của cháu, lòng anh yên ổn lạ thường, ngay cả chính anh cũng ngờ cho sự yên ổn này lại là phản ứng khi biết sự thật về em sau hơn ba mươi năm anh mất bặt tin em. Nói đúng hơn là em mất bặt tin anh và anh quay lưng với những ngày tháng của chúng ta, cả với khoảng đời từ Phú Long, Phan Thiết, cả với những ngày nơi núi rừng ẩm sương mù Định Quán, cả những người bạn đồng đội cùng sống cùng chiến đấu.

Nhưng anh không thấy làm lạ lắm khi khám phá ra em là má của con bé Therese. Bởi từ mấy tháng nay, từ khi biết con bé mang giòng máu người Việt Nam, con bé đã trở thành niềm vui cho vợ chồng anh, đặc biệt cho riêng anh. Ở con bé, mơ hồ lắm, một hình ảnh thân thương nào đó trong ngôi nhà đường Trần Quốc Toản hiện lên những lúc nhâm nhi ly rượu đêm khuya vắng, những lần đi dạo sáng chủ nhật một mình trên những con đường hướng ra ngoại ô thành phố Hamburg. Đôi lúc hình ảnh hai con bé, chó nâu và chó trắng lẫn lộn trong tâm anh.

Chắc Therese đã kể cho em nghe nguyên nhân nào anh và con bé nhận ra với nhau là đồng hương? Anh cũng không hiểu cho chính anh tại sao anh lại gọi con bé là “con chó trắng” khi ngắm nhìn con bé vô tư trong cái áo len trắng mịn, nghiêng người cười khúc khích với bạn. Chắc là tại trang phục của con bé lúc nào cũng mang một màu trắng, không áo trắng thì quần trắng, không nơ trắng thì túi xách trắng. Như em ngày xưa, lúc nào cũng điểm chút màu nâu và buổi chiều đầu tiên anh gặp em, quần nhung nâu đậm, cái túi da chỗ đậm chỗ lợt vì mớ quần áo ướt, đôi giày sandal da nâu.

Hình như trong cái thương yêu anh dành cho con bé Therese mang một phần nào cái thương yêu anh dành cho em ngày xưa hay là tại con bé mang một phần nào “Con Chó Nâu” nghịch ngợm của anh ngày xưa, đôi mắt nâu dài, cánh mũi hinh hỉnh, miệng cười hết lòng, những ngón tay mảnh dẻ….

Mấy ngày nay anh thật vui, Kim ạ! Đôi lúc cái vui làm anh lịm người khi nghĩ về lại con đường Cộng Hòa ngập tràn hoa quỳnh đàn bị cơn gió cuối xuân thổi tung từng cánh hoa vàng rực rỡ. Và em ao ước là phải chi vườn nhà có cây quỳnh đàn, em sẽ gom hết những cánh hoa quỳnh đàn rơi theo cơn gió, em sẽ nằm dài trên đám hoa khô, gát đầu lên cánh tay trần rám nắng, theo dõi từng cụm mây trắng trong nền trời trong xanh mang đủ hình dáng đang từ từ chuyển sang hình thể khác… em chìm dần trong giấc ngủ trưa. Và anh, anh cũng đã bày đặt mộng mơ theo em là anh sẽ mở cổng thật nhẹ, nhón chân bước trên những cánh hoa khô vàng rực, quì xuống hôn lên vầng trán rộng thông minh, hôn lên đôi môi đầy đang hé cười trong giấc ngủ trưa chập chờn mộng đẹp. Đẹp quá Kim nhỉ!

Anh kể lại những ngày hoa mộng của chúng ta có làm mưa rơi trên má em? Riêng anh, anh khóc Kim ạ! Anh khóc cho niềm hạnh phúc ngày xưa em đã cho anh, ta đã cho nhau. Anh khóc vì tưởng chừng như hạnh phúc đó đang thực sự hiện diện nơi đây, với anh. Nước mắt hạnh phúc đó Kim! Bây giờ thì anh không muốn quên những ngày tháng thương yêu xưa, những ngày tháng làm ấm lòng anh khi anh nghĩ đến, những ngày tháng làm lòng anh bình an lạ thường khi anh hồi tưởng, những ngày tháng mà từ nhiều năm nay anh không dám nghĩ đến vì anh đã tự tay chôn vùi, tưởng để được dễ dàng cho một bắt đầu, tưởng để được thong thả cho một khúc ngoặc cuộc đời.

Anh đã đặt phòng ở khách sạn Hotel Bastion trên đường Skipperg, Oslo từ ngày mười tháng ba đến ngày mười bốn. Anh sẽ đi tàu Kiel, tàu cặp bến Oslo lúc chín giờ. Anh muốn đi tàu để có thời gian nghĩ về em trên đường thực sự tìm đến em. Anh không còn những nôn nóng ngày xưa, ngày xưa chỉ chờ được dịp là quá giang về gặp em. Anh không còn cái bồng bột liều lĩnh của tuổi trẻ. Nhưng anh vẫn còn nỗi náo nức muốn gặp lại em.

Qua những lời kể của con bé Therese anh sung sướng khi biết rằng con bé được sống trong một gia đình đầy tình thương, ba má yêu thương nhau. Anh hiểu được là em đang có một cuộc sống thật an vui với chồng với con. Em biết rằng anh có một lòng tin mãnh liệt là một khi em đã yêu ai, em yêu hết lòng, em đem cái tình chân thật của mình để xây dựng và bồi dưỡng tình yêu cho những người em yêu và yêu em. Cho nên lòng anh thật bình an khi được biết em là mẹ của Therese. Con bé mang cái phẩm hạnh của một gia đình ấm êm qua lòng tự tin, lòng yêu người, lòng vì người…

Ôi anh yêu con bé lắm. Em không thể nào hiểu được lòng thương yêu của anh dành cho con bé, ngay cả Therese cũng không hiểu được hết. Hãy cho anh được phép tiếp tục nuôi dưỡng cái lòng thương yêu này của anh với con bé mặc dù anh không biết phản ứng của em như thế nào khi biết anh là ông thầy Savan của con gái em.

Anh muốn chúng ta sẽ gặp nhau và sẽ cùng quyết định cho hướng liên lạc sau này của chúng ta. Anh sẽ túc trực ở khách sạn Bastion trong ba ngày để chờ em. Em tự thu xếp đến gặp anh tại khách sạn, giờ giấc tự em quyết định, chỉ cần báo cho phòng tiếp khách biết trước khi em đến.

Kim! Hãy để cho chúng ta có cơ hội gặp nhau, nếu em muốn nghe anh kể về những năm tháng em mất anh, cho lòng em được thanh thản, cho lòng anh được nhẹ nhàng, cho tương lai của nhiều người thân yêu chung quanh chúng ta.

Anh chờ em.

TB. Hương chanh thơm ngát là định mệnh của đời anh, anh sẽ kể em nghe.

Luôn nghĩ đến em với tâm hồn thật thanh thoát nhẹ nhàng như hương chanh buổi sớm mai giữa núi rừng se sẻ lạnh.

Anh

Trần Ngọc Hải

Đầu xuân, nắng lên cũng đã lâu nhưng vẫn không phá nổi cái âm u mờ mờ. Kim ngồi đó, trên ghế bành hướng nhìn ra khu rừng bên hông nhà. Chunng quanh yên tĩnh, lòng Kim rối bân. Hải mất đi một cách bàng hoàng, không một tín hiệu báo trước và bây giờ Hải hiện về đột ngột cũng không một tín hiệu báo trước. Hải ở bên Kim từ hơn năm nay qua đứa con gái đầu lòng mà Kim không một mảy may nghĩ đến. Những lần con bé gọi điện thoại về nhà kể về ông thầy người Campuchia, về cô Hilde, vợ chồng Kim đều vui và an tâm, nghĩ rằng con mình may mắn, đi học xa nhà mà đưọc một gia đình đàng hoàng thương yêu bảo bọc.

Phải chăng là định mệnh? Cuộn len rối râm dài đăng đẳng, gỡ hoài không ra, thôi thì bỏ vào ngăn tủ kéo, lâu ngày quên mất. Cuộn len nằm đó, không ai rớ tới, không ai buồn gỡ rối, nay tình cờ dọn dẹp, nhặt cuộn len từ hóc tủ, màu vẫn tươi vẫn đẹp, cọng len vẫn mịn màng. Chủ nhân lần mò tìm ra hai đầu cuộn len. Có nên bắt đầu quấn một đầu dây len thành một cuộn nhỏ rồi tiếp tục gỡ, tiếp tục quấn cho thành quả banh tròn chặt? Hay cứ kéo hai đầu len dài được bao nhiêu càng tốt, nối với nhau, rồi cắt bỏ khúc len rối ren đi?

Kim ngồi đó thật lâu, nước mắt khô trên gương mặt không buồn lau, cánh mũi sưng bóng đỏ, bàn tay Kim cầm chặt bức thư, đầu nặng đầy những hình ảnh không thành hình.

Kim mệt mỏi, vào gường nằm, đọc lại bức thư lần nữa, chậm rãi hơn, bình thản hơn, không còn giọt nước mắt nào để làm ướt gối. Bỏ lá thư trong học tủ đầu giường, nằm xấp người, vùi mặt vào cái gối bông êm mịn, Kim thiếp dần.

Hình ảnh người đàn ông với đôi chân nhỏ nằm bất động trên cái ghế gụ nâu đỏ dưới tàn cây khế trong ngôi vườn đâu đó hiện về. Ánh mắt ngờ ngạc mất hồn, giọng khàn khàn… Ngôi vườn đầy ấp hoa quỳnh đàn khô trên nền xi măng lạnh, người con gái nằm mơ màng, tóc lưng lửng trải dài đen mượt lẫn với màu vàng rực…

Môi ai ấm mềm hôn lên vầng trán rộng, tiếng ai vang lên xa xa đâu đó: “…. đi ra cho má ngủ!” Bóng tối, dàn kim ngân, nưóc mắt, hương chanh thoang thoảng, môi hôn lên tóc mượt…

– Em dậy ăn chút gì đi! Ngủ nhiều quá, tối không ngủ được.

Mi mắt cay cứng, đau nhức, úp mặt trong gối, giọng Kim mệt mỏi:

– Em không đói, cho em ngủ thêm chút nữa.

– Không được, anh thấy em không ăn uống gì cả, ly cà phê còn bỏ dở đó. Dậy! Dannis chạy ra tiệm mua gà nướng, bánh mì nóng gần về rồi, bữa nay ăn gà nướng vậy.

Ánh đèn làm nhức mắt, Kim choáng váng, không nhấc đầu nổi. Không dám để Chris nhìn mặt mình, Kim nài nỉ:

– Em nhức đầu lắm, anh cho tụi nhỏ ăn trước đi, tắt đèn dùm em.

Giọng Chris lo lắng:

– Em bịnh? Ráng ăn chút rồi ngủ tiếp.

Không có tiếng trả lời. Biết tính cứng đầu của vợ, có bịnh cũng không bao giờ thưa. Chris lòn tay xoa gáy vợ, hơi nóng hâm hấp, không đến nỗi nào, chắc hồi tối bệnh nhân đòi hỏi nhiều quá, kiệt sức rồi đây. Chris thở dài, tắt đèn khép cửa. Bữa ăn chỉ có ba cha con. Hai thằng con trai vắng má hai ngày rồi, hồi sáng má về thì tụi nó chưa thức dậy, đi học về thì má còn ngủ, buồn hiu, không cãi nhau như thường lệ.

Chris nhớ vợ, nhớ giọng vợ âu yếm hỏi thăm hai thằng con trai sinh đôi, chuyện bạn bè, chuyện trường lớp, mỗi bữa cơm. Chris phục vợ, chuyện gì của con Kim cũng nhớ, nhớ tên từng đứa bạn của con, nhớ đứa nào giận đứa nào hôm trước, nhớ từng để tài nghiên cứu con đã làm, con đang làm; nên bữa ăn nào ba mẹ con cũng chuyện trò không ngớt chuyện. Chuyện trên trời dưới đất, Chris ngóng chuyện của ba mẹ con, thêm mắm thêm muối, nhiều khi thêm không đúng chỗ bị ba mẹ con chọc quê.

Kim rất quan trọng bữa ăn chiều của gia đình. Bằng mọi cách, nếu Kim không phải có ca trực, Kim đều ráng có bữa cơm chiều tươm tất đầy đủ mọi người trong gia đình. Nhất là bữa điểm tâm sáng thứ bảy, chủ nhật. Bao giờ Kim cũng dậy sớm hơn tất cả, chuẩn bị bữa điểm tâm thật chu đáo cho gia đình. Có khi Kim phải vừa chiên trứng cho Chris, luộc trứng hai trứng vừa chín cho hai thằng nhóc, hai cái trứng chín cứng cho Kim và Therese. Và dĩa sứ trắng có những củ cà rốt tí hon tròn trĩnh, những trái cà cherry đỏ mọng, những lát dưa leo xanh mướt không bao giờ thiếu trên bàn ăn sáng, làm cho bữa điểm tâm có khi kéo dài cả hai tiếng đồng. Chris cũng đồng ý với Kim là với cách sinh hoạt thời buổi này, thời gian gia đình ngồi chung với nhau trong một ngày rất ít. Phải ráng tạo thói quen ăn chung với nhau một bữa trong một ngày. Mọi sinh hoạt của con, tập đàn, bóng chuyền, hướng đạo… Kim đều thu xếp để cả nhà hoặc ăn cơm chiều trước hoặc ăn sau những sinh hoạt đó, nhưng phải ăn chung.

Chris nhớ vợ, Dennis và Joakim nhớ má, ba cha con lặng lẽ ăn.

***

Sáng ngày mười, Kim đang có phiên trực, nhìn đồng hồ, chín giờ, tàu Prissese Ranhild từ Kiel đang cặp cảng Oslo. Lòng Kim bồn chồn, cái thơ thẩn từ mấy ngày nay, đến hôm nay, bỗng nhiên đổi nhịp khi cây kim ngắn chỉ số 9. Theo bác sĩ thăm bệnh nhân mỗi buổi sáng như thường, Kim không sao tập trung tư tưởng để ghi chép những lời dặn của bác sĩ, số lượng thuốc, khi nào cho bệnh nhân dùng thuốc… Kim hỏi tới hỏi lui mấy lần. Kim không chịu nổi sự phân tâm này, Kim nói với bác sĩ Hauge:

– Tôi phải đi nghỉ, tôi kiệt sức rồi.

Người bác sĩ già nhướng cặp mắt, kéo cặp kiếng lão trệ xuống, ngạc nhiên nhìn cô y tá duyên dáng vui tánh không bao giờ than mệt. Mặt Kim tái nhợt, Kim tìm cái ghế gần đó để ngồi, tay cầm quyển sổ rơi hờ trên đùi, mắt Kim đỏ, nhìn vội xuống nền nhà khi chạm ánh mắt của ông Hauge. Ông hiểu ngay, Kim đang kiệt sức, ông nắm tay Kim, bàn tay lạnh ngắt, mồ hôi âm ẩm. Ông gỡ tay Kim, lấy quyển sổ và cây viết bỏ vào túi áo mình. Ông dìu Kim về phòng trực, đỡ Kim nằm xuống sofa, kê gối cho Kim.

Nước mắt Kim đầm đìa, không một tiếng than. Kim nhắm mắt, gác tay che mặt, mặc cho giòng nước mắt chảy dài xuống mặt gối dùng để dựa lưng, ráng giữ nhịp thở. Kim dơ tay làm dấu bảo vị bác sĩ đi ra khỏi phòng. Ông Hauge đâu dễ gì bỏ Kim nằm đó. Sarah, người y tá ngồi trực bàn chạy lại, đưa mắt nhìn ông Hauge dò hỏi. Ông lắc đầu, rờ trán Kim, bắt mạch, nghe Kim thở. Ông lại lắc đầu. Cô y tá lấy giấy lau nhét vô tay Kim, hỏi giọng lo lắng:

– Kim, sao vậy, mệt lắm hả? Nằm nghỉ đi, mình kêu Thea lại thế cho Kim, đừng lo! Mình ở đây, Kim có cần gì không?

Không có tiếng trả lời, Kim trở người, nằm áp mặt vô lưng ghế, co chân, co tay như chữ V, gác lên đầu như muốn che mặt mình. Thấy không có gì nguy hiểm cho Kim, ông Hauge tiếp tục đi khám hai phòng còn lại trong khu vực. Kim thiếp đi, mười phút. Kim ngồi dậy, Sarah chạy lại ngồi bên, hỏi:

– Sao, thấy người thế nào? Hay về nhà nằm nghỉ đi, mình với Thea dư sức gánh. Mà không được, ông Hauge bảo mình kêu ông xã Kim đến đón Kim về, không cho Kim lái xe một mình.

Giọng Kim yếu ớt:

– Không sao đâu, mình nghỉ chút nữa rồi xem sao, không về bây giờ được đâu, chắc tại không ăn gì từ chiều hôm qua.

– Bộ ông bà giận nhau hả? Sao lại không ăn uống gì cả vậy? Thôi để mình xuống canteen tìm cái gì nóng cho Kim nha. Súp nóng được không? Bây giờ uống ly trà cho tỉnh người cái đã rồi tính sau.

Hai bàn tay ôm ly trà nóng, ngồi xếp bằng trên ghế, đầu dựa vô cái gối Sarah đã gác trên lưng sofa, mắt nhìn đồng hồ treo trên tường, Kim thở dài. Chắc giờ này Hải đã rời khỏi tàu, đón taxi về khách sạn. Biết làm sao đây. Kim thấy mình cứ lẩn quẩn trong trăm ngàn ý tưởng từ khi nhận được thư Hải: Có nên gặp lại Hải không? Biết nói gì với Chris đây. Phản ứng Chris như thế nào? Mình sẽ ra sao? Liệu có chịu đựng nổi không? Bây giờ Hải ra sao? Có nên dấu Chris không? Nói sao với Therese. Tình thương Hải dành cho Therese… Nước mắt lại chảy dài trên má. Hớp một ngụm trà nóng với hy vọng làm dịu bớt cái nặng lòng. Rút khăn giấy lau mặt, nhắm mắt lại, mong tưởng như có thể ngăn được giòng nước mắt cứ trào ra vô chừng.

Nhắm chừng Sara sắp trở lại, Kim vào toilette, ngồi đó, kéo hai lọn giấy, chậm lên mắt, giữ cho nước mắt thôi rơi xuống mặt, giữ cho nước mắt khô lấp kín tuyến nước mắt, ráng giữ cho lòng thật yên. Không biết bao lâu, Kim quyết định… Ngày mai sau phiên trực đêm nay, Chris đi làm, về nhà mình không ngủ bù, đến gặp Hải, cứ để chuyện gì đến sẽ đến, rồi nương theo đó mà liệu, không thể dự đoán được phản ứng của mình, của Chris, của Therese… Phải gặp Hải, như Hải nói trong thư, cho nhẹ nhàng tâm hồn, tìm một lối thoát cho chính mình và cho mọi người chung quanh mình. Đáng lý ra mình phải vui như Hải khi biết được rằng Hải còn sống, đang sống yên vui với gia đình của Hải. Cứng rắn Kim ơi!

Kim tự nhủ với mình. Kim đi ra, ăn tô súp cà màu đỏ tươi với khúc bánh mì nóng Sarah mang từ canteen. Lòng Kim nhẹ dần. Quyết định đã nhấc tảng đá đè nặng trong lòng Kim từ hai ngày nay.

***

Đẩy cánh cửa kính khách sạn, Kim nhìn nhanh về phía bộ salong rộng lớn trong phòng tiếp tân. Hải đứng đó, bên cạnh cửa sổ, gương mặt sáng lên, đi lại phía Kim. Kim dừng. Hải nói một câu đùa, lối đùa của hai người bạn quen nhau thân lắm, lâu ngày mới gặp lại:

– Cô bé có được mấy cọng tóc bạc rồi?

Kim bật cười, tính nghịch ngợm trở lại:

– Kiếm cho kỹ chắc cũng được chục cọng. Ủa cái hai răng khểnh, không, răng nanh đâu rồi?

Hải dơ hai tay ra, ôm lấy Kim, lối ôm của hai người bạn thân lâu ngày gặp nhau, má chạm vào nhau, lối chào của người tây phương. Dường như cả hai đã chuẩn bị cho mình cách chào nhau. Rời nhau ra, ánh mắt nghịch ngợm ngắm nhau, đo lường nhau, tìm những nét thay đổi của nhau, rồi cả hai bật cười, cùng nói:

– Anh…

– Em….

– Em nói trước.

– Anh mập ra, coi đẹp lão ghê, kính cận hay kính lão đây?

– Ha… ha… cả hai! Cánh mũi cũng còn hỉnh. Em uống gì? Anh kêu.

– Anh cho Kim ly trà nóng.

– Không, kem dâu, hai cây bánh kẹp và một trái dâu lớn?

Mắt Kim chợt cay, quay nhìn ra cửa sổ, hít thật mạnh. Hải biết mình hớ lời, đã phá vỡ bầu không khí vui tự nhiên lúc đầu. Anh tự mắng mình, giọng anh nhỏ lại:

– Anh xin lỗi Kim, mình lên phòng anh cho dễ nói chuyện?

– Dạ.

Kim ngồi gọn lỏn trong cái ghế bành lớn, tay nhặt viên kẹo the trong cái dĩa xứ trắng, gỡ giấy, bỏ vào miệng ngậm. Hải ngồi trong cái ghế bành đối diện, dựa hẳn vào lưng ghế, hai bàn tay đan vào nhau, hai ngón tay cái chống dựa nhau, âu yếm nhìn Kim, giọng nghiêm trọng:

– Anh cám ơn em đã đến đây. Anh thiếu nợ em một lời giải thích về sự biệt tâm của anh sau ngày Định Quán mất và anh ao ước đưọc nghe em kể về em trong những năm em còn ở Việt Nam nếu điều đó không làm em phiền muộn. Anh đã quyết định là anh sẽ cố gắng tháo gỡ những ẩn uất trong anh, có thể trong em.

Chheng Savan gật đầu:

– Bởi đến ngày hôm nay anh mới nhìn ra rằng hãy trải lòng mình ra trang giấy, dùng nó mà tìm cho mình một hướng sống như thế nào để đêm đêm không còn những giấc mộng làm ướt lưng anh, đánh thức người nằm bên vì những tiếng kêu ráng đè nén, tiếng la ú ớ hoảng hốt. Anh đang phá vỡ bức tường anh đã tự xây từ hơn ba mươi năm nay, anh đang tìm đường đi vào khu rừng mờ mịt sương mù, tìm ánh sáng từ bên kia cánh rừng, ánh sáng của Sài Gòn, của Long Khánh, Biên Hòa, Rừng Lá, Định Quán… của Phú Long, Phan Thiết….

Hải kể như đã chuẩn bị từng chi tiết. Kim im lặng, viên kẹo đã hết mùi ngọt, ly trà nguội lạnh. Khi Hải kể đến buổi sáng sớm trong buôn thượng, mùi hoa chanh ở một góc vườn đã đánh thức Hải trở lại, đã cứu Hải trở về với dĩ vãng, trở về với con người Hải, Kim bật khóc tức tưởi. Hải quì xuống bên ghế Kim, ôm đầu Kim, áp mặt Kim vào mặt mình để những giọt nước mắt Kim hòa lẫn với nước mắt mình, mặn chát. Không còn sức chịu đựng đã dồn ép từ mấy ngày nay, Kim lã người trong tay Hải, nức nở.

Hải dìu Kim lại giường, đặt Kim nằm lên giường, mở đôi giầy, kéo mền đắp cho Kim. Hải quì bên cạnh giường, bàn tay xoa lau khô những giọt nước mắt trên mặt Kim. Nhìn gương mặt Kim mất sức, Hải hiểu sự cố gắng kềm giữ thái độ bình thản từ mấy ngày trong một tâm trạng rối ren vì bức thư của mình, giọng Hải ngọt ngào:

– Ngủ đi Kim, ngủ đi em.

Sau một ngày và một đêm trực ở bịnh viện, sau mấy ngày dồn nén nước mắt lúc nào cũng chực rơi để Chris không hỏi tới hỏi lui, tâm tư dằn vặt, hoang mang mất ngủ, Kim cảm thấy người không còn biết cử động nữa. Nỗi xúc động mạnh vì lời Hải vừa kể như giòng nước tức bờ, vỡ tung, tràn lai láng. Sức nước yếu dần khi phá được bờ, tìm được lối tràn, len nhẹ trong lòng đất bình an. Kim thiếp dần.

Môi ai hôn cẩn thận lên vầng trán rộng, tay ai xoa nhè nhẹ mu bàn tay đã nổi một vài gân xanh, da đã có những nét nhăn của năm tháng. Bàn tay khô cứng bóp những ngón tay dài mảnh mai. Giấc ngủ thật sâu.

Hải kéo cái ghế gần giường, nắm bàn tay Kim đang thả dài trên mặt ra trắng muốt, áp lên má mình. Hải hát ru, lời hát pha nước mắt Hải, pha đêm nào Kim ngồi sau lưng Hải trên chiếc xe PC, gác cằm lên vai Hải. Giọng Hải nho nhỏ:

Bao nhiêu, bao nhiêu thiên Trường Ca

Không qua, không qua câu Mẹ hò

Ngày nào Mẹ dạy câu ca

Đôi ta ru nhau trong gió

Ngày này đọc lại câu thơ

Mưa rơi, mưa rơi trên má….

Tóc mai sợi vắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm…

Sunflower and Vienamese tow Chord Guitar – Tranh Hồ Thành Đức

Chương kết

Tháng ba, năm hai ngàn lẻ tám

Sáng cuối tuần trong ngôi nhà bên bìa rừng, mọi tiếng động, mọi diễn tiến chung quanh đều đặn nhịp nhàng trong âm hưởng trong sáng như những nốt dương cầm uyển chuyển Morning Mood của Edvard Greig. Như thường lệ, sau khi ăn sáng, hai vợ chồng Kim và Chris thường ngồi đọc báo ở góc phòng khách có hai tường là lớp kính dầy, nhìn ra khu rừng thông bên kia đường và vườn nhà hàng xóm.

Thỉnh thoảng Chris hoặc Kim ngước mặt khỏi tờ báo, không sợ làm phiền người đang đọc, kể cho nhau điều lý thú mình vừa đọc được, phê bình một bài viết… Cái hạnh phúc nhỏ nhoi quen thuộc của vợ chồng hơn hai mươi năm, cái hạnh phúc như một thói quen này chỉ bị xáo động trong những ngày đi chơi xa.

Ông phát thư đến, tiếng mở thùng thư lộp cộp, tiếng đậy nắp. Chris ra lấy thư, reo to khi vừa trở lại:

– Thư của ông bà Savan.

– Anh đọc cho em nghe.

– Thư viết bằng tiếng Anh đó, ráng mà hiểu nghen, có gì không hiểu thì biểu anh ngừng lại, anh giải thích cho.

– Anh đọc chậm chậm, chắc không đến nổi nào đâu, em ráng.

Kính gởi ông bà Stephansen

Ông bà phải hãnh diện về cô con gái đầu lòng của ông bà, Therese. Trong buổi ra mắt của đảng Việt Nam Dân Chủ ở Franfurt như tôi đã kể trong thư trước, Therese đã chứng tỏ cho tất cả mọi người từ thanh thiếu niên đến những vị lão thành thấy một người nữ Việt Nam thông minh, tháo vát, hoạt bát trong nhiệm vụ tiếp tân. Càng tuyệt diệu hơn khi Therese đọc bài nói chuyện với thanh thiếu niên hải ngoại do chính em soạn (Tôi chỉ giúp sửa lại một số từ ngữ cho thật xúc tích thôi!). Một thiếu nữ trẻ tuổi, sinh ra và lớn lên ở Na Uy, mang nửa dòng máu Việt Nam thế mà em có đủ can đảm đứng trước đám đông dưới ánh mắt nhiều vị lão thành kiến thức đầy đầu, trước những thanh niên cùng trang lứa, nói lên nguyện vọng muốn tranh đấu vì một nền dân chú cho đất nước mẹ mình, cho dân tộc mình. Bằng tiếng Việt!

Là một trong những người cố vấn cho chi nhánh đảng Việt Nam Dân Chủ tại Đức, trong buổi họp tổng kết, tôi rất hãnh diện khi nghe các anh em trong ban lãnh đạo khen ngợi Therese: Thông minh, đức hạnh, nhiệt tâm, kiến thức rộng, giỏi cả bốn ngôn ngữ… một biểu hình xứng đáng để sẵn sàng thay thế cha chú, thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, nắm tay giới trẻ Việt Nam hải ngoại trên con đường tranh đấu cho một Việt Nam mới, tự do, dân chủ, độc lập. Tôi xin chuyển niềm hãnh diện này đến ông bà và rất cám ơn ông bà đã cho phép tôi được chia sẻ.

Chúng tôi thành thực cám ơn ông bà đã có nhã ý mời vợ chồng chúng tôi viếng thăm Na Uy trong mùa lễ Thăng Thiên này. Xin ông bà thông cảm, Hilde đã ký hợp đồng công tác cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế thêm một năm nữa. Hilde cảm thấy một năm làm việc tại Việt Nam không đủ để xây dựng cơ sở cứu trợ độc lập, không lệ thuộc nhiều vào chính quyền hầu tránh những “phí phạm” vô ích.

Và cũng xin báo tin vui cho ông bà là Hilde viết thư cho tôi bằng tiếng Việt. Với vốn tiếng Việt do Therese và tôi chỉ dạy, sau bảy tháng làm việc ở Việt Nam, với nhiệt tâm, với óc thông minh, Hilde đã viết tiếng Việt rất thành thạo. Hilde còn dùng nhiều từ ngữ mới hoàn toàn xa lạ cho tôi, chắc cũng xa lạ cho chính bà, cho những người sống xa Việt Nam đã lâu.

Công việc của tôi bây giờ là hướng dẫn Hilde dùng các từ ngữ cũ thay vì dùng các từ ngữ mới nghe rất chướng tai đó. Hilde than là tôi độc đoán. Ông bà có nghĩ thế không? Theo tôi, tiếng Việt Hilde dùng sẽ là tiếng Việt của tôi, vì Hilde là vợ tôi.

Hilde có đến thăm gia đình tôi ở Phú Long. Ba má tôi đã mất từ lâu. Tôi không thể và tôi cũng không muốn về thăm lại Việt Nam như ông bà khuyên. Chắc chắn chính quyền Việt Nam có danh sách cấp lãnh đạo đảng Việt Nam Dân Chủ. Và tôi cảm thấy không nên về mặc dù lòng thương nhớ quê hương thôi thúc mạnh mỗi lần nhận được thư của Hilde. Đúng ra, tôi không muốn Hilde về lập cơ sở cứu trợ ở Việt Nam, nhưng trái tim Hilde và khối óc tôi không tìm được một hòa giải và Hilde thắng.

Xin được gởi lời thăm thân ái đến hai chú sinh đôi, David và Joakim. Nhắn với hai cháu rằng: Nếu hai cháu muốn theo chân chị Hai du học ở Hamburg thì nhà tôi rộng lắm, có phòng riêng cho cả hai. Chừng đó ba bác cháu thay nhau dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm vì Hilde đi công tác xa nhà hoài thôi. Và với ông bà, tôi hứa sẽ là người bác khó tính.

Đừng kể cho hai nhóc nghe lời hứa này! Rất mong được bàn tiếp với ông bà về chuyện du học của hai nhóc sinh đôi nếu các cháu được phép của ba má, và nếu các cháu muốn.

Kính chúc ông bà và hai cháu những ngày nghỉ lễ Mùa Đông thật vui nhộn nơi núi tuyết.

Kính chào

Chheng Savan

Nhìn vợ, Chris giả bộ đánh một tiếng thở dài thật mạnh, nói:

– Điệu này em phải tái lập khóa tiếng Việt cho anh, nếu không là anh bị lẻ loi khi hai gia đình gặp nhau.

– Sẵn sàng, nhưng lần này là không được tìm cớ trốn học nữa nghe chưa.

– Khi học trò trốn học là thầy giáo phải tự đặt câu hỏi tại sao.

– Gì nữa đây? Tính đổi tên Thừa họ Đổ hở bạn già của em?

– Tâm lý giáo dục mà em. Mà này… có lý nha.

– Lý gì? Lý đổi tên hở?

– Không… cái chuyện ông Savan hứa “dung chứa” hai thằng sinh đôi nhà mình nếu tụi nó muốn qua Hamburg học… he… he… anh hoan hô hai tay… he… he… chắc chắn tụi nó… he… he… tốt nghiệp hạng tối ưu mà khỏi cần ngày đêm đèn sách và mình khỏi cần kèm kẹp.

– Ma lanh!

– Mà này!

– Gì nữa?

– Rồi… rồi… thế nào tụi nó cũng theo đường của ông Trần Ngọc Hải và chị Hai nó là mình hết lối về Việt Nam luôn.

– Thì đã sao? Chẳng lẽ mình để thú hưởng thụ cao hơn chính nghĩa sao?

– Nhưng anh yêu Sài Gòn quá mà.

– Ôi, tội nghiệp người bạn già của em!

Tài liệu tham khảo:

Bài biên khảo:

– Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc –

Hồ Đinh – 2005

– Người Ở Lại Định Quán Tháng Ba Năm 1975 –

Bảo Định Nguyễn Hữu Chế – 2005

Sách:

– Tuấn, Chàng Trai Nước Việt – Nguyễn Vỹ – 1971

– Cambodge Année Zéro – Francois Ponchaud – 1977

– First They Killed My Father – Loung Ung – 2000

– Cruel Avril, 1975: La Chute De Saigon – Olivier Todd – 1987

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s