Võ Thị Điềm Đạm – Hương Chanh (chương 17, 18, 19)

Love – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười bảy

Tháng năm, một chín bảy mươi sáu

Nghe tiếng cành cây chạm nhau, bóng đen quay lại, nhìn. Một bóng người ngồi chồm hổm, tay đưa ra phía trước như muốn cho cái gì đó, tay ngoắc ra dấu cho bóng đen lại gần. Từ khi bị những người lính của quân đội Khmer-Đỏ dồn đuổi ra khỏi thành phố Stung Treng sau ngày mười bảy tháng tư năm bảy mươi lăm đến nay, gần một năm, cũng như đa số người dân thành thị Campuchia, cái đói chiếm đầy tư tưởng, không một phút rời xa, không một phán xét khôn ngoan có chỗ hiện hình, I-En theo linh tính mon men lại gần. Bóng đen để hai trái chuối rừng khô queo đen thẫm bằng ngón tay út xuống đất. I-En cầm hai trái chuối, đưa lên mũi hửi hửi, không ăn, nhém vội vô túi áo bà ba đen.

Nhìn người đàn ông dưới ánh trăng mười tám còn chút sáng trong, cũng hốc hác lỏng khỏng như mình. Nhìn quanh, I-En vụt chạy. Nỗi thất vọng không làm mờ nhanh được một tia sống đang khơi dậy trong Hải. Hải trườn người bò trở lại cái hang tự mình trang bị trong một bụi rậm từ bốn ngày nay, từ ngày thấy bóng đen thất thểu lang thang tìm kiếm bất cứ một cái gì có thể ăn được, nhét vô túi áo. Hình dáng của loài người chôn bước chân người lữ khách cô đơn trong núi rừng nghiệt ngã dừng lại. Chiều xuống, Hải để đâu đó một con tắc kè bị vặn cổ, một con chuột bị đá đập đầu, một con rắn chế, chờ! Cứ thế, bốn ngày nay, quen hơi, tối nào bóng đen, dáng dấp phụ nữ, cũng lần mò về phía này để kiếm những miếng ăn đây đó giữa bụi cây khô mà chị rằng mình may mắn hơn mọi mọi người, được Phật Trời phù hộ..

Sau hơn năm tháng sống chui rúc cô đơn với núi rừng thăm thẳm, ngày đêm bao bọc bởi những bụi gai hiểm độc, tiếng thú rừng gầm gừ, sương lạnh hốc đá đất ẩm. Ước muốn được tiếp xúc với loài người thôi thúc hành hạ tâm hồn người đàn ông trong tháng ngày cùng cực cô đơn. Ước mong được nghe tiếng người khiến lòng Hải rộn ràng chờ mỗi chiều nắng khuất. Hôm nay, Hải nhìn được rõ gương mặt chợt tươi, ánh mắt chợt sáng của một con nguời bằng da bằng thịt dưới ánh trăng mờ mờ. Một tia sống! Một hy vọng!

Tối hôm sau, trễ hơn thường lệ, I-En không đi một mình, một bóng đen cao hơn, một người đàn ông đi theo. Hải ngồi im chờ đợi. Hai bóng đen thì thầm chỉ chỏ, tìm kiếm, lẩn quẩn nơi Hải núp. Không một con thú chết nằm chờ sẵn. Không hiểu tiếng hai người to nhỏ với nhau, Hải không dám thử như hôm qua, không dám nhìn, sợ ánh mắt mình khơi phần giác quan bén nhạy của con người sẽ quay lại. Hai bóng đen ngồi xuống, ngồi chồm hổm, hai tay lòng khòng buông thỏng, hình như cũng muốn chờ.

Suy nghĩ. Quyết định. Hải dùng hai cùi chỏ trườn người ra, tay đưa hai trái chuối khô đen cong queo. Như chớp, hai bóng đen bò tới, chụp hai trái chuối khô, nhét vô túi áo bà ba đen, nhìn bóng người lom com ngồi dậy, ra dấu chào thân thiện. Hai bóng đen lết gần Hải, giọng thì thào như hỏi chuyện. Hải lắc đầu, tỏ ý không hiểu. Ánh trăng chiếu yếu ớt trên hai cái đầu cử động, trên hai đôi mắt, đôi môi mấp máy. Hình ảnh thực sự của loài người, sát gần.

I-En nói nhỏ với chồng, nói tiếng Việt:

– Chắc ông này như chú Út.

Như cơn mưa chợt đổ xuống đầu người khách bộ hành lang thang trong xa mạc nhiều ngày. Hải lập cập hỏi:

– Anh chị là người Việt Nam?

Sự ngạc nhiên trong hoảng hốt sợ hãi làm hai bóng đen vụt đứng dậy, chớm chạy.

Hải kêu nhỏ:

– Đừng sợ, đừng sợ. Tôi còn chuối đây.

Hai bóng đen ngồi thụp xuống, giựt mau hai trái chuối khô đen Hải vừa chìa ra. Nhìn nhau. Mỗi người bỏ trái chuối vô miệng, cả vỏ, nhai ngấu nghiến, nuốt ực, liếm môi, ánh mắt thòm thèm, hỏi:

– Ông là Yuon?

Không trả lời, Hải hỏi:

– Anh chị là người Việt Nam?

Gật đầu, người đàn ông nhìn quanh hỏi nhỏ:

– Ông cũng là Yuon?

– Không, tôi là người Việt Nam.

– Tiếng Campuchia, Yuon là người Việt Nam. Sao ông ở đây? Ông không sợ Angka Loeu bắt sao?

– Đây là đâu, Angka Loeu là ai?

– Làng O Ta Tam. Ông không biết Angka Loeu? Ông còn chuối khô không? Ông tìm được chuối ở đâu vậy?

Hải lôi trong túi vải là tấm xà rong được bó bên hông mình hai trái chuối khô đen, đưa ra. Ngốm cả trái chuối vô miệng, nhai, nuốt, chép. Nhìn túi vải, lòng nghi ngờ đã được học hỏi từ khi theo đoàn người di tản từ trại tập trung này sang trại tập trung kia bỗng khơi dậy, người đàn ông hỏi, giọng không mấy thân thiện:

– Ông ở làng nào? Ông trốn ra đây hả? Có phải ông đã để con chuột, con tắc kè, con rắn chết cho vợ tui mấy ngày trước không? Để nhử vợ tui hả? Ông muốn gì đây?

Không trả lời, Hải hỏi tiếp:

– Anh chị người làng O Ta…

– O Ta Tam. Không phải. Ông ở đâu lại? Ông không làm cho Angka Loeu?

– Không. Tôi không biết Angka Loeu là ai cả. Tôi ở xa lắm, trong rừng chắc cũng hơn năm tháng rồi. Tôi trốn từ Việt Nam. Sao gia đình anh chị phải ra đây ở? Rừng thiêng nước độc.

– Như vậy là ông không biết gì hết. Bây giờ khuya lắm rồi, tụi tui phải về làng, không thôi Angka Loeu nghi ngờ. Con tui đang đói, chờ ở chòi.

Hải lục tìm, chìa ra một nắm chừng năm sáu trái, nói:

– Anh chị lấy hết mấy trái chuối khô này đem về cho cháu đi.

Nhét mau mấy trái chuối vô hai túi áo bà ba đen, ánh mắt người đàn ông dịu lại. Cái thiện trong mỗi con người chừng lộ sáng, ngưòi đàn ông nhìn Hải, tần ngần:

– Ông cho hết rồi lấy gì ông ăn?

– Tôi biết cách tìm thức ăn, quen rồi. Tối mai anh chị ra đây nữa không. Tôi ráng tìm con chuột con rắn để dành cho anh chị.

– Ra. Ông phải thiệt là cẩn thận. Coi chừng lính. Ông tốt lắm. Cẩn thận ghê lắm nghen ông. Ông tốt lắm.

Hai bóng đen chạy mau, đôi chân như nhanh nhẹn hẳn ra vì mấy trái chuối khô đen nặng chiu trĩu trong túi áo.

Ngày hôm sau, sớm hơn dự đoán, nghe tiếng chân đi nhanh về hướng mình, nhanh như một con thú rừng nhỏ, con mồi của biết bao con thú khác đang dơ móng nhọn rình rập mọi phía, Hải chui ngay vô bụi cây, ngồi chờ động tĩnh, vừa lo, vừa sợ, vừa mừng.

Samdech chập choạng tìm kiếm, gọi nhỏ:

– Ông ơi!

Hải bò ra. Samdech nói liền:

– Chú tôi bị độc, chắc chết mất, ông có gì cứu được không?

Hải mở cái túi vải là tấm xà rong được kết bằng dây mây mỏng dài như cái ruột tượng lớn, đeo bên hông theo ngày tháng, lần mò tìm kiếm, hỏi:

– Ông chú ăn gì mà bị độc?

Samdech nóng nảy, nói:

– Không biết. Ở đây, đói quá, mạnh ai nấy trốn ra rừng, tìm được cái gì ăn cái đó. Hay là ông theo tui về chòi của gia đình tui. Ba tui biểu tui ra nói vầy với ông. Ba tui muốn hỏi chuyện ông.

– Có nguy hiểm lắm không? Cho gia đình anh? Cho tôi?

– Cũng nguy hiểm lắm. Nhưng ở đây, không ai quen ai, không ai để ý đến ai. Cả ngày đi làm cho Angka Loeu, từ tờ mờ sáng đến tối mịt mới về. Đói quá, khổ quá, không ai ngó đến ai, đầu óc chỉ nghĩ đến miếng ăn, nước uống.

Hải theo sát bước chân Samdech, khi nhủi chui vô bụi rậm vì một bóng người loáng thoáng phía xa, khi nằm sụp sát mặt đất vì tiếng người thì thầm văng vẳng… Qua được những ngôi nhà chòi leo lét bóng đèn nằm im lìm trong đêm đen đầy hăm dọa, hai người chui vô cái chòi tranh. Trong ánh trăng mờ mờ tối hắt từ khung cửa sổ, Hải phải tập trung lắm mới nhận ra bóng hai người đàn bà, một đứa bé, một người đàn ông. Tất cả nửa ngồi nửa nằm phủ quanh xác người đàn ông gương mặt hốc hác chỉ còn hai gò má cao, hai má hõm thủng, đầu quẹo qua một bên, nước dãi trắng đọng khô bên mép.

Tiếng khóc cố nén, tất cả ngồi thẳng dậy, ngước nhìn Samdech, nhìn túi áo bà ba, nhìn Hải, nhìn cái túi Hải đeo bên hông, lắc đầu. Không nói không rằng, Hải dở cái ruột tượng luôn luôn đeo bên mình xuống, mở ra. Xác chết bị quên mau. Bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về phía cái ruột tượng. Người đàn ông chừng như là người cha trong gia đình, mặt cúi xuống vì thái độ của mọi người, hơi ngập ngừng, ngước nhìn Hải, hỏi:

– Ông là Yuon? Sao ông lại ở đây?

Không trả lời ngay. Hải bày tất cả thứ trong ruột tượng, đẩy ra phía trước, nói:

– Xin mời.

Người đàn ông dơ tay ngăn. Những bàn tay xương xẩu miễn cưỡng buông thõng, nhìn người gia trưởng, nóng nẩy chờ đợi. Ông Lao, người đàn ông, khó đoán được tuổi tác vì râu cằm lởm chởm, hai má lõm sâu làm hàm răng không còn mấy cái nhô ra. Tay chân như những khúc xương nối với nhau lỏng lẻo bằng những sợi dây gân xanh trong lớp da nhăn nheo. Hai tay, hai chân được gắn trên một thân hình cũng chỉ là da bọc xương, nhưng cái bụng thì lại ương tròn. Thật ra thì gương mặt ông, thân người ông cũng như tất cả mọi người khác trong gia đình.

Giọng khàn khàn, ông nhìn Hải, hỏi một lần nữa:

– Ông là người Việt? Sao ông ở đây?

– Tôi là người Việt. Tôi trốn khỏi Việt Nam từ tháng mười. Tại sao gia đình ông phải di chuyển ra tận nơi rừng thiêng nước độc này?

– Chuyện này dài lắm. Tại sao ông phải trốn khỏi Việt Nam?

Hai người đàn ông hỏi dằn chừng nhau, dò hỏi, trốn tránh trả lời. Hải hiểu tình thế của mình, nói:

– Gia đình cứ dùng những gì tôi có trong bị. Tôi sẽ tìm sau. Tôi quen rồi.

– Cám ơn ông.

Người đàn ông lục trong túi vải, thịt khô, khoai khô, gói nhỏ, gói to… Ông lấy chia cho mỗi người trong gia đình một lát khoai môn rừng, một miếng thịt khô, còn bao nhiêu ông gói lại, nói:

– Phải để dành cho những ngày khác, để dành cho thằng Chan nữa, nó cần hơn người lớn.

Buổi tiệc diễn ra trong bóng tối, ráng giữ tiếng nhai, tiếng nói chuyện mang âm hưởng vui rộn. Hải, ông Lao, Samdech ngồi gần nhau hơn thì thầm nói chuyện.

– Tình hình Việt Nam ra sao?

– Theo tôi biết thì Việt Cộng đã chiếm toàn miền Nam hồi tháng năm tháng sáu năm ngoái thì phải. Còn Campuchia?

– Như vậy là Campuchia trước Việt Nam, từ mười bảy tháng tư năm bảy mươi lăm. Quân đội Khmer-Đỏ, cũng Cộng Sản hết. Tất cả dân chúng đều được lệnh di tản ra khỏi thành phố. Đi càng xa thành phố càng tốt. Đến chỗ này thì bị lệnh đi chỗ khác, mấy tháng trời lang thang từ làng này qua làng khác, làm thủ tục nhập trại, rồi đi nơi khác, làm thủ tục nhập trại… Bây giờ mới ở yên được một tháng nay, nhưng tất cả phải làm việc từ sáng sớm đến chiều tối.

– Làm chuyện gì vậy chú.

– Làm ruộng. Lúa gặt đầy đồng, chất đầy xe, chở đi, qua Tàu, bán để đổi mua súng đạn. Lệnh của Angka Loeu. Dân đói, cái đói hành hạ không bao giờ ngưng, không mua bán gì được hết. Mỗi ngày được hai bữa cơm, mỗi bữa một chén cơm, chút rau. Đói lắm, biết bao người chết, nhất là con nít. Mạnh người nào người nấy vô rừng kiếm cái gì ăn được thì ăn, thét rồi rừng cũng không còn gì. Mà Angka Loeu lại không cho phép kiếm thêm miếng ăn, phải trốn, phải dấu, khổ lắm chú ơi. Không biết ở Việt Nam có khổ như vầy không. Cộng Sản đâu cũng thế. Hết chết vì súng đạn thì lại chết vì miếng ăn cái đói. Không biết khổ đến chừng nào đây. Chú Út chắc ăn nhầm nấm độc. Thằng Chan, cháu nội tui lớn không nổi, đói quá rồi cũng không muốn chơi đùa. Thảm lắm chú em. Tất cả lúa gạo, đậu bắp phải dành cho Angka Loeu.

– Angka Loeu là ai?

– Tui không biết là ai hết. Quân đội Angka Loeu, Khmer-Đỏ. Angka Loeu mượn tiền của Tàu để mua súng đạn. Nhưng Angka Loeu rất ghét người Tàu ở Campuchia. Angka Loeu rất ghét người Yuon. Angka Loeu muốn giết hết tất cả người ngoại quốc. Angka Loeu muốn Campuchia sẽ trở lại thời bá chủ hồi xưa, thời Campuchia là một cường quốc bao gồm một phần Thái Lan, Laos, miền Nam Việt Nam. Angka Loeu nói rằng chỉ khi nào người Campuchia tự trị thì mới đạt được ước muốn bá chủ như hồi xưa. Bởi vậy tụi tui phải trốn xa, không dám di tản ra thành phố cùng với hàng xóm, sợ hàng xóm cũ chỉ điểm mình là Yuon thì chết cả nhà. Tụi tui thoát khỏi trận tàn sát người Yuon hồi năm bảy mươi là nhờ gia đình tui có cơ sở làm ăn lớn ở Stung Treng, gia đình tui giàu có nên tụi tui biết trước, đút lót, thoát cả nhà, nhưng không chạy trốn về Việt Nam như đa số. Cho nên con cháu chỉ nói tiếng Việt trong gia đình. Những năm sau này, thời Lon Nol thì dễ thở cho những người Yuon, người Tàu. Tụi tui không biết ngày nào Angka Loeu khám phá ra tông tích gia đình.

Chợt nhớ ra xác chết nằm không xa. Nhìn xác chết, nhìn Hải, người trưởng gia lật bật nói như sợ ý tưởng chợt sáng của mình bị dập tắt vì quá bạo dạn ngoài trí suy nghĩ của ông:

– Tui thấy chú em là người tốt. Chú em không thể sống mình ên trong rừng như vầy được, thế nào tụi lính cũng khám phá ra. Tui rất ngạc nhiên là chú lẩn trốn được mấy tháng nay. Như vậy là chú em giỏi lắm. Rất giỏi! Nhưng vùng này lính Khmer-Đỏ ở khắp mọi nơi, kiểm soát kỹ lắm, tui sợ chú em không may mắn như trước giờ đâu. Thằng em tui, chú Út nó chết rồi thì cũng yên thân cho nó, chớ sống như thế này thì cũng như chết. Không ai biết nó chết. Tui đề nghị như thế này. Chú em thay cho chú Út, chú Út câm từ nhỏ. Mình đào lỗ chôn chú Út phía sau nhà, đừng cho lính biết, đừng cho ai biết.

– Như vậy nguy hiểm cho gia đình chú.

– Nguy hiểm thì luôn luôn nguy hiểm. Có thêm người đàn ông trong nhà, lo thêm được miếng ăn. Nhưng tui không biết ngày nào tụi lính bắt dẫn đi đây. Tui, thằng con tui, chỉ biết chờ đến phiên mình. Chú Út câm điếc chắc tụi nó không màng tới, hy vọng không mang đi giết. Nhiều người lắm, bác sĩ, thày giáo, công chức… nói chung tất cả những ai có chút học vấn, đã làm việc cho Lon Nol, phải trốn dấu tông tích. Tụi nó chỉ cần nghi ngờ là bắt đi, biệt luôn không ai biết, chắc giết.

– Tôi không tính ở lại Campuchia. Tôi tìm đường qua Thái Lan.

– Làm sao chú em đi được trong sự kiểm soát rất gắt gao của quân đội Khmer-Đỏ. Tùy chú em.

– Chú cho tôi suy nghĩ. Bây giờ tôi giúp chú chôn anh này rồi tôi rút ra rừng.

– Ngày mai tui phải khai chú Út bị bịnh đặng xin cho chú Út ở nhà một ngày, chờ chú em quyết định. Không biết tụi lính có lại khám không, phải chờ ngày mai rồi chôn.

– Tôi đồng ý. Nhưng tôi tính thế anh này, tôi sẽ dò la đường đi nước bước, tìm cách trốn qua Thái Lan sau đó. Chú thấy có được không?

Người đàn bà, người mẹ gia đình, ngồi im từ khi Hải bước vô nhà, nhưng ánh mắt bà quan sát từng cử chỉ, từng lời nói của người khách lạ. Một niềm tin tưởng. Bà lần mò lại gần ba người đàn ông, nói:

– Không biết bao giờ Angka Loeu lại bắt ông với thằng Samdech, không biết sống chết ngày nào. Thân tui với con I-En, đàn bà tụi nó không màng tới. Ông với thằng Samdech hiệp với chú em ráng tìm đường mà thoát qua Thái Lan trước đi. Chú em quen nước quen cái trong rừng, chú em biết đường trốn lánh, chú em chỉ dẫn cho mà trốn.

I-En nhìn chồng, nhìn cha chồng, suy nghĩ, nói thêm vô.

– Con thấy má tính như vậy rất đúng.

Những người đàn ông nhìn nhau.

Hải gật đầu:

– Như vậy cũng được. Cũng may là anh… anh tên gì?

– Tên Chheng. Nhưng coi bộ chú em to lớn hơn.

– Không sao đâu, không ai để ý đến ai. Ai cũng còn xương với da, trùm cái khăn trên đầu, đừng đi tới đi lui nhiều là yên.

– Nhưng tôi phải học tiếng Campuchia để tìm hiểu, nghe ngóng tình hình, dò la tin tức. Nhiều người tin là tôi câm điếc, đó cũng là cái lợi vì họ không sợ tôi nghe lóm.

– Tụi tui sẽ chỉ cho chú em tiếng Campuchia.

***

Dưới ánh sáng còn tờ mờ buổi sáng, đoàn người lặng lẽ nối đuôi nhau đi, không cần nhìn, bước chân kéo uể oải đi theo người trước. Những bước chân lếch thếch vì phần ăn sáng chỉ là một chén cơm gạo ẩm và một miếng cá khô mặn chát, chỉ toàn xương, nút hoài cũng còn mặn và cái mặn chỉ làm khơi dậy cơn đói sau một đêm ngủ quên. Quần áo bạc phếch, không một màu sắc được nhận ra, hầu như chỉ là màu đen, ngoại trừ tấm khăn sọc đỏ sọc trắng đội trên đầu, ai cũng có, tấm khăn che nắng, lau mồ hôi. Tốc độ của đoàn người di chuyển nhanh chậm tùy theo tiếng hô hối thúc, tùy theo cây roi quất xuống.

Tạo dáng đi ngang ngang chân vịt như nông dân, vai xuôi xuống, đầu cúi nhìn phía trước, cố thu mình thật nhỏ để không gây sự chú ý, Chheng ôn lại những câu nói, những từ ngữ dần dần quen thuộc. Câm lặng là một phương pháp hay nhất để tập trung tư tưởng. Sự câm lặng theo ý muốn không như sự câm lặng vì bất lực. Bao nhiêu bực tức, tủi thân… dồn nén trong tâm tư người câm điếc vì không hiểu và không diễn tả được đã làm biết bao người thất học, sinh ra ngờ nghệch. Nhưng với Chheng thì hiệu quả của sự câm lặng trong suốt hơn mười hai tiếng đồng hồ làm việc mỗi ngày là một đặc ân.

Tiếng Campuchia đối với người Việt hình như rất dễ, không như những ngoại ngữ Tây phương. Độc âm, câu cú văn phạm không khác tiếng Việt mấy, chỉ ba tháng là Chheng có thể ngóng chuyện, lắng nghe những lời bàn tán sơ ý của những người đàn ông làm việc ngoài đồng hay khi tải lúa, bắp, khoai, đậu… lên xe hàng. Cũng có nhiều người cùng tư tưởng tìm đường trốn qua Thái Lan, thật hiểm nguy, thật táo bạo vì không ai nghe biết được những gì đã xảy ra cho những người đã trốn trại. Chỉ chứng kiến những lần hành quyết những kẻ bị nghi ngờ âm mưu trốn, những người vô phước bị bắt… để cảnh cáo những ai có ý tưởng vượt biên.

Tuyến đường, kế hoạch trốn đã dần dần thành hình trong đầu, Chheng quyết định tìm đường trốn cho cả gia đình đang âm thầm bảo bọc mình. Vì, theo nhận xét được nghe ngóng thì đại danh từ trừu tượng Angka Loeu dần dần được thay thế là một người bằng da bằng thịt với tên Pol Pot, tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, được thần thánh hóa hơn. Quyết tâm diệt tận gốc người Yuon và người Tàu đang sinh sống tại Campuchia được Pol Pot hun nóng mạnh hơn, hung hãn hơn. Chheng bàn với gia đình là phải trốn mau chừng nào tốt chừng đó, Angka Loeu không tha một người Yuon nào, dù đó là đàn bà con nít.

Sống trong tình người được gói ghém thu nhỏ, dấu diếm, Chheng dần dần tìm lại được sự quân bình của con người đã phải trải qua những đêm lạnh cóng đơn độc giữa rừng cây thăm thẳm. Chứng kiến ánh mắt thù hận của người cộng sản Khmer-Đỏ, lời chửi rủa hằn học, cách cư xử vô nhân… đối với chính người đồng hương, lòng Chheng trở nên tối đen mỗi lần chợt nghĩ đến gia đình, đến Kim. Đêm trằn trọc ngủ không thẳng giấc vì cơn đói hành hạ, vì những lo âu cho sáng mai, cho những dự tính vượt trốn mà phần thành công hoàn toàn dựa vào sự may mắn, dựa vào ánh mắt nhìn xuống của Đất Trời. Tim Chheng thắt đau khi tưởng tượng những gì Kim phải chịu đựng khi Sài Gòn chìm trong biển đỏ hận thù. Em mất hết Kim ơi! Tuổi trẻ, tình yêu, tình người… làm sao em sống được hở Kim. Tâm hồn mềm yếu của em làm sao chống chỏi với con người Cộng Sản, em tôi!

***

Tối nay, Chheng tìm được con rắn khá lớn, ủ tro nướng trong ánh mắt chờ đợi, nước miếng nuốt không che dấu của mọi người trong gia đình. Chặt chia cho mỗi người không thiết nói lời cám ơn, Chheng rút về phía góc nhà, ngồi co ro, xé từng miếng thịt trắng phêu, tận hưởng tài săn tìm thức ăn của mình. Tiếng chân thình thình về phía căn chòi. Không chờ, ai nấy ngốn mau miếng thịt còn lại, tìm chỗ nằm, giả bộ ngủ.

Cánh cửa căn chòi chỉ khép hờ, ba người lính trong bộ bà ba đen, cổ choàng cái khăn sọc dọc sọc ngang đỏ trắng, chân mang đôi giầy Hồ Chí Minh được làm bằng vỏ xe hơi cũ, vai đeo cây súng AK, đá cửa, bước vô, nói:

– Angka Loeu ra lệnh mọi người đi họp bất thường.

Ông Lao và Samdech lom khom đứng dậy trong ánh mắt lo sợ của hai người vợ, lo sợ một tai ương khủng khiếp có thể xảy ra khi bị kêu đi họp bất ngờ như thế này. Quen với cách thức đối xử của lính, không ai hỏi, không ai phản đối, một cử chỉ chống đối chỉ được trả lời bằng cú đá, một báng súng trên lưng. Giọng nói hình như ôn hòa hơn thường ngày:

– Tất cả.

Người lính chỉ Chheng đang ngồi cúi đầu tảng lờ như không hiểu không nghe gì cả, chỉ hai người đàn bà, chỉ cậu bé mới được sáu tuổi mà trông như ba tuổi vì thiếu ăn, nói:

– Angka Loeu kêu tất cả, đi hết.

Ông Lao đi lại Chheng, kéo đứng dậy, ra dấu đi theo mình. Những người đàn ông cắn răng, hai người đàn bà bật khóc âm ức làm đứa bé xụt xịt khóc theo. Tiếng quát to:

– Đi họp mà khóc cái gì.

Bấu víu nhau, theo sau ba người lính, ra khỏi làng tập trung độ mười phút, Chheng thấy lố nhố trong bóng đêm, hơn trăm người đứng chụm nhau từng nhóm nhỏ, chung quanh hơn hai mươi người lính đứng dàn bao, chĩa họng súng AK-47 về phía đám đông như thầm bảo: “Chỉ cần một phản ứng chống đối là nổ đạn không chút chần chờ.” Dồn tất cả lên một chiếc xe nhà binh thùng lớn chỉ đủ chỗ đứng ép sát nhau. Xe chạy nhanh trong bóng đêm, thùng xe lắc lư như số phận của hơn trăm người đang bị treo dưới cành cây đa bằng sợi chỉ mong manh trong trận gió lớn.

Xe chạy được độ một tiếng đồng hồ, đám người lại bị đuổi xuống, đi một khoảng khá xa, không ai biết đâu là đâu. Cơn mưa hôm qua làm mặt đất lồi lõm nhơn nhớt bùn, làm những thân hình lỏng khỏng, hai tay phải bắt chéo sau ót trong nỗi lo càng lúc càng thành hình, đi không vững. Hai bên là lính đi kèm theo những người mà Angka Loeu đóng dấu là kẻ phản bội, những kẻ sẽ là mối nguy cho quân đội Angka Loeu, cho dân tộc Campuchia. Nguồn gốc, lịch sử của từng cá nhân, của từng gia đình được dấu diếm từ lâu, nay đã bị phát hiện, đã thành sự thật.

Một cuộc trả thù tàn khốc chỉ được nghe nói, chỉ được đoán khi lính đến chòi hàng xóm đưa vài người ra đi trong đêm tối, không bao giờ trở lại, đã thành sự thật. Tất cả bị dồn lại trước một cái hố không sâu lắm, lởm chởm những mảng đất chưa bở hẳn sau cơn mưa. Mây đen kéo hờ hững, che ánh trăng mờ mờ như không muốn chị Hằng chú Cuội nhìn thấy những gì sẽ diễn ra dưới trần ai, trong đêm đầu tháng chín.

Tất cả quỳ hàng dài bao quanh hố, số mạng đã an bài, cắn răng chờ đợi giờ hành quyết không bản án, không cầu van, không than khóc. Trong đầu óc mỗi người trong giờ thứ hai mươi lăm này chỉ là gắng gượng hình dung lại những hình ảnh người thân thương. Tiếng lên súng phía sau lưng, hơn hai mươi AK-47, răm rắp.

Chheng cảm thấy khoảng đất dưới hai đầu gối bỗng ướt đẫm, nóng hổi, nước tiểu của người kế bên chảy dài trong cơn khủng hoảng. Quay nhìn, một thân hình nhỏ ốm gục xuống, sức chịu đựng của đứa trẻ quá nhỏ bé trước một tai ương quá to lớn chưa hề được đọc trong sách báo, chưa hề được nghe kể, bị gẫy gập.

Bỗng nhiên ai đó bắt đầu kêu tên người thân. Thế là bao tiếng khóc dồn nén bật ra, tiếng cầu xin tuôn không ngưng. Người đứng dậy, người ngồi xụp xuống, người ôm lấy nhau, quang cảnh hỗn độn ngoài dự đoán. Không phải sự hỗn độn chống đối. Đó là sự hỗn độn vì những níu kéo nhau, muốn rờ nhau, muốn nhìn lần cuối trước giờ thứ hai mươi lăm. Tiếng lính hét to, tiếng hơn hai mươi cây súng nổ chát chúa, nổ không ngừng, từng bóng đen ngã lăn.

Cuộc hành quyết khốc liệt, liên tận. Im bặt. Tiếng súng trở lại, lẻ tẻ theo từng cử động được phát hiện, theo từng tiếng than đau văng vẳng. Những đôi giày quai chéo làm bằng vỏ xe hơi được mang tên giày-Hồ-Chí-Minh hung hãn đạp những xác người đẫm máu nóng, máu còn tiếp tục ứa ra, đạp tất cả xuống hố. Ngọn súng AK-47 tiếp tục bắn chỗ này, bắn chỗ kia cho đến khi sự lặng thinh của bóng đêm lắng xuống, thật lâu.

Cái nắng gay gắt làm mùi máu còn tươi từ tối hôm qua bốc lên nồng tanh. Chheng cố cựa người, xoay đầu tìm hướng thở, cố đẩy thân hình ai đó nằm vắt ngang lưng mình, rút chân khỏi bàn tay ai đó bám chặt, nhoài người tìm ánh sáng.

Chung quanh không một tiếng động, Chheng nằm yên, chờ, cho đến khi có tiếng ai đó kêu yếu ớt:

– Có ai còn sống không?

Yên lặng, dò la. Tiếng kêu tiếp tục:

– Có ai còn sống không?

Chần chừ, Chheng nói nhỏ:

– Tui. Còn ai nữa không?

Giọng yếu ớt bên cạnh Chheng:

– Con.

– Yên chưa?

– Chắc yên rồi. Tui nằm chờ lâu lắm. Đi hết rồi. Chết hết rồi. Có ai bị thương không?

– Không.

– Không.

Ba người nhổm đầu tìm nhau, nhìn quanh, gật đầu ra dấu chạy trốn vô rừng tre rậm tối không xa lắm.

Sau khi tin rằng sự an toàn đã được ơn Trời ân sủng, một ân sủng không ai đoán được rằng đã đến với mình. Trong hóc đá, dưới ánh sáng buổi trưa tháng chín, ba người mới có thì giờ nhìn nhau. Ai cũng như ai, áo quần bê bết máu khô, tiều tụy, đờ đẫn. Chheng lên tiếng:

– Tui tên Chheng. Anh với em nhỏ định trốn đi đâu?

Người đàn ông cũng chừng bằng tuổi Chheng, nói:

– Tui tên Phal. Thiệt tình tui không biết sẽ trốn đi đâu.

– Cháu tên gì?

Màu da trên gương mặt cậu bé đen quánh nhưng không làm sáng nổi đôi mắt trong tuổi thơ. Dáng ngồi thu nhỏ, nhìn hai người đàn ông xa lạ, cậu bé bật khóc nưng nức. Khóc cho sự may mắn ngoài trí tưởng tượng, khóc cho sự may mắn đơn độc của mình, khóc vì nghe một lời hỏi thân mật làm khơi dậy tình thương nơi con người. Chheng lại gần, vỗ vỗ vai cậu bé, nói:

– Cháu đừng lo, hai chú sẽ bảo bọc cháu, lo cho cháu. Gia đình cháu mất mấy người?

– Dạ ba má, chế Hou, chế Khiêu, em Yun.

Tiếng khóc của cậu bé nấc mạnh hơn khi nhắc đến tên những người trong gia đình, những người cậu bé hiểu là từ đây không bao giờ còn thấy mặt. Để yên cho cậu bé khóc, hai người đàn ông nhìn mông lung trong tâm trạng rối bời âu lo, thương sót người thân, quên đi cái đói. Thoát được sự hành quyết này, không biết sẽ gặp sự hành quyết khác đang chờ đợi hay không. Quân đội Khmer-Đỏ khắp nơi, Trời Đất đâu thể nào bao che thêm lần nữa. Hơi ngần ngại, Chheng hỏi:

– Anh trốn qua Thái Lan không?

– Tôi cũng đã tính đường đi nước bước với gia đình tôi và gia đình phía vợ tôi. Nhưng gia đình càng đông, thì cơ hội càng hiếm.

– Tôi cũng trốn. Anh biết ở đây?

– Tối hôm qua xe chạy xa quá, tôi sợ tôi mất hướng. Nhưng tôi biết là mình đang ở phía nam tỉnh Phet Vi Ha, không xa tỉnh Xiêm Riệp mấy. Anh rành miền này?

– Không. Tôi, Phnom Penh.

– Anh là người Yuon?

– Ừ.

– Nhìn mặt anh, nghe anh nói là tôi biết liền. Angka Loeu thù người Yuon lắm. Anh thoát được đến ngày hôm nay là anh là Phật Trời thương anh. Tôi và vợ tôi đều làm việc cho chính phủ Lon Nol, gia đình vợ tôi cũng vậy, nên chúng tôi biết chắc tụi nó không tha, nhưng không tìm được đường trốn sớm. Gia đình anh ra sao?

– Không biết. Tôi bị bắt ở Stưng Treng. Anh ở đâu? Anh biết đường hướng qua Thái Lan?

– Tôi người Phet Vi ha. Theo tính toán của tôi, nếu mình theo hướng Bắc, lệch chút qua hướng Tây thì không xa biên giới Thái Lan mấy.

– Như vậy anh hướng dẫn, mình nương tựa nhau mà tìm đường sống, đường trốn.

***

Tự trong rừng sâu, có biết bao cạm bẫy ngăn cản bước chân ba người trong một may mắn không ai lường trước sau cuộc tàn sát, bước chân của ba kẻ trốn tránh sống chui sống nhủi, bước chân của ba kẻ gồm hai người đàn ông và một cậu bé chừng mười hai tuổi đang tìm đường thoát khỏi bàn tay Pol Pot đẫm máu.

Rừng phía tây Campuchia khác hẳn rừng phía đông. Rừng không chút tình hiếu khách, rừng không có dòng suối trong mát, rừng không cho hoa quả tươi ngon, rừng hiếm hoi thú vật… Rừng phía tây Campuchia chỉ là những cây đa cằn cỗi rễ chằng chịt, những bụi tre già cành chĩa nhọn như sẵn sàng đâm thủng những ai vô tình, chỉ là những bụi cây rậm rạp đầy gai nhọn… Những lá cây xanh đầy chất độc, những hốc đá khô khan, những khu vực đồng hoang nắng cháy… như muốn xua đuổi những ai lỡ chọn rừng làm nơi trú ẩn. Có những thú vật có thể bắt được, ăn được thì cũng có đầy dãy những thú vật làm kẻ trốn tránh không một vũ khí tự vệ thêm run sợ. Từ bò rừng, cọp, trâu rừng… cho đến cá sấu lặng lờ dưới mặt nước chờ mồi, những con đỉa mập ú to bằng ngón tay út bám hai đầu hút lượng máu hiếm hoi trên thân người, vô số rắn độc chỉ chờ một sơ hở là tấn công… Quả thật rừng ở đây là nơi muôn vàn hiểm nguy cho những kẻ phải trú ẩn chui nhủi lâu dài.

Từ ngày mười bảy tháng tư, Angka Loeu đóng cửa biên giới với Thái Lan. Đường biên giới dài bảy trăm kilomet, nối từ khu chùa Preah Vihear hoang tàn cổ xưa hơn ngàn năm ở phía bắc cho tới làng chài Klong Yai phía Nam. Tất cả làng xóm cũng như dân làng phải di chuyển xa biên giới năm kilomet, tạo thành vùng hoang địa được canh gát nghiêm ngặt. Không những chỉ là hoang địa mà cả khu vực dọc biên giới trở thành tử địa, được trang bị bằng những cạm bẫy giết người tàn khốc, nếu chưa từng trải qua thì không một ai có thể nào tưởng tượng được. Nếu không là những bãi mìn dầy đặc được nối nhau bằng những sợi dây dấu dưới đất, thì là những bãi chông nhọn nằm yên dưới lớp cỏ trông thật bình an, thì là những trận ruồng bắn ráo riết của quân đội Khmer-Đỏ được trang bị bằng AK-47, lựu đạn, bom, rakett, không tiếc tay.

Trong gần hai tuần, ba người theo hướng tây bắc, băng rừng mà đi. Họ tránh tất cả những đường mòn lối dẫm. Cho đến khi họ gặp những xác chết nằm úp lên nhau, rữa nát, những bộ xương nằm rải rác, năm xác chết chỗ này, hai xác chết chỗ kia, ba xác chết bên bờ suối… thì họ hiểu rằng đường đến biên giới Thái Lan không xa lắm, nhưng cũng là đoạn đường chông gai nhất, nguy hiểm nhất. Những quả mìn làm tay được chôn khắp nơi, những bãi chông được ngụy trang khéo léo, đối với kinh nghiệm sáu năm của một người lính như Hải, dễ phát hiện. Họ quyết định không đi vào ban đêm, ngày đi không nghỉ, cẩn thận từng bước chân.

Một buổi chiều, trời vừa sụp tối, đang tìm chỗ ẩn qua đêm, bỗng Chheng nghe ssssssssshhhhhhh, Chheng chụp nhanh đầu cậu bé, đẩy mạnh xuống đất, một trái mìn nổ tung từ mặt đất. Chờ nghe động tĩnh, Chheng rờ rẫm khắp người cậu bé, yên tâm, gọi nhỏ:

– Anh Phal, anh có sao không?

– Không, còn anh và thằng Sem có sao không?

– Không. Mình lọt vô bãi mìn rồi, nằm yên, chờ sáng, nằm yên, đừng nhúc nhích nghe không.

Sáng hôm sau, dò dẫm đi được chục mét, một cảnh rợn người hiện ra trước mắt họ dưới ánh nắng mặt trời gay gắt. Rải rác cả một khu rừng rộng, xác chết nằm trong mọi tư thế đau đớn, xác đàn ông, xác đàn bà, xác trẻ em. Đó là những xác chết chưa phình thối. Những xác chết đã mở đường bình an cho ba người vì những quả mìn chôn dưới đất đã nổ tung ngày hôm trước. Quân đội Khmer-Đỏ chưa kịp dọn sạch thành quả, chưa kịp sắp xếp một bãi mìn mới.

Cố nhanh bước để vượt khỏi bãi mìn, bỗng cậu bé Sem nắm tay Chheng, kéo lại, chỉ phía trước. Một tấm gỗ dài hơn ba mét, lấp lánh.

Ba người mon men lại gần. Trên bảng gỗ là những lưỡi dao cạo râu bén nhọn chĩa thẳng, hàng trăm lưỡi dao. Cạm bẫy cuối cùng sẽ chấm dứt cuộc đời cho những ai tháo chạy bán mạng khi tưởng rằng mình đã thoát ra khỏi bãi mìn. Những lưỡi dao được bẻ gẫy làm hai, một đầu cắm sâu trên bảng gỗ, đầu kia nhọn bén thẳng đứng, sẵn sàng cắt đứt những đôi dép mủ người Campuchia thường dùng, cả những đôi dép Hồ Chí Minh của lính Khmer-Đỏ.

Đầu cắm cúi dò tìm tránh những cạm bẫy trên khu hoang địa dường như xanh mướt hơn. Mọi chi tiết trên cánh đồng cỏ xanh đều được ghi nhận bởi sáu khối óc, mười hai đôi mắt, hai mươi bốn đôi tai. Một sợi dây, một chụm cỏ xanh, tai lắng nghe mọi tiếng động, mắt láo liên tìm bất cứ một cái gì có thể ăn được, chân nhanh bước tranh thủ trong những giờ trời còn sáng.

Tiếng cò súng kéo răng rắc, rừng ban ngày bỗng dưng đen tối trước mắt. Ba người dừng lại, hai tay tự động bắt chéo sau gáy, nhìn xuống, nhìn những đôi chân đang tiến tới gần, những đôi chân mang giày da đen cao ống đã bạc màu bụi rừng

Love, Sky and Clound – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười tám

Tháng ba, một chín bảy mươi tám

Trại tập trung tị nạn nằm trên một khoảng đất rộng cách làng Pha Na hai giờ xe đò, được thành lập từ cuối năm 1975 khi làn sóng tị nạn trốn bàn tay khát máu của Khmer Đỏ, Pol Pot bắt đầu đông, gây chú ý cho các cơ quan từ thiện nước ngoài. Khi trốn được đến Thái Lan, đa số người tị nạn Campuchia tự tìm đường sinh sống rải rác trên đất Thái. Số còn lại, thuờng là nhân viên chính phủ thời Sihanouk hay thời Lon Nol, những gia đình có thân nhân ở nước ngoài, nấn ná ở lại trại tập trung, chờ xin tịn nạn ở đất nước thứ ba. Vì làn sóng tị nạn Campuchia chưa là một bận tâm cho các nước phương tây, vì làn sóng tị nạn Việt Nam đã chiếm hầu hết chú tâm trên các tin tức truyền hình chính thường ngày, những người tị nạn ở trại này cũng như vài trại khác dọc biên giới Thái Lan-Campuchia phải chờ đợi ròng rã đôi ba năm để được Cao Ủy Quốc Tế đưa nhân viên đến cứu xét.

Buổi trưa thư thả, Hilde lang thang ra khỏi khu bịnh viện dã chiến, tìm nơi nghỉ ngơi cố định. Từ xa, Hilde đã thấy một người đàn ông ngồi ngay gốc cây của mình. Cây đa ba người ôm không hết, nhánh cây rơi thòng lòng ủ rủ, bóng mát tỏa rộng. Mấy rễ cây cằn cỗi vươn dài như những cánh tay bạch tuộc khổng lồ bám chặt lâu năm vào mặt đất, tạo thành vài khoảng đất trống giữa những gốc rễ trồi lên cao. Ông ngồi ngay chỗ Hilde thường ngồi, gọn lỏn ở một khoảng đất giữa hai cánh tay bạch tuộc, vừa dựa lưng vừa gác tay lên. Tiên tiếc, Hilde nghĩ thầm: “Ông này cũng khôn đây, biết lựa thế ngồi, đã chiếm cái ghế hạng nhất của mình. Ừm, ngồi đọc sách coi bộ thoải mái dữ ha trong vị thế duỗi thẳng hai chân bắt chéo vào nhau, lưng dựa thân cây, mải mê, tay cầm quyển sách, tay gác lên cái rễ gìà cong cong, làm như thế gian này chỉ có mình ông”

Buổi trưa oi ức êm ả, Hilde đi nhè nhẹ vòng đến phía bên kia gốc cây, sợ làm mất giây phút đắm chìm của người đàn ông. Hilde chưa kịp đến gốc cây, nghe tiếng động, Chheng ngước nhìn Hilde, cười, gật đầu chào.

Tránh ngượng, Hilde vội nói đùa:

– Ông dành chỗ của tôi.

– Ô? Cô đặt vé hồi nào. Tôi có vé từ hơn nửa năm nay. Tôi là khách hàng lâu năm của gốc cây này.

– Tôi cũng là khách hàng lâu năm đây chớ bộ.

– Cũng cái ghế dựa có chỗ gác tay này?

– Đúng vậy. Ông đặt ghế trưa hay ghế chiều?

– Sáng sớm, nhưng hôm nay tôi đổi ca, còn cô? Nhưng tôi không ra mỗi ngày vì tôi còn một chỗ nữa, ngồi cũng êm ái lắm.

– Trưa và chiều. Chỗ nào vậy? Cầu trời không phải tảng đá phía bên phải khi đi ngược dòng suối độ hai cây số.

– Không phải chỗ đó. Cám ơn cô đã mách bảo vì tôi chắc là chỗ cô chọn ngồi nghỉ ngơi bảo đảm thoái mái, có chỗ gác chân không?

– Trời! Sao ông đoán hay vậy, có chỗ gác chân, ngồi êm, dựa thẳng. Nhưng không sao, ông cứ tự tiện dùng ghế đó. Bù lại, ông chỉ cho tôi chỗ thứ hai của ông. Hay là mình lên thời khóa biểu, ai sẽ dùng ghế nào trong tuần để khỏi … khỏi… bị dành.

Thích thú vì lối nói chuyện thân mật, Chheng đứng dậy, cúi đầu, đưa tay vòng cung làm điệu bộ như trong phim ra hiệu mời Hilde ngồi. Hilde lắc đầu lia lịa:

– Không, không dám. Ai ra trước người đó được quyền ưu tiên. Ông đọc quyển gì thế?

– À! Quyển SteppeWolf của Hermann Hess

Hilde bật kêu:

– Der Steppwolf. Hermann Hess là người nước tôi đấy.

– Cô người Đức à?

– Vâng.

– Hèn gì giọng cô cưng cứng như đang ngậm củ khoai tây.

Hilde trả đủa:

– Còn ông là người Campuchia, hèn gì giọng ông lọc cà lọc cọc.

Cả hai cùng cười, cười thoải mái. Nụ cười long lanh trong ánh mắt xanh biển xẫm. Nụ cười nheo mắt như chọc ghẹo. Nụ cười mà cả Hilde lẫn Chheng vì những lý do riêng tư chưa được cười từ lâu. Hilde tò mò:

– Ông thích văn của Hermann Hess?

– Chà! Nói thích thì không đúng lắm. Ở kệ sách khiêm nhường và quí báu của trại, có qưyển nào, đọc quyển đó. Có khi đọc đến hai ba lần. Đọc để luyện tiếng Anh đó mà.

– Đọc để luyện tiếng Anh mà ông chọn quyển này của Hermann Hess, văn chương nặng nề khó hiểu.

– Đúng ra thì chỉ có quyển này của ông là nặng nề u uẩn quá thôi. Mấy quyển kia, để coi, trong kệ sách của trại có hai quyển nữa của ông, Siddahartha và…

Hilde cắt lời:

– Knulp?

– Đúng đó. Cô đọc quyển này rồi à? Văn chương nhẹ nhàng đó chớ? Đọc như đi vào cõi mộng. Cô thích truyện này không?

– Nếu phải chọn một quyển sách tiêu biểu của ông Hess để thích thì tôi thích Siddhartha hơn. Tôi thích tư tưởng hướng thượng thiết tha với đời ngay trong những giới hạn tầm thường của cuộc sống hàng ngày. Und allem Weh zum Trotze bleib ich. Verliebi in die verruckt Welt.

– Ô, ô… Tôi không biết một chút tiếng Đức nào cả, tôi đoán đó tiếng Đức. Phải không?

– Vâng. Tôi biết dịch thế nào đây. Thôi thì cho đó là hai câu thơ tiêu biểu cho văn chương của nhà văn này trong thời đại ngập đầy biến động. Ông thích quyển nào nhất?

– Nếu cô đã dành thích quyển Siddhartha thì thôi tôi đành thích quyển Steepwolf vậy. Chứ không thôi cô lại bảo là tôi bắt chước cô.

– Ông đâu có già đến nổi phải thích quyển này?

– Lời trả thù khá đậm đây! Đùa chơi chứ mỗi quyển tôi thích mỗi tư tưởng được lồng trong đó. Ở quyển này, tôi thích con người ông, nhất là những tư duy của ông trong những năm cuối đời ông qua lời văn thật sâu xa. Cùng nói lên tâm trạng bối rối khủng hoảng của đàn ông ở lứa tuổi năm mươi, cùng mở đường, hướng cái nhìn của mình đến những giá trị cao hơn, thế giới cao hơn. Nhưng văn nặng quá! Từ ngữ rất trừu tượng. Tôi đọc lần thứ hai rồi đây, vẫn chưa hiểu thấu đáo. Thích, nhưng mệt óc. Tiếc là ở đây không có tự điển Anh Việt.

– Tự điển Anh Việt?

– Không! Không! Ý tôi muốn nói quyển Oxford Wordpower Dictionary.

Chheng lấp lá:

– Xin lỗi! Tôi chưa giới thiệu. Tôi tên Chheng Savan

– Hilde Hamilton, y tá, làm việc cho Hội Hồng Thập Tự.

– Tôi biết cô. Không có nhóm Hồng Thập Tự của cô đến cứu trợ thì tôi đâu có thì giờ mà ngồi đọc sách trong khi chờ đợi như thế này. Nếu không là giờ này tôi đang lang thang trong rừng tìm cái ăn. Hilde Hamilton! Tên Hilde thì tôi thường nghe các em nhỏ nhắc đến, Hin Đe, nhưng không biết họ cô là Hamilton, nghe có vẻ Anh quá. Trong quyển này có đề tên người chủ của quyển sách là Haralish Hamilton. Ông có họ hàng gì với cô không?

– Ba tôi đó. Ông mất sớm. Gia tài để lại cho tôi là mấy kệ sách. Tôi đi công tác qua đây, mang theo một số sách để đọc. Thấy ở đây có kệ sách do những người công tác trước đóng góp, tôi cũng đóng góp chút đỉnh vậy mà.

– Ba cô người Anh? Hồi nãy cô bảo cô người Đức.

– Ba tôi người Anh. Mẹ tôi người Đức.

– Ba cô người Anh, mẹ cô người Đức? Cô không đùa chứ! Mối tình Anh Đức, khó tin! Ông bà hẳn quen biết nhau sau đệ nhị thế chiến?

– Cuối thời kỳ chiến tranh. Đúng vậy, mối tình hai người lâm li bi đát vì mối thù không đội trời chung của hai dân tộc, hai nước tiếp tục kéo dài hơn mười năm sau đệ nhị thế chiến, đến giờ vẫn chưa dứt. Đến nỗi mẹ tôi phải từ biệt dòng họ nhà chồng trong lặng câm, không mang theo được đứa con gái út là tôi. Ba tôi mất đi trong nỗi buồn u uẩn. Đúng ra là mối thù của người Anh đối với người Đức. Nạn nhân thì bao giờ cũng thù dai hơn kẻ gây ra chiến.

– Đương nhiên! Kẻ gây chiến thì sao lại thù oán lâu khi họ chiến đấu cho lý tưởng của họ, dầu cho lý tưởng đó mang đến sự đổ vỡ tang thương không bên nào thua bên nào, dầu cho phần thất bại về phía họ. Ngay cả khi lý tưởng chiến đấu của họ đi ngược với lòng nhân đạo. Thật lạ lùng cô nhỉ! Cùng một vấn đề nhưng lại được nhìn, được phán đoán bằng nhiều cách thật khác nhau, khác nhau đến nỗi phải chống đối nhau, gây tương tàn cho nhau. Hỏi thật nhá, cô là người Anh hay người Đức?

– Không ai cho phép tôi làm người Anh dầu cha tôi là người Anh. Hồi nhỏ, mãi cho đến hết bậc trung học, tôi luôn bị con trẻ hàng xóm, học sinh cùng trường chế nhạo, chọc ghẹo vì tôi mang dòng máu German, mắt màu xanh dương thẫm. Khi tôi trưởng thành, tôi tìm về quê mẹ tôi, Đức. Nhưng ở đây tôi cũng không hoàn toàn được coi là người Đức. Được cái là sức chịu đựng của tôi được tôi luyện, tôi tự cho phép tôi là người Đức hay người Anh tùy hoàn cảnh, tùy người đối diện.

– Cô thừa hưởng cái tự cao của người Đức và cái kiêu hãnh của người Anh.

– Ha… ha… Ông dùng chữ hơi lạ, kiêu hãnh và tự cao… cám ơn ông nhá! À! Ông học tiếng Anh ở đâu mà lưu loát thế? Nhiều người Campuchia nói giỏi tiếng Pháp, rất hiếm người biết tiếng Anh.

– Tất cả những người thày dạy lớp tiếng Anh ở đây đều là bạn tôi. Tôi là phụ giáo cho họ nên được hưởng đặc ân này. Nói vậy chớ, khả năng tiếng Anh của tôi còn giới hạn lắm. Đọc sách, tôi phải đánh dấu nhiều câu khúc mắc để hỏi ông thày thân mến của tôi. Nhưng lúc này chưa có người mới, tôi đành đoán mò vậy.

– Nếu ông không ngại, tôi sẽ cố giúp ông một số câu cú tiếng Anh nếu ông cần và nếu tôi hiểu được. Dầu gì thì tiếng Anh cũng là tiếng cha đẻ của tôi và tôi lớn lên, đi học ở Anh.

– Ô, tốt quá! Và khi đó cô là người Anh? Hôm nào rảnh rang, cô kể cho tôi mối tình bi đát của ba mẹ cô.

– Ông hứa là không khóc nhé.

Chheng bật cười, nhìn Hilde, kết quả của mối tình nhiều uất ức đó. Dáng người mảnh dè, nét chịu đựng dẻo dai hiện trên gương mặt hơi xương xương. Đôi mắt sâu xanh thâm thẫm mang nỗi u ẩn lặng đóng. Lòng nhân ái hiện trên làn môi cười nhẹ rõ nét nằm khiêm nhường dưới sóng mũi xinh xinh. Mái tóc nâu sáng được thắt thành một bím tóc nằm gọn gàng trước ngực. Nụ cười, ánh mắt, mọi cử chỉ có cái gì thân mật ân cần làm ấm lòng nguời đối diện.

***

Nằm gác đầu trên tay Chheng trong căn phòng Hilde được chia riêng ở một khu vực nằm ngoài trại tập trung độ hai cây số, Hilde thoa nhè nhẹ bờ ngực Chheng, hỏi:

– Nếu anh dùng giấy tờ với tên Chheng Savan thì khi qua Đức, anh không ghi tên vô đại học được như anh muốn. Anh không muốn liên lạc với gia đình ở Việt nam để gia đình chuyển giấy tờ bằng cấp qua cho anh.

– Anh chẳng có bằng cấp gì để chứng minh cả. Hai năm học ở Khoa Học, sáu năm binh nghiệp, binh nghiệp không là bằng chứng cho trí thức. Để qua Đức rồi tính sau. Biết bây giờ gia đình có còn dám giữ lại giấy tờ không. Gia đình coi như anh đã chết, thì anh muốn gia đình được sống yên với chính quyền. Cái tên Chheng Savan đã quyết định cuộc đời anh rẽ sang hướng này từ đó. Anh gặp em và yêu em từ con người của ông Chheng Savan. Tên Trần Ngọc Hải đã mang biết bao tai nạn, bao cái chết cho những người Việt Nam đã bảo bọc anh từ khi anh mất trí nhớ một thời gian lâu. Anh muốn cái tên Trần Ngọc Hải chết hẳn để không làm vướng lụy, làm thiệt một mạng người Việt Nam nào nữa. Đừng nghĩ ngợi rắc rối. Em ngủ đi. Chút em có phiên trực tối mà.

Hilde hôn lên vai Chheng, thiếp dần trong giấc ngủ hạnh phúc. Chheng nghĩ ngợi lang mang… Ba Má tha thứ cho con vì cái tên Trần Ngọc Hải không hiện hữu trên cõi đời này nữa Nhưng, dù con mang cái tên Chheng Savan và tự cho mình là người Campuchia thì hai mươi tám năm trong đời con, mười chín năm với làng quê Phú Long bên con sông hiền hòa, bảy năm trường trung học Phan Bội Châu với nhiều kỷ niệm sâu đậm đời người, sáu năm sống trong tình yêu thương đồng đội, một năm trong rừng rú Việt Nam vẫn sẽ nằm sâu trong con, mãi mãi. Hãy âm thầm mang niềm hãnh diện là thằng con trai út của ba má đã chết trong trận đánh cuối cùng để bảo vệ vòng đai Sài Gòn, đó là sự thứ tha cho con, thưa ba má.

Kim, anh không còn là Trần Ngọc Hải. Anh Hải ngày xưa yêu con bé Kim, gắn bó thiết tha với con Chó Nâu, anh Hải ngày xưa em khoe với bạn bè, anh Hải ngày xưa được cả nhà em yêu quý. Hình như anh yêu Hilde? Hình như hương tóc chanh thơm vẫn còn lảng vảng đâu đó trong giấc mơ thỉnh thoảng được bình an? Nhưng… Kim, anh phải có một quyết định cho đời anh và cho cuộc tình của mình Kim ạ! Tin rằng anh Hải đã mất xác trong trận đánh cuối cùng với Việt Cộng sẽ băm tim Kim ra trăm ngàn mảnh nhưng cũng sẽ dọn đường cho Kim bước tới. Anh không hình dung được mức độ tàn khốc của sự đổi thay sau 1975 mà cộng sản đang đổ lên đầu người dân Sài Gòn cũng như cả miền Nam ra sao, anh nhưng biết chắc là con đường Kim bước tới sẽ lênh đênh gập ghềnh. Kim, dầu rằng Trần Ngọc Hải không còn hiện diện như một cái tên và cũng không còn là ông-anh-trên-Trời-rơi-xuống của Kim nữa thì Kim hãy một mình mà vững chân bước tới, Kim nhé.

… Hilde, em sống cho lý tưởng phụng sự con người. Em đã dùng tuổi trẻ của mình để phục vụ cho hội Hồng Thập Tự từ khu bệnh viện giả chiến này sang khu bệnh viện chiến khác, không có thời giờ để chăm chút tình yêu riêng tư, không có cơ hội để làm đẹp cho đời sống riêng mình. Anh tự hứa sẽ hỗ trợ em đi tiếp con đường em đã chọn, sẽ tiếp tay em trong trách nhiệm phụng sự con người bằng cách này hay cách kia, đó là một cách trả ơn cho những may mắn anh được Đất Trời ban ân và được bao bọc trong tình người..

Nhìn Hilde ngủ ngon như một đứa bé thơ trong cánh tay mình, cúi hôn lên mái tóc nâu sáng hơi quăn khi thả lơi bím tóc, Chheng cảm thấy thật bình an trong tình yêu chân phương của nàng. Nỗi bình an anh đã không bao giờ được hưởng từ ngày anh té bật ngửa vì lựu đạn nổ trước mặt trong bóng rừng chiều ẩm tối, một buổi chiều cuối xuân ở Định Quán, những năm sống chui nhủi trốn tránh quân độ Khmer Đỏ, Pol Pot.

Chheng co rút người, miệng ú ớ như cố gào to nhưng bị ai đó bóp nghẹt, tay vung vào người Hilde, đánh thức Hilde. Nắm tay Chheng đặt trở lại xuôi theo hông Chheng đã trở người nằm xấp, xoa xoa lưng, cố làm dịu lại cơn ác mộng của chồng. Gương mặt hơi co rúm trong giấc ngủ của Chheng làm Hilde thắt lòng, muốn xiết anh thật chặt để mong được chia sẻ, được xoá tẩy dần dần vết chàm đè nặng những giấc ngủ không bao giờ yên, những giấc ngủ đẫm ướt mồ hôi. Hilde nằm ngẫm nghĩ lại những năm tháng mải mê làm việc, tuổi thanh xuân lướt qua nhanh, vui với ánh mắt rạng mừng của những người dân tị nạn khi được săn sóc hỏi han, ấm lòng với những nụ cười trẻ nhỏ bao quanh. Để bây giờ, hai mươi chín tuổi mới thực sự được sống tình yêu chân thật đầu đời với một người đàn ông trắng tay, bắt đầu lại từ con số không ở cái tuổi ba mươi mốt. Người đàn ông trầm lặng sâu sắc mang một quá khứ u uẩn nào đó mà Hilde không sao phá vỡ được bức tường rêu phong đó. Bức tường ngăn chia ranh giới Việt Nam và Campuchia. Bức tường ngăn chia cuộc đời anh ở Việt Nam với cuộc đời anh ở Campuchia và cho đến bây giờ. Hilde tự nhủ sẽ cố gắng chấp nhận bức tường rêu phong đó bởi vì nàng yêu anh từ con người mang cái tên Chheng Savan.

Hai ngày trước khi  định cư ở Đức, Chheng thức bên ngọn đèn heo hắt của khu trại tỵ nạn. Những người Campuchia đã ở cùng căn nhà chòi với Chheng, ngủ từ lâu. Không ai cằn nhằn vì họ đã quen với cảnh anh ngồi cặm cụi viết, say mê đọc trong đêm tối. Ngày hôm sau, Chheng lang thang vào khu rừng cách trại cả giờ đi bộ. Rừng ở đây giống như rừng ở Việt Nam, chằng chịt, phải đi theo lối mòn, nếu không dễ bị lạc. Anh đi tách khỏi đường mòn, tìm chỗ ngồi. Anh ngồi như ngồi thiền, hai chân xếp bằng, thả hồn lang mang về Sài Gòn, về buổi nắng chiều xuân năm nào: Kim! Anh đang chôn vùi mối tình như thơ của chúng ta. Anh không thể nói rằng anh mong em tha thứ bởi vì anh đã yêu em hết lòng, yêu em từ ngón chân út xinh xinh đến mái tóc bóng mượt sợi ngắn sợi dài mà anh thường chọc hỏi tên kiểu tóc, bao giờ cũng thơm ngát hương chanh trong mát. Nhưng tình mình không trọn. Anh chỉ muốn cám ơn em, tình em nồng ấm ngày xưa. Em mang anh vào cuộc sống với tất cả tấm lòng chân thật của cô bé miền Nam. Cả hai, anh và em, không ai thề non hẹn biển. Nhưng ta hiểu nhau, tin cậy nhau và cho nhau không chút cân nhắc. Đừng hy vọng, đừng lục tìm, đừng mong chờ nữa Kim ạ! Anh cầu mong em tìm được cuộc sống yên vui với gia đình riêng em, yêu chồng em như ngày xưa em yêu anh. Anh biết, với tấm lòng thương yêu chân thật của em, em sẽ tạo được một mái ấm gia đình cho chồng em và cho em. Còn anh, anh sẽ sống thật xứng đáng với nghĩa vụ làm người, làm việc và phụng sự. Anh đốt lá thư này trong khu rừng xa xôi miền nhiệt đới, bởi vì ngày xưa anh mất em từ một chiều cuối xuân trong khu rừng hiểm trở tối đen. Tro tàn sẽ thấm vào lòng đất, tình ta trở về với cát bụi.  Kim nhé!.

Love – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười chín

Mùa đông, một chín tám ba

Tin tức về những nhóm người được tàu Cap Anmour trên truyền hình ARD Tagesshau ngày càng thường hơn, niềm vui không che được hết nét bở ngở vì may mắn đến không lường trước vẫn còn hiện diện trên những gương mặt thuyền nhân, những câu chuyện lênh đênh trong bão sóng làm tim người thắt đau… và ý định tìm gặp người đồng hương ngày càng thôi thúc Trần Ngọc Hải. Nhưng Hải lại đong tới cân lui khi lựa chọn giữa hai tấm căn cước Trần Ngọc Hải hay Chheng Sava, và trở thành đề tài bàn cãi bên bàn ăn những khi Hilde có dịp ở nhà. Qua hội Hồng Thập Tự, Hilde cung cấp Hải địa chỉ vài khu chung cư nơi những thuyền nhân được tạm cư trong khi chính quyền tìm nhà cho thích hợp từng hoàn cảnh mỗi gia đình, mỗi cá nhân.

Và bây giờ, sau bốn giờ chạy xe không nghỉ, Hải đừng lặng yên và vẫn chưa tin rằng mình đang trực diện màu cờ vàng rực rỡ với ba sọc đỏ tươi bên cạnh những người chưa một lần gặp gỡ trên mảnh đất quê hương nhưng đã cùng chung lưng bao năm dài trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam trước ý đồ bành trướng của cộng sản. Làn khói nhang xám mỏng lờn vờn trong mắt Hải như muốn hòa cùng hương cúc trắng, với hương khói trà mong manh, như muốn mang nỗi lòng thổn thức len lỏi qua từng cọng vải, thấm vào lớp đất quê hương miền Nam. Lắng sâu.

Ông Tự, cựu thiếu tá không quân, chủ nhân căn chung cư một phòng ngủ do xã hội cấp ở ngoại ô thành phố Stuttgart, ra dấu mời mọi người dùng cà phê. Ly tách trên bàn sofa cũng như mọi đồ đạc trong căn phòng khách rộng không quá hai mươi mét vuông coi bộ không mảy may quan tâm đến sự hòa hợp màu sắc hay kiểu mẫu, chỉ hiện diện trong căn nhà hai cha con ông Tự vỉ nhu cầu tối thiểu hàng ngày. Nhưng trên cái bàn nhỏ dựa sát vách thì mọi vật đều mang một sự trân trọng lưa chọn. Dĩa trái cây men trắng, bình cúc trắng, hai tách trà men trắng hai bên lư nhang là cái ly thủy tinh đầy gạo, ngọn nến tròn có đường kính bốn centimet chiếu lung linh trong cái lọ thủy tinh thấp trước lư nhang; tất cả được sắp xếp một cách thận trọng. Trên vách, cách mặt bàn ba mươi centimet, một lá cở vàng ba sọc đỏ có chiều ngang khít khao với chiều dài của cái bàn, dán thẳng đứng, thẳng thớm và nghiêm trang.

Lá cờ do chính ông Tự may bằng bàn đôi tay chưa từng cầm kim chỉ nhưng bằng tấm lòng trân trọng nên rất chỉnh chuẩn và khéo léo. Làn khói nhang mỏng lúc nào cũng phảng phất trước lá cờ khiến tất cả những người khách được ông Tự mời đến nhà, khi vừa đặt bước chân qua ngưỡng cửa đều tự động đến thắp nhang và hầu như không muốn rời khỏi mảnh đất quê hương mà trong bỗng chốc hiện ra trước mắt.

Sáu người đàn ông gồm năm cựu sĩ quan và một cựu sinh viên trường Luật, tuổi khoảng ba mươi đến sáu mươi, ngồi quanh bàn salong hình bầu dục gỗ thông ngã màu vàng nâu. Họ chia nhau cái ghế-salong-hai-người và ba cái ghế gỗ không cùng một kiểu được dùng thường ngày khi ăn cơm hay viết lách và có chiều cao gần bằng bàn sa-long nên người ngồi phải cong lưng xuống bàn để với lấy tách cà phê hay để gạt tàn thuốc. Hoàng, con trai ông Tự khoảng hai mươi và Vận, bạn cùng lứa, ở cùng chung cư, ngồi phía sau lưng, ngoài vòng „người lớn“, có cảm tưởng như đây là Hội Nghị Diên Hồng nhưng cả hai lại không dám tự so sánh mình như Trần Quốc Toản vì còn quá trẻ nên chỉ được ngồi nghe.

Hoàng đứng dậy, đi vòng tới mở cánh cửa sổ cho khói thuốc tìm hướng thoát, thoát khỏi bầu không khí vừa ngột ngạt vì khói nhang lẫn trong khói thuốc, nhưng tai thì không bò sót một lời. Cũng vậy, tách cà phê hầu như bị quên hẳn trong khi đầu điếu thuốc được rít mạnh thường hơn khi đề tài xoay quanh những ngày còn ở trong tại tù. Mỗi người một lời, lời căm hờn, lời tình tự, lời tự vấn, lời xót xa… Có những lời như muốn được bộc lộ mỗi khi có dịp ngồi quanh nhau bên tách cà phê đậm hay ly bia sủi bọt.

Thành, tuổi không quá ba mươi nhưng trông như bốn mươi vì hàm răng chỉ còn phân nửa và nước da đen xám chưa kịp nhả sau hai tháng định cư ở Đức, xoay nhìn Hải, giọng nửa diễu nửa cay:

– Ông may mắn „được“ trốn chui trốn nhủi trong rừng nên không phải sống nhục với tụi nó.

Đã từng tham gia hai lần họp mặt với một số cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa nhưng Hải vẫn chưa thể tự đặt mình vào hoàn cảnh của những người sĩ quan trong trại tù cộng sản để đánh giá những hành động được cho là kiên gan, được tôn là tiết tháo, được ngậm ngùi xót xa bằng tiếng thở dài cho sự liều lĩnh vì ý tưởng thà-chết-vinh-hơn-sống-nhục hay bị gán là luồn cúi, hay bị nhắc tới bằng dấu hỏi tại-sao to đậm… Hải chia sẻ:

– Quả thật, qua những gì các anh kể, tôi cảm thấy tôi may mắn trong thời gian ở buôn thượng và tìm đường qua Campuchia. Khi nghĩ đến giai đoạn ở Campuchia, đôi lúc tôi tự hỏi: „câm điếc“ và „khờ khạo“ để nuôi dưỡng một mưu tính có đáng theo đuổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào hay không.

Ai đó buông câu thở dài:

– Chưa nếm mùi trại tù cộng sán Việt Nam chưa phải là tên sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa bại trận. Những tên bỏ chạy vào những ngày cuối sẽ mang suốt đời cái mặc cảm trốn-chạy.

– Nói vậy cũng hơi hạn hẹp. Sao ta không cho đó là những người nhìn xa, nhìn được cái viễn ảnh sống dưới gót giày cộng sản. Chính tụi mình đây, từ tên thiếu úy trẻ măng đến tên tướng lão làng cũng khờ khạo xách quần áo tập trung „đi học tập“, để tụi nó lùa như lùa đàn cừu ngoan ngoãn lên xe tải đến lò sát sanh.

Hải thắc mắc:

– Làm sao tụi nó có thể bắt bỏ tù được cùng lúc tất cả, vừa sĩ quan, vừa tầng lớp công chức cao cấp?

– Để tôi giải thích cặn kẽ một lần cho anh Hải hiểu. Nếu chúng ra tay luồng bắt lớp trí thức và sĩ quan thì sẽ đưa đến tình trạng trốn chạy, phản kháng từ mọi tầng lớp trong xã hội miền Nam.

– Đúng vậy!

Một giọng nói hậm hực xen vào:

– Bằng thủ đoạn bánh vẽ, chính quyền ra thông báo yêu cầu tất cả sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa sửa soạn quần áo thức ăn cho hai tuần tập trung học tập cải tạo, học tập để chuẩn bị đời sống dân sự trong xã hội chủ nghĩa. Mọi người, phải nói là nhiều người „hớn hở“ khân gói đi học tập vì đa số nghĩ là: „Thôi kệ, chịu khó tập trung học tập một lần để được yên ổn sống đời dân sự.“ Còn giới công chức cao cấp và trí thức thì cũng được mời, mời đấy nhé, mời khăn gói tập trung „học tập“.

– Thế là vào tròng, một người nói chen vào. – Sau vài ngày tập trung, mọi người bị lùa lên những chiếc xe bít bùng, bị chở đi đến những nơi không ai biết đâu là đâu. Một ngày, hai ngày, đến chừng xuống xe mới hiểu ra là mình bị hoàn toàn ly cách với xã hội. Hàng trăm trại tù vách tre-nóc lá-nền-đất, từ rừng sâu hẻo lánh dọc Trường Sơn đến miền núi cao hiểm trở Hoàng Liên Sơn đã được âm thầm dựng lên, là nơi giam giữ những tù nhân không bản án nên không biết ngày về.

– Bằng cách này, tụi Hà Nội đè bẹp nhanh chóng mầm móng phản kháng từ phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa và giới trí thức. Cho đến nay, tám năm rồi mà nhiều trại tù vẫn còn tồn tại.

– Điều tôi không bao giờ hiểu được là tại sao tụi quản giáo lại có thể đối xử tù nhân một cách thú vật, một cách hạ cấp như vậy, chúng ta cùng là người Việt với nhau.

– Đó là cách trả thù của một người hạ cấp và ngu dốt bỗng chốc được nắm quyền, đó là cách xóa đi mặc cảm hạ cấp và ngu dốt.

– Chủ trương của chính quyền Hà Nội đó, chủ trương khổ nhục kế xoi mòn ý chí.

– Nhưng chúng lầm to. Chủ trương chà đạp nhân cách tù nhân bằng mọi thủ đoạn với chủ đích làm nhụt chí tù nhân đã đưa đến một kết quả trái ngược. Như quặng sắt bị ngọn lửa tôi nóng, ngọn lửa càng nóng quặng sắt càng được tôi cứng hơn. Càng bị ở tù lâu, lòng căm hờn và ý chí phản kháng càng được tôi. Âm ỉ và rắn cứng.

Biết là khi đề tài trại tù cộng sản được đưa ra là không khí sẽ bừng bừng và khó chấm dứt, ông Tự đặt ly bia mới nhấp một ngụm nhỏ, thở dài như một kết luận:

– Chưa có cái nhục nào bằng cái nhục sáu năm trong trại tù cộng sản ở Việt Nam mình. Cái nhục do chính người Việt đặt lên đầu người Việt.

Và chuyển đề:

– Tôi mời các anh đến đây hôm nay là để thông tin về hoạt động của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam và thảo kế hoạch tuyên truyền cũng như khuyến khích thế hệ trẻ tham gia.

Mọi người yên lặng. Ông Tự nói tiếp:

– Tin cho biết là tướng Hoàng Cơ Minh và anh em đã lập được căn cứ tại biên giới Lào-Thái, chính xác là ở quận Buntharich tỉnh U-Đông của Thái Lan

– Không biết lực lượng kháng chiến về tới biên giới là bao nhiêu không anh Tư?

– Khoảng 200 người.

– Liệu chúng tá có quá chủ quan không? Hai trăm người đối đầu với quân đội cộng sản? Nếu không có sự yễm trợ của quốc tế thì cuộc kháng chiến này khó thành công.

– Đây là điều trước tiên chúng ta phải làm là xây dựng căn cứ, lập cương lĩnh và phản ảnh được sự hợp tác giữa cộng đồng hải ngoại cũng như đồng bào trong nước thì mới kêu gọi được sự ủng hộ của quốc tế. Tin cũng cho biết là tướng Hoàng Cơ Minh sẽ lập đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến và ra báo Kháng Chiến phổ biến đến các khắp cùng các cộng đồng người Việt hải ngoại.

Hải ngần ngừ:

– Liệu có dân ta có sức để chịu đựng một cuộc chiến nữa hay không?

Tiệp, một cựu đại úy bộ binh đặt mạnh ly bia xuống bàn:

– Tôi sẽ chiến đấu tới cùng. Tôi đã từng ở tù cộng sản, dân mình đang sống trong nhà tù cộng sản, phải chiến đấu để tiệu diệt chế độ cộng sản.

Hiểu là Tiệp muốn ám chỉ sự trốn chạy của mình, Hải cố giữ bình tĩnh, phân trần:

– Chống cộng sản là tâm huyết của chúng ta dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ này. Nhưng hiện nay, thế giới vừa thở nhẹ khi cuộc chiến hai mươi năm của chúng ta vừa chấm dứt thì khó mà thuyết phục sự ủng hộ của quốc tế.

– Đây là cuộc chiến chống cộng của Việt Nam chúng ta. Ông Tiệp gằn giọng.

– Không, Hải lắc đầu. – Một khi ta chống cộng sản Việt Nam tức là ta chống cộng sản thế giới. Cuộc chiến tranh lạnh đang từ từ tan chảy, Mỹ và đồng minh đã bỏ cuộc, đã giao Việt Nam cho Nga Tàu. Mỹ và dân Mỹ đã chán ngán chiến tranh bạo động, và nếu không có sự ủng hộ của Mỹ và đồng minh thì không một cuộc chiến chống cộng nào thành công. Phương cánh chống cộng của chúng ta phải đổi hướng.

– Máu phải trả bằng máu.

– Máu đã đổ hai mươi năm rồi, không thể tiếp tục. Một người trả lời, không mấy cứng rắn vì tự hiểu mình nằm trong phần thiểu số như Hải.

– Thế hệ trẻ sẽ thay chúng ta trong cuộc chiếc lật đổ chế độ cộng sản tại Việt Nam.

– Thế hệ trẻ hải ngoại chưa hiểu sâu tầm mức khốn khổ của người dân trong nước phải chịu đựng dưới chế độ độc tài cộng sản. Như ngoài Bắc, người dân miền nam sẽ dần dần bị tẩy não, sẽ cúi đầu chịu đựng vì chính quyền Hà Nội thẳng tay trừng trị những ai có một lời hay một cử chỉ chống đối. Việc quan trọng là làm thế nào để mọi người hiểu rõ cái chính sách cai trị vô nhân và độc tài của cộng sản Việt Nam này sẽ đưa dân tộc vào ách nô lệ cộng sản thế giới hay nói rã hơn là cộng sản Nga-Trung.

– Con đường này quá quanh co dài dòng trong khi rễ cành của chính quyền Hà Nội ngày càng vươn dài, càng bám sâu. Con đường lật đỗ chính quyền bằng bạo lực là nhanh nhất và hữu hiệu nhất. Trong một cuộc chiến, bao giờ cũng có đỗ máu, bao giờ cũng đòi hỏi sự hy sinh.

– Chúng ta, những người lính Việt Nam Cộng Hòa và giới trí thức cũng như giới lãnh đạo chính quyền Sài Gòn trước hết phải thật ngay thẳng với chính mình rằng cuộc chiến này không là cuộc chiến khôi phục lại danh dự và quyền hành, mà phải là cuộc chiến vì nhân quyền và vì ước vọng cho một thể chế dân chủ cho toàn dân Việt mình. Có như thế thì mới mong đánh thức được sự hưởng ứng của người dân, cuộc chiến này phải xuất phát từ lòng dân trong nước. Cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ sát cánh với đồng bào trong nước.

Ánh trăng mười bốn bỗng như rực sáng hơn khi bóng đêm tháng mười một đổ ụp xuống. Trước khi vào xa lộ, Hải ngừng xe bên một quán dọc đường, muốn để bước chân thông thả ven khu rừng thưa, muốn thấy bóng mình ngã dài trước mắt, muốn để cái cảm giác hồi sinh thấm sâu vô từng tế bào.

Từ khi được tiếp xúc với một số cựu sĩ quan trong số những thuyền nhân được tàu Cap Anmour vớt, ngã ba đường lờn vờn trước mắt cả năm nay đã được định hướng sau sáu tiếng họp mặt ở nhà cựu thiếu tá Võ Tự, và cái tên Trần Ngọc Hải sẽ hồi sinh, vô cùng giới hạn.

Cùng lúc, một ngã ba khác hiện ra trước mắt: Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam với cương lĩnh và căn cứ, con đường đấu tranh bất bạo động chưa thành hình và rất quanh co. Cũng cùng một lúc, dấu hỏi có-nên-lôi-kéo-Hilde-vào-nếp-sống-hai-mặt-trong-những-ngày-sắp-tới-không hiện ra, tô đậm hơn. Ánh trăng mười bốn vằng vặc nhưng không đủ sức soi đường cho Hải tìm đến câu trả lời. Hải quay lại, con đường mòn lờ mờ trước mắt, bước chân không còn thư thả, bước chân mang dấu hỏi quá đậm, quá to.

HƯƠNG CHANH CHƯƠNG 1 – CHƯƠNG 2  – CHƯƠNG 3 – CHƯƠNG 4 – CHƯƠNG 5 – CHƯƠNG 6 – CHƯƠNG 7 – CHƯƠNG 8 – CHƯƠNG 9,10, 11, 12 CHƯƠNG 13, 14, 15, 16

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s