Võ Thị Điềm Đạm – Hương Chanh (chương 13, 14, 15, 16)

Imagination- Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười ba

Tháng ba, một chín bảy mươi lăm

Phước Long mất tháng một. Mặc dù tỉnh lị ven biên giới này đã sống bằng đường không vận từ nhiều tháng nay nhưng sự bỏ rơi một thành phố chỉ bằng một trận đánh cầm chừng khiến người dân miền Nam bắt đầu xao động thực sự. Những người theo dõi tình hình chiến sự đã dần dần đánh dấu hỏi tại sao Phước Long mất một cách dễ dàng, không một chống trả quyết liệt như Quảng Trị, như An Lộc hồi năm bảy mươi hai? Có phải Phước Long là trận chiến khởi đầu cho một kết thúc chăng? Một kết thúc được âm ỉ cho đến những ngày đầu tháng ba, một rung chuyển ngầm khởi sự.

Quận Định Quán nằm trên quốc lộ hai mươi, địa điểm chiến lược cần phải chiếm lĩnh của Cộng Sản Bắc Việt để ngăn chận lực lượng tiếp viện của quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ Đà Lạt, để cô lập Sài Gòn. Trong mấy ngày, người dân hiền hòa Định Quán phải chịu đựng những trận pháo mưa đủ loại, những trận mưa bom đổ trút trên đầu, từ sáng tinh sương đến chiều tối. Mưa bom, mưa pháo từ hai phía quần thảo khung trời cao nguyên. Miền đất đỏ xa xôi nhỏ bé, chuyên sống bằng rẫy vườn, bỗng chốc trở thành quen thuộc trên radio, truyền hình vì địa thế chủ chốt bảo vệ Sài Gòn, địa điểm cắt đứt đường tiếp viện của Đà lạt.

Đến ngày thứ ba hầu như từ những đơn vị hiểm yếu đến những đồn bót quanh thị trấn nhỏ bé này dần dần lọt vào tay Việt Cộng. Đại đội địa phương quân với sự trợ lực của Sư Đoàn 18 Bộ Binh chống cự mãnh liệt cho đến khi đoàn xe tăng T 54 Cộng Sản Bắc Việt hùng hổ tiến đánh dinh Quận Trưởng thì tình thế mất còn coi như rõ rệt. Đa số đồng bào Định Quán là những người Bắc di cư vào Nam năm năm mươi tư, sống thành họ Đạo nên ai nấy càng lo sợ, tìm đủ mọi cách di tản về Sài Gòn với tất cả những phương tiện có thể tìm được trong tình thế khẩn trương này.

Tin thiếu tá quận trưởng vừa bị bắt sống càng làm nao núng lòng người dân nơi phố chợ, cảnh hỗn độn như cơn lốc lan dần lan dần, hoảng hốt vội vã, tìm đường thoát cuối cùng. Trực diện với đường cùng, trung đội của trung úy Hải dù đã mất mát gần hết nhưng vẫn cố giữ vị thế bảo vệ của mình, vừa bắn chống trả vừa dồn gia đình thân nhân, nhân viên quận lên trực thăng di tản, chuyến trực thăng cuối cùng. Trực thăng vừa cất cánh, một toán đồng bào đông đảo chạy không kể mạng sống về phía bãi trực thăng đáp.

Hải ra lệnh:

– Dồn đưa đồng bào ra lộ chờ xe.

Mấy chiếc xe vọt chạy thoát được. Thấy thế, nhiều người đang chen chúc nhau, tay xách nách mang chạy dồn ra lộ chính. Từ xa, một toán Việt Cộng chạy tới, chĩa súng bắn xối xả không kể dân, kể lính, cản đường di tản. Tiếng kêu khóc hoảng hốt, người chạy tới chạy lui hỗn loạn.

Hải hối thúc:

– Bà con chạy mau, dọc đường lộ mà chạy, chúng tôi bắn giữ tụi nó, lẹ, lẹ.

Không kịp nữa rồi. Việt Cộng từ cánh rừng cao su bên kia vừa bắn vừa chạy dồn về đám dân tản cư và đám lính bắn cầm cự để bảo vệ đồng bào. Kẻ trúng đạn, người té ngã gục, cả dân, cả lính. Tiếng kêu khóc, tiếng la hét, tiếng đạn chát chúa…

Hải dơ tay ngoắc toán lính theo mình, ngược đám dân đông đảo, chạy vô khu rừng bên kia đường.

Trong sân quận đường, Việt Cộng đang hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ xuống, nhảy mừng, reo hò, kéo cao lá cờ màu xanh lá cây và màu đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng. Tiếng súng nổ, tiếng la hét từ quận đường càng lúc càng trở nên dồn dập hơn. Thấy toán lính Cộng Hòa bỏ chạy ngược, lính Việt Cộng đang chạy đuổi theo dân cũng xoay hướng, bỏ mặc đám dân hỗn loạn đang chạy theo lộ chính. Việt Cộng không bắn theo dân nữa, đuổi theo toán lính đang tháo đường chạy vô khu rừng bên kia lộ.

Không cách chi liên lạc được với cấp chỉ huy, trung úy Hải quay nhìn về phía dinh Quận Trưởng. Lá cờ Mặt Trận Giải Phóng treo ngạo nghễ trước quận đường. Hai chiếc xe thiết giáp T 54 họng súng đen ngòm đang rầm rầm hướng về đấy. Cùng thế, trung úy Hải dẫn đám tàn quân mở đường rừng chạy, vô hướng. Việt Cộng đuổi theo sát, bắn chan chát theo đám lính, lính té gục, lính ngã quỵ.

Rừng tối mờ mờ, đạn rít liên hồi, tiếng la hét khát máu, tiếng chân chạy thình thịch, thú vật trốn nhanh, cây cỏ run sợ, không khí tẩm mùi khói đạn, mịt mù. Vào sâu, trời sụp tối nhanh. Trước mặt chỉ là những bóng đen di chuyển nhanh chớp nhưng vô định như những thú rừng bị đuổi đường cùng, nhắm mắt mà chạy. Vừa bắn, Việt Cộng vừa rút lựu đạn, ném tới tấp. Lại vài người gục ngã. Hai lựu đạn nổ cùng lúc ngay sát trước trung úy Hải. Hơi ép hất anh té bật ngửa. Vài bóng đen vấp té nhào. Im bặt rợn người. Tối đen tràn ngập. Âm hưởng hỗn độn bỗng nhiên ngưng hẳn. Chần chờ động tĩnh được mươi phút. Không một chuyển động. Không một âm thanh. Yên lặng hiểm nguy. Rừng tối đen ma quái. Việt Cộng bỏ cuộc, quay chạy trở lại hướng quận đường trong nỗi lòng nôn nao chung vui chiến thắng với đồng đội.

Imagination- Tranh Hồ Thành Đức

***

Tình và Cang nhìn gương mặt tái xanh vì mất máu của trung úy Hải đang mê man trên nền đất rừng còn đẫm sương mai, bàn nhau:

– Mấy vết thương của trung úy đâu đến nỗi nặng lắm.

– Chỉ có vết thương ở bắp đùi là đáng kể, sợ đạn ghim trong đó, nhưng đâu đến nỗi nào, sao ảnh mê man cả hai ngày nay, biết làm sao bây giờ đây?

Tình nhìn Cang:

– Tao cầm chắc là Định Quán thất thủ rồi, tụi nó treo cờ ở quận đường, xe thiết giáp chạy rầm rầm vô chợ, coi như xong. Không biết hướng về căn cứ, mà không biết căn cứ còn không. Rừng rú vô chừng vô đỗi, mày gọi ảnh là anh Hai đi, đừng gọi trung úy nữa, cắt bỏ hai cái bông mai, xé bỏ giấy tờ, chôn đi. Lính thường dễ trà trộn vô xóm làng hơn.

– Nhưng phải giữ tấm thẻ bài?

– Ừ! Tao cũng tính như vậy. Mình tìm cách làm băng ca, ráng khiêng trung… anh Hai, chứ dìu đi kiểu này nặng lắm, không xuyển nổi, biết đi đến bao giờ mới tìm được chỗ trú ẩn an toàn.

– Mình đi tìm hướng suối, rồi cứ theo hướng suối sẽ gặp sông, theo sông theo suối thì thế nào cũng tới làng tới xóm. Tao chắc vùng này Việt Cộng ngập tràn, cẩn thận nghen mậy. Mà sao cũng lạ hả mậy, đi hai ngày nay mà không gặp thằng Việt Cộng nào hết trơn.

– Chắc tụi nó dồn hết lực lượng về chợ quận. Chiếm được quận đường là coi như chiếm cả quận Định Quán rồi còn gì. Trốn tránh trong rừng chi nữa.

– Phải tìm cách cầm máu chứ điệu này vừa đói vừa mất máu, tao sợ quá.

– Chắc anh Hai té bật ngửa, đập đầu xuống đất, không biết có bị chấn thương đầu không đây, để lâu không tốt đâu.

– Ừ. Hay là mình tìm đến làng nào gần nhất, tìm cách băng bó vết thương cho anh Hai trước. Biết căn cứ chỉ huy nằm hướng nào mà mò. Lạng quạng đi nhầm ổ Việt Cộng là rồi đời.

– Tao chắc tụi nó đang rút về quốc lộ Hai mươi, chận đường tiếp viện từ Đà Lạt. Mình đừng đi về miền dưới, đừng đi về hướng sông La Ngà, dễ lọt vô căn cứ tụi nó lắm. Mình đi lên cao, có nhiều buôn thượng, mình xin tá túc chờ. Người Thượng hiền lành, chắc họ không nỡ giao tụi mình cho Việt Cộng đâu. Phước Long mất mấy tháng nay, không biết tụi Việt Cộng có kiểm soát gắt gao không đây.

– Tao nghĩ tụi nó không đủ lực lượng vừa canh phòng kiểm soát Phước Long vừa dồn toàn lực lượng tấn công Định Quán. Mày thấy tụi nó dùng chiến thuật biển người tấn công mình, người đâu nữa mà ở lại hậu cứ.

– Tao nghi tụi nó quyết lấy Sài Gòn kỳ này. Thiệt khổ, không biết trung đội mình còn mấy người.

– Chắc chỉ có tao, mày với anh Hai là còn cầm cự đến phút cuối cùng. Cũng may lúc đó tụi mình lanh trí nằm im rơ, chớ dễ gì tụi nó bỏ cuộc.

– Ờ, tao vấp té, nằm đè lên anh Hai, máu ảnh ướt lây qua mà tao cứ tưởng tao bị thương, cứng đơ, có biết trời trăng gì đâu. May là mày lanh trí, bịt miệng anh Hai cho ảnh khỏi rên, chứ tụi nó đứng chờ nghe động tịch cũng lâu lắm.

– Cũng lạ, ba người té dồn một cục, trời thương mình.

– Đừng mừng vội mày ơi! Không biết tụi nó có lùng kiếm đây không.

– Tao chắc tụi nó ham trở lại chợ quận để ăn mừng chiến thắng. Tao không muốn bị bắt sống, nhục lắm.

– Tao cũng vậy.

***

Rừng núi Cao Nguyên Trung Phần tháng chín đã bắt đầu chuyển lạnh, cái lạnh se se của hơi đá lẫn trong cây lá, cái lạnh của đất ẩm hoà với lớp sương không chịu tan ngay khi mặt trời bắt đầu lố dạng. Không gian chừng như dừng lại nơi đây. Yên bình.

Buôn Chăn Zy nằm không đông dân lắm, mười tám căn nhà sàn, nằm rải rác, dấu mình giữa đồi núi mịt mù dường như đã bị quên lãng trong địa hình, trong hành chánh. Bị lãng quên hay cố tình muốn được mất dấu giữa cuộc chiến dai dẳng không liên can gì đến họ. Những nhà sàn dài độ mươi mét, ngang bốn mét, phía dưới nuôi vài con gà chạy lúc cúc tìm mồi, con heo mọi đen thui ủn đất tìm ăn… Bước lên vài bậc cầu thang cây, phía trong là một phòng lớn rộng thênh thang, vừa bếp vừa nơi ngủ, vừa nơi cả đại gia đình tụ họp mỗi tối. Chỉ có vài cái thùng nằm rải rác trên nền gỗ nâu trống trải, nơi mọi người ngồi ăn ở giữa, ngồi nói chuyện, nằm ngủ dọc theo hai vách lá.

– Anh Cang ơi! Đi bẻ bắp với tụi em không?

Tình và Cang lượm khoai lang vừa dở ra, bỏ vô hai cái cùi cũng gần đầy, Tình hất hàm chọc Cang:

– Em kêu kìa, bắp cuối mùa vẫn còn ngọt lắm nhưng chắc chắn không ngọt bằng cái cười của em H’Leo đâu.

– Thôi mày đi chung luôn.

– Sợ hả? Hèn gì hai mươi ba tuổi mà chưa có con bồ nào. Mấy em ở đây hiền lành chất phát mà mày sợ, đến chừng gặp mấy em dưới chợ thì cho mày trời trồng luôn.

– Mày nói ngon lắm. Hồi đó trốn trại về thăm em, em đi lấy chồng mất tiêu. Đã vậy, chừng về đơn vị bị anh Hai cho ôm súng chạy vòng vòng trại.

– Ờ mà hồi đó ảnh nghiêm nghị, ăn nói rổn rảng, lính sợ.

– Nhưng ai cũng thương, ảnh lo cho từng đứa, đứa nào vợ sanh, con bịnh là ảnh cũng tìm cách cho về thăm. Tao thấy ảnh nghiêm nghiêm ít nói làm sao mà có bồ hả mậy?

– Mày đọc cái thơ trong túi áo của ảnh không nhớ sao? Thơ mùi quá đỗi.

– Ờ, nhớ rồi. Bồ của ảnh tên Kim phải không mậy. Trong thơ, chỉ xưng Kim, xưng em, còn xưng cái gì nữa nè, ngộ lắm!

– Chó… Chó Nâu, kỳ cục!

– Tên gì mà tên Chó Nâu, như con nít vậy. Mà chỉ người miền nào vậy ta. Anh Hai người Phan Thiết.

– Tao chắc là người Sài Gòn. Ảnh về Sài Gòn hoài. Có hôm đi ngang trại ảnh, tao nghe thiếu úy Thọ chọc ảnh khi ảnh xếp túi đi phép. Thiếu úy Thọ đọc một bài thơ làm tao tức cười quá thành nhớ luôn đến bây giờ. Để coi, ráng coi có nhớ đúng không.

Tình lên giọng:

Em Sài Gòn, đừng chê anh nhé.

Mồ hôi rừng, vớ tất thủm thin.

Mê, nhớ em, anh đếch sợ mìn.

Trốn về phép, cho tình mình thêm đậm.

Còn nữa:

Phóng xe jeep, đạp ga, lên số

Kẻo em chờ, em giận, em thờ ơ.

Nước mắt em, anh chùi hoài không hết

…. quên!

Tao thấy anh Hai đâu có yếu xìu như vậy.

– Đàn ông khi thương ai là vậy đó mày ơi! Nhất là mấy ông sĩ quan. Ở đơn vị thì làm oai làm nghiêm. Chừng gặp người yêu, em chỉ cần nhỏ vài giọt nước mắt là năn nỉ ỉ ôi.

– Không biết bây giờ chị bồ của ảnh có bồ khác chưa ta. Mất tích, không ai hay biết, rồi bây giờ ảnh như vầy thì làm sao người ta chờ được.

– Đọc thư, coi bộ chỉ thương ảnh quá.

– Thương là phải. Anh Hai cao lớn, ăn nói nghiêm nghị mà tâm địa hiền lành thật tình. Đóng quân ở đâu, mấy cô quán cà phê, mấy cô giáo làng đều khoái anh Hai mà tao thấy anh Hai không quan tâm tới ai. Lóng này thấy anh Hai về Sài Gòn hoài, chắc anh Hai mê lậm chị Kim này rồi đây. Không biết sao chớ đọc thư, tao thấy tội nghiệp chỉ, chắc chỉ cuống cuồng đi tìm, biết đâu mà tìm.

Cả hai ái ngại quay nhìn Hải đang ngồi im lặng, cắt khoai từng lát mỏng để phơi, gương mặt bình thản, câm nín. Cang thắc mắc:

– Không biết anh Hai đang nghĩ gì hả mày?

– Tao nghĩ ảnh không nghĩ gì hết. Nếu đầu óc ảnh biết suy nghĩ thì giờ này tụi mình đâu có ngồi đây.

– Mày nghĩ sao? Chẳng lẽ mình ở đây hoài.

– Tao cũng nghĩ vậy. Chẳng lẽ ở đây. Tao định như vầy: Mình ráng làm, đào măng đốn củi đem xuống chợ bán, dành dụm. Tìm cách đem anh Hai về chung với tụi mình. Về tới nhà tao rồi tìm cách liên lạc với gia đình ảnh.

– Biết gia đình anh Hai ở đâu mà liên lạc, biết chị Kim ở đâu mà nhắn tin.

– In như trong thư, chị Kim có nhắc đến trường Sư Phạm, chắc chị Kim học ở đó. Cứ về nhà tao rồi tính sau.

– Không biết thân lính tráng như tụi mình về có bị tù hay không đây.

– Tao cũng sợ tù. Sợ tụi Việt Cộng trả thù. Mà lính Cộng Hòa nhiều quá, tù đâu nhốt cho hết. Nhốt tù, cho tù ăn, không dễ đâu.

– Mày tính vậy cũng được. Kỳ tới xuống chợ dò đường. Ở đây yên ổn, bà con thương, bỏ đi không biết sao đây.

– Thôi đi ông! Ông còn quyến luyến em H’Leo thì nói.

– Con nhỏ dễ thương quá.

– Thôi, chạy theo mấy nường, thế nào cũng kiếm được gùi bắp chiều về luộc ăn. Ráng mót được trái nào hay trái đó, sâu bọ gì cũng bẻ nghen mày, lẩy hột phơi khô.

***

Tình và Cang coi bộ tìm được những ngày nhàn hạ thong thả với buôn làng hiền lành chất phát. Không ai thắc mắc tò mò vào đời sống của ba người thanh niên trẻ này, tại sao họ lưu lạc đến đây, tại sao họ chọn ở đây và ở bao lâu. Thành thật và tự nhiên, họ chỉ cho ba người căn nhà sàn bỏ trống, mái dộp mốc, vách lá nắng xuyên cả buổi sáng lẫn buổi chiều. Rồi ngày hôm sau, người đem cái nồi đất, người đem tấm đệm rách nhiều lỗ, người đem rổ bắp khô, người đem cùi khoai…

Và cứ như thế, ba người dần dần tự túc sống. Đất vườn quanh nhà hoang vu cỏ dại, nay trở nên xanh tươi, mang sức sống mặc dù luống rau không mấy thẳng thớm, luống khoai lang chỗ thấp chỗ cao. Tình và Cang theo giúp người này bỏ lúa, theo giúp người kia hạ cây, cưa cây, phụ người nọ vác gùi tìm măng… Rồi họ được chia cho mấy củ khoai lang, gùi bắp tươi, có khi cũng được miếng thịt nai thui, con gà rừng ốm nhom. Họ sống hòa đồng, hòa nhập vào đời sống buôn làng như những con kỳ nhong thay đổi màu lá theo khu vực mình trú ngụ.

Vết thương của Hải chừng hai tuần sau là kéo da non, Hải tập đi từ từ. Bây giờ thì Hải đã đi đứng bình thường, làm giúp Tình và Cang được nhiều việc. Nhưng tình trạng nửa mê nửa tỉnh, không nói không rằng của Hải làm Tình và Cang không biết tính toán gì cả. Cả hai không nói ra nhưng đều chờ một ngày nào đó anh Hai tỉnh trí thì liệu bề mà tìm về gia đình, gần sáu tháng nay rồi.

Không nói không rằng, lầm lầm lì lì, ánh mắt nhìn đâu đâu vô định, gương mặt không chút linh hoạt, Hải sống như một cái máy. Ai nhờ đâu làm đó, tới bữa ăn thì ăn, tối thì đi ngủ, mọi sinh hoạt cứ theo nhu cầu thiên nhiên. Đôi lúc đi lang thang từ vườn này sang vườn kia, đi sâu vô rừng, đi vô hướng, rồi chiều thì cũng tìm được đường về nhà. Đôi lúc anh lẩm bẩm nói một mình, sống như mơ.

***

Một buổi sáng sớm, khí trời trong mát, cái lạnh núi rừng chưa tắt hẳn. Tình và Cang làm việc đâu đó trong buôn làng. Hải đi vòng vòng, đi vô hướng. Mọi người trong buôn đã quen với cách đi lang thang không định này của Hải nên không ai để mắt theo dõi. Chợt Hải đi săng săng đến một gốc vườn. Cây chanh thấp đang nở những nụ hoa li ti trắng nõn nà thơm lưng lửng trong cái khí lạnh của núi rừng buổi sớm mai. Tâm thức từ một nơi thật xa xôi thúc đẩy, Hải bức vài lá xanh đậm mướt, vò trong tay, đưa lên mũi, hít mạnh. Hải ngồi bệt xuống gốc cây. Khắc thời ngưng động. Hải bật khóc, cái khóc của một đứa trẻ chợt khám phá ra là mình bị bỏ rơi giữa rừng trong đêm tối.

– Kim ơi!

Hải kêu thầm, đắm chìm…

Khung cảnh thư viện Nguyễn Du có bóng cây sao che nắng Sài Gòn. Nàng ngồi dựa lưng vào ngực chàng trên sân cỏ xanh mướt phía sau thư viện, đan những ngón tay dài mềm trong tay chàng, thì thầm: ” Em nhớ anh muốn khóc”. Gió lay lay mái tóc nàng, hương chanh thơm thoang thoảng. Chàng sung sướng cúi vờn lên mái tóc mượt.

Đôi nhân tình trên chiếc xe PC màu xanh lá cây, chạy thật chậm, gió mát, môi vờn men tai, những ngón tay mềm ấm xoa xoa đùi chàng, giọng hát nho nhỏ thiết tha… Sao tua chín cánh ối a nằm kề…. Thương anh từ thủa mẹ về là về với cha.

Gương mặt ướt đẫm chùi trên vai chàng, lau nhanh những giọt nước mắt lả chả khi chia tay.

Xoa tay lên bả vai như tìm kiếm dấu răng cắn mạnh đêm nào.

Con đường buổi sáng từ Phú Long đạp xe đạp, đạp một con đường thẳng dài thăm thẳm mong cho đến mấy ruộng muối trắng xóa đang chờ người cào. Cong lưng đạp leo dốc cầu để thả dốc về đường Nguyễn Hoàng là tới trường Phan Bội Châu, ngôi trường có những cây phượng lá xanh mướt với những trái điệp tây dài cả nửa mét treo lủng lẳng trên cành cứng mạnh. Những cô nữ sinh yểu điệu cố giữ tà áo dài bị gió chiều thổi tung, tay vịn cái nón trắng quai nhung đen mịn. Quán nước bên kia đường, mong chờ ánh mắt ai đứng lẫn chung với đám bạn trước cổng chờ chuông trường reng vào lớp.

Bữa cơm trưa, bụng đói cào cào vì phải đạp xe trở về con đường dài thâm thẩm đã đi qua ban sáng sau năm tiếng học mệt mỏi. Người mẹ dọn mâm cơm, dĩa cá nục kho tiêu ớt cay xé, tô canh bí rợ xanh nấu với tép thơm bùi. Bữa trưa nào anh học sinh cũng ăn một mình vì cả nhà ai cũng đã ăn và đang tiếp tục công việc đồng áng của mình. Chỉ có mình người mẹ, bà ngồi bên cậu con trai út, múc thêm cho cậu tô canh, gắp thêm cho cậu con cá nục béo ngầy ngậy. Hai má con ít nói chuyện với nhau, cả nhà ai cũng ít nói nên không khí nhà thường tẻ nhạt. Cậu học sinh vùi đầu học thi, không bận tâm đến cảnh sinh sống ở nhà mình…

Căn cứ Rừng Lá cuối đông khí rừng lạnh rét, ánh mắt hoảng hốt của anh trung sĩ, níu cánh tay người chỉ huy khi biết mình không còn hy vọng sống, miệng thì thào: “Vợ em, con em, thiếu úy!”

Đêm yên tĩnh trong rình rập, ai cũng cố quên, ráng cười đùa chọc anh chàng trung sĩ mới hai mươi bốn tuổi mà bà mẹ hối cưới vợ như sợ con mình già hết thời trai, sắp về quê cưới vợ theo lệnh của mẹ. Cả trung đội chung tiền làm quà cưới, chọc: “Trong hình thì cái mặt coi hiền nhưng cầu trời đi mày, sao không nghe bà già nói gì đến tay chơn, có dư thiếu cái nào không đây”. Người chỉ huy trừng mắt nghiêm mặt nhìn anh chàng vừa thốt ra câu đùa vô duyên.

Toán lính di chuyển thê thảm trong rừng sâu mờ mịt. Đói khát làm sao lãng óc quan sát, làm mịt mờ đôi mắt tinh nhanh. Tiếng mìn nổ lớn, thịt nát bầy nhầy.

Toán lính đi vào làng quê, làng quê nghèo hoang vu xơ xác. Đàn bà, ông già còm cõi bồng con cháu bụng ỏng chân dài thong, đứng trước nhà nhẫn nại nhìn trong căm lặng. Vài căn nhà cháy một góc, vài căn nhà xụp một bên từ những trận oanh tạc trước, không ai buồn sửa chữa.

Những hoả châu chiếu sáng, lục lọi, tìm kiếp, húc thối, rút mau.

Rừng tối đen chằng chịt, tiếng la hét, tiếng đạn ráo riết mọi hướng, tiếng nổ vang trời.

Tất cả kéo về trong tâm tưởng. Hải nhớ lại hết. Hải hiểu hết. Bàng hoàng khi nhận ra nơi mình đang ngồi, nhận ra nơi mình đang sống. Hải chạy nhanh về căn nhà sàn, gặp Tình đang ngồi lảy bắp khô.

Hải hỏi hối hả:

– Có ai ở đây nữa không? Có lính nào ở đây nữa không? Đây là đâu?

Hải hỏi, giọng sang sảng như đang ra lệnh cho lính của mình làm những người ở gần đấy chạy vội lại xem anh Hai đã chịu nói, gương mặt sống động, mấy xớ thịt trên mặt căng căng. Cang nghe tiếng ồn ào cũng vội vã chạy về thì thấy Hải đang chỉ chỏ, nói lia miệng. Tình hiểu là Hải đã tỉnh trí, kéo Hải vô nhà, phất tay ra dấu cho mọi người giải tán. Ai cũng vui vẻ nhẹ nhàng khi thấy gương mặt sống động của anh Hai, an tâm, trở lại với công việc của mình đang dang dở.

Hải, Tình và Cang ngồi ở bên cái bếp còn hâm hẩm nóng. Tình và Cang thay phiên nhau kể cho Hải nghe. Kể hết. Từ khi bị Việt Cộng dồn ép chạy vô rừng.

Tình thấp giọng:

– Sài Gòn mất rồi anh Hai. Chắc chắn tụi nó chiếm cả miền Nam từ lâu. Tụi em không dám về chợ, không dám bỏ anh nửa mê nửa tỉnh cả sáu tháng nay.

– Sao hai em biết Sài Gòn mất? Tụi Việt Cộng chiềm cả miền Nam?

– Thỉnh thoảng tụi em có gánh măng, gánh bắp xuống chợ bán đổi gạo, đổi vải, đổi muối, đường, dò la đường đi nước bước. Em thấy đâu đâu cũng treo cờ đỏ có ngôi sao vàng ở giữa, cờ gần giống như cờ Trung Cộng. Đâu đâu em cũng thấy có hàng chữ đỏ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, không thấy một bóng dáng lính mình.

– Hình ông Hồ Chí Minh treo cùng khắp, treo tuốt trên cao, coi trân trọng lắm, rõ ràng quá mà.

– Em còn nghe cái loa ngoài chợ đọc tin tức, ra rả giọng điệu Việt Cộng trăm phần trăm. Rõ ràng là Việt Cộng thắng hết rồi.

– Em còn nghe có bạn hàng nói chuyện với nhau, kêu chú bộ đội này, ông bộ đội kia, nói năng coi bộ như với lính mình vậy. Tụi em quan sát kỹ lắm, chắc chắn cả miền Nam thua đứt từ lâu rồi nên tụi bộ đội, tụi du kích đeo băng đỏ mới lộng hành cấm đoán đủ thứ, kiểm soát chặt chẽ, rào xét nghiêm ngặt.

– Làng này ở xa, tụi nó chưa đến đó thôi. Tụi em định nay mai tìm đường về quê. Mà rồi không biết về quê có yên không đây, cũng có thể kiếm đường đi trốn vô rừng, đi tìm đội quân kháng chiến mà em nghe lóm mấy người bán hàng bàn lén lút với nhau.

Hải ngạc nhiên hỏi:

– Đội quân kháng chiến?

– Dạ! Em nghe loáng thoáng là một số lính mình không chịu hàng, chạy trốn rải rác trong rừng. Mấy ảnh về xin bà con lương thực, thuốc men, nhưng em không dám hỏi, sợ họ nghi ngờ. Em lắng tai nghe mỗi lần có người nhắc đến. Đám thanh niên đeo băng đỏ cứ lảng vảng ở chợ, lục soát, nghe ngóng dữ lắm. Em đâu dám đi chợ thường để dò la tin tức. Ngồi bán cũng cúi gầm mặt, bán xong là lẹ lẹ lo về.

– Nhiều khi em mong sao cho mấy ảnh tìm đến buôn làng mình thì em xin đi theo luôn.

– Có khi nào đụng trận không?

– Không anh, không nghe một tiếng súng nào hết.

Hải nghiêng đầu nhìn quanh qua khung cửa tre, ánh mắt nheo nheo đăm chiêu, hỏi:

– Hai chú có biết mình đang ở đâu không? Mình phải phân định rõ chỗ ở của mình để dễ thảo kế hoạch, hướng trốn.

– Dạ… để coi… in như là Chăn Zy… rồi…Ea Sup. Em đọc tấm bảng treo ở mấy tiệm dưới chợ.

– Không để quận gì sao?

– Dạ không. Hình như để là…huyện Ea Sup thì phải. Tên lạ quá, em không nhớ hết. Xã Chăn Zy, huyện Ea Sup. Em không biết huyện là gì, cũng không dám hỏi.

– Trên bảng viết tên xã Chăn Zy, rồi tới huyện Ea Sup? Như vậy chắc huyện là quận đó, không để tỉnh nào sao?

– Dạ không. Đường xuống chợ mất chừng độ nửa ngày. Tụi em không biết đường, phải đi theo vài người ở đây, đi từ chiều hôm trước để kịp chợ sáng sớm. Trời vừa hừng sáng là chợ đông, chừng vài tiếng đồng hồ. Em không thấy đường xe lớn đâu hết, không thấy xe đò, chỉ có một vài chiếc xe lam, xe thồ lâu lâu chạy lên chạy về, không dám hỏi tới hỏi lui, sợ nghi ngờ. Anh tính sao?

– Các chú cứ làm việc như bình thường, chờ anh tìm kế hoạch trốn.

– Em nghĩ mình không cần trốn đâu anh. Dân ở đây hiền lắm, không ai thắc mắc chi hết. Dân làng không biết nói tiếng Kinh nhiều, càng không biết đọc biết viết, không thấy một tờ báo, một quyển sách. Tụi em học lâu nay, hiểu tiếng dân làng cũng kha khá, bà con coi bộ thương mình lắm. Hình như làng này không hiện hữu trên bản đồ, không trường học, không một làng xã nào cả, in như không ai biết đến.

– Nhưng mình không ở được lâu hơn đâu. Một ngày nào đây, chính quyền mới cũng quản trị hết, chừng đó dân làng không ai che chở mình được, không thoát khỏi tay tụi nó. Mình thu xếp đi nhanh chừng nào tốt chừng đó. Mình ở đây chỉ gây rắc rối cho dân làng nếu tụi nó khám phá ra. Mình phải tìm đường về gia đình.

Hai ngày sau, ba người từ giã bà con buôn làng để tìm về gia đình. Ai cũng bịn rịn, cũng thương hai anh trẻ vui tính, làm việc hăng say, thường chơi đùa với trẻ em. Những cô gái buôn làng buồn tiếc ánh mắt lém lỉnh, chọc đùa của hai anh trẻ này. Những người lớn tuổi thì thương anh Hai lầm lầm lì lì không nói một tiếng. Ai nhờ đâu thì làm đó, ai cho ăn gì thì ăn thứ đó. Nay anh Hai khỏe lại, ai cũng hiểu ngầm anh người đầu đàn. Và bây giờ ba anh này muốn trở về quê với gia đình thì đó là chuyện phải đến thôi.

Từ lâu những người trong buôn làng đều hiểu họ là những người lính thất trận đang trốn lánh. Họ đang lo sợ đám thanh niên đeo băng đỏ ở chợ một ngày nào đó sẽ tìm lên buôn thượng sâu hút trong rừng rậm này thì rắc rối cho ba người lính trẻ hiền lành, rồi lo lắng không biết ba người về chợ có bị làm khó làm dể không. Họ chuẩn bị cơm nếp nhận ống tre, khoai lang khô, gạo, cá khô, muối… Ba cái cùi đầy nhóc thức ăn.

Đưa tiễn ba người ra khỏi buôn thượng, mỗi người mang một nỗi buồn riêng. Cô H’Theng đứng khuất mình sau bụi tre khóc rưng rức. Cô biết anh Tình một ngày nào đó sẽ bỏ buôn làng mà đi, nhưng cô luyến tiếc ánh mắt đầm ấm anh tìm nhìn cô trong những đêm ngồi quanh bàn rượu cần êđê trong nhà cô. Cô H’Leo bịn rịn bỏ thêm mấy cái trứng gà luộc vô gùi anh Cang. Cang nắm tay cô hứa hẹn:

– Cang sẽ về thăm H’leo

Gật đầu, nước mắt lả chả.

Những người già nắm tay Hải vỗ vỗ, ánh mắt thương yêu, không nói không rằng.

Ra khỏi buôn làng, Tình cằn nhằn Cang:

– Mày bày đặt yêu thương làm chi cho mệt, rồi còn hứa với hẹn, biết có về được không.

Khi thấy Cang cúi đầu lủi thủi đi, không trả lời, Tình hiểu Cang buồn thực sự nên không nói nữa.

Impression – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười bốn

Tháng mười, một chín bảy lăm

Khí trời núi rừng cuối tháng chín đã hơn tám giờ mà cái lạnh vẫn còn cắt da vì mặt trời không muốn vươn cao thêm, không muốn tung ra hết sức nóng âm ỉ trong mình như sợ đánh thức lớp lá vàng nâu đang nằm im ủ mình rục rã trong sương mai. Hải, Cang, Tình dọc theo con đường mòn từ buôn thượng ra đường mòn, lúc lên lúc xuống, lúc quanh lúc co, theo về hướng chợ làng. Cái gùi mang đầy thức ăn đeo sau lưng của mỗi người đã bắt đầu trĩu xuống, không biết vì củ khoai, tán đường hay vì nỗi lòng nặng trĩu âu lo nôn nóng không biết những gì sẽ xảy ra cho mình khi rời xa sự bảo bọc thương yêu của dân bản làng.

Ba người dự định sẽ cẩn thận len lỏi trong bụi cây, bóng mát dọc theo đường đất lộ nhưng vẫn giữ khoảng cách, không dám đi ngang nhiên trên đường mòn. Xế chiều, khi đến gần làng sẽ dấu gùi một nơi rồi lần mò dò la tình hình để nhận lại địa thế địa phương mà định liệu cách đến một thành phố gần nhất. Sáng sớm hôm sau, chợ chỉ họp vào lúc rạng đông, vài tiếng đồng hồ. Khi đó cả ba sẽ dễ dàng trà trộn trong chợ đông đúc người. Nếu thuận tiện thì tìm đường tiếp tục ra lộ lớn, tìm xe hoặc xin quá giang hoặc dùng số tiền nhỏ nhoi mà bà con đã gom góp cho tối hôm qua làm lộ phí đến đâu hay đến đó. Phần còn lại thì đi bộ hay tìm việc làm công kiếm tiền độ nhựt và tiền xe.

Cả ba chưa hề tiếp xúc với người kinh từ khi Cộng Sản tiếp thu, chưa thấu hiểu tình hình xã hội đã đảo lộn nhưng đối với Việt Cộng cả ba đều biết rằng mình phải thật cẩn thận, cẩn thận như con sâu nhỏ len lỏi trong đám lá xanh hay đám lá úa nâu và biết rằng bàn chân con người Việt Cộng sẽ sẵn sàng nghiền nát cả ba không chút thương sót. Không phải cái cẩn thận của con nhím nhỏ đang len lỏi trong đám cỏ lá, con nhím có những sợi lông cứng nhọn, sẵn sàng đâm vào bàn chân nào muốn nghiền dẫm. Trong gùi của mỗi người đều có một con dao, con dao làm phương tiện duy nhất để sống còn trong rừng rú hiểm trở, con dao là phương tiện để tìm cái ăn qua ngày trong thiên nhiên, cũng có thể là phương tiện tự vệ khi cần.

Cả ba da ngâm ngâm đen, cộng thêm gần nửa năm dầm nắng dãi sương làm việc với bà con buôn thượng nên da dẻ coi cũng nâu thẫm không khác gì người thượng lắm trong cái xà rong rằn sọc nâu sọc xanh trên nền vải đen. Nắng trưa dịu dần, vừa ra gần tới đường đất đỏ dẫn xuống chợ, rộng chỉ vừa đủ cho một chiếc xe.

***

Tiếng xe jeep dội lên dội xuống theo cái gập ghềnh của con đường đã bị mưa làm lở lói mấy tháng nay làm cả ba hoảng hốt chia nhau núp vào mấy bụi rậm bên lề đường. Trên chiếc xe jeep, bốn thanh niên trẻ, gương mặt hớn hở. Một người lái xe, một người ngồi ở băng trước tay cầm khẩu súng chĩa thẳng lên trời, hai người ngồi hai bên thành xe buông thỏng chân, cầm súng chỉa hai bên đường như sẵn sàng bóp cò bất cứ lúc nào khi thấy dấu hiệu khả nghi. Quần áo bốn người gần gần như nhau, nhưng không phải đồng phục, quần màu lính rừng, áo sơ mi ca rô cũ kỹ bỏ ngoài, đầu đội nón tai bèo cái nâu, cái xanh, cánh tay đeo một băng đỏ.

Trên băng sau, hai người đàn ông đã đứng tuổi, quần áo tả tơi, râu lởm chởm, hai tay bị trói ké ra phía sau, gương mặt đanh lại nhưng ánh mắt không dấu được nỗi hoang mang, nhìn quanh của con thú lọt bẫy biết rằng có vùng vẫy cũng vô ích. Xe vừa qua khỏi chỗ ba người đang nấp thì bỗng cái xe thắng kít, bụi đỏ dấy cao, vết xe lún sâu xuống đường đất đỏ dài cả mét. Hai thanh niên ngồi trên thành xe, nhảy xuống, chửi thề:

– ĐM! Thắng kiểu này ông lộn đầu sao con? Gì vậy?

– Đái, ĐM! Tức bụng thấy mẹ. Coi chừng mấy thằng tàn quân, tao đái.

Tên tài xế nhảy xuống xe, không thèm đi thêm bước nào, không cần dấu diếm. Bàn tay nghịch ngợm nâng của quí lên đặng vòi nước tiểu phóng ra xa hơn, tạo thành một đường cong như lằn đạn pháo kích. Kéo quần, tên tài xế vòng phía sau xe, với tay đánh tạt đầu người đàn ông bị trói ké phía sau. Cái tát đầu như cái tát của người cha nổi cáo đánh thằng con hỗn xược, cái tát đầu khinh bỉ, ngạo mạng, nói:

– ĐM! Có đái thì đái luôn một lần cho đỡ mất công ông.

Người đàn ông quay tránh, phản đối lấy lệ, cắn chặt hai hàm răng, không trả lời.

Tên thanh niên ngồi phía trước coi trông chững chạc hơn, mắt nhìn đăm đăm phía trước, nét mặt gườm gườm, có vẻ suy tư, hối:

– ĐM! Không đái ỉa gì hết. ĐM! Lẹ đi con, chỗ này âm u ớn thấy mẹ. Mấy chả tỉa cho vài phát là rồi đời.

Chiếc xe jeep rồ máy, bánh xe lại xoáy mạnh, tạo một vết lủng dài trên mặt đường đất đỏ, gầm gầm chạy tiếp.

Nằm sau tảng đá, chứng kiến toàn vẹn quang cảnh trên đường lộ đỏ. Ý tưởng sẽ bị còng tay, bị tát tai, bị đánh đập cho đến chết làm Hải vừa lợm giọng buồn nôn vừa giận dữ. Hải quắc tay ra dấu cho Tình và Cang đến gần.

Hải hỏi:

– Hai chú nghe mấy người ở chợ kể là có tàn quân về làng xin thức ăn của bà con?

– Dạ, nhưng họ dấu kín lắm, em chỉ nghe loáng thoáng thôi, không dám hỏi tới hỏi lui, sợ họ sinh nghi, biết lòng dân thế nào mà hỏi. Tụi lính đeo băng đỏ đi vòng vòng ở chợ hoài, tụi nó dò la động tịnh

Hải nhìn hai cậu đàn em, giọng nghiêm trọng:

– Anh cám ơn hai chú đã tận tình cưu mang anh gần cả nửa năm nay. Vì anh mà hai chú không thể tìm đường về gia đình được. Trước tình cảnh như hai chú đã chứng kiến khi nãy. Hai chú là lính thường, nếu có bị bắt chắc không bị nhốt lâu. Còn anh, là sĩ quan, họ không tha anh đâu, nhất là anh đã trốn trong buôn làng một thời gian lâu và vẫn còn những tàn quân trốn tránh trong rừng. Họ sẽ thắc mắc anh đã làm gì trong thời gian vừa qua. Anh không muốn trở về. Anh quyết định đi ngược lên trên, tìm các anh em tàn quân rồi sẽ tính toán sau. Vì hiện giờ anh không được đọc báo cũng như nghe radio đã lâu nên không nắm được tình hình xã hội bên ngoài, không lường được sự nguy hiểm dọc đường, không lường được những gì sẽ xảy ra khi anh trở về quê. Hai chú liệu mà tìm đường về gia đình. Anh có hai địa chỉ, một ở Phan Thiết, một ở Sài Gòn. Nếu tiện, hai chú chỉ cần liên lạc với một trong hai địa chỉ này và yêu cầu họ liên lạc với địa chỉ kia. Hai chú kể sự thật về anh, đừng để lại một hy vọng nào cho mọi người trong gia đình anh. Nói với người gia đình anh ở Sài Gòn hay ở Phan Thiết là anh không trở về nữa.

Tình và Cang nhìn nhau. Nóng lòng muốn về gia đình, thương gia đình buồn lo vì không được tin tức gì của mình cả sáu tháng nay. Phần thấy tình hình coi bộ không được an toàn lắm cho những người lính thất trận, phần muốn theo cấp chỉ huy mình, biết đâu lại có thể tiếp tục chiến đấu, phần không muốn mình là kẻ bại trận như hình ảnh hai người đàn ông bị trói ké ngồi băng sau xe, sợ bị trả thù… Tình cương quyết:

– Em theo anh, sống chết có nhau.

Cang nghe vậy, mừng rỡ nói theo:

– Em cũng theo anh. Thầy trò mình nương tựa nhau tìm đường thoát thân. Em cũng muốn trốn đi tìm các anh em tàn quân khác.

Hải suy nghĩ trong giây lát rồi nhìn hai người đàn em, cảm động nói:

– Ừ, anh em mình nương tựa nhau, sống chết có nhau. Bây giờ mình đi ngược hướng xe hồi nãy, ráng tìm dấu vết các anh em tàn quân. Dọc đường gặp gì ăn nấy, ăn dè chừng thức ăn bà con cho theo.

Ba người len lỏi trong rừng, ngược hướng xuống chợ làng, men theo con đường đất vắng hoe. Thỉnh thoảng một vài người đạp chiếc xe đạp cộc cạch xuống hướng chợ. Trên xe là những bao than đầy nhóc, bao trên yên sau, bao hai bên hông xe, chỉ thấy thấp thoáng đầu người đạp xe. Ngoài ra thì yên lặng không một bóng người từ mấy con đường mòn hai bên đường, những con đường mòn dẫn tới một buôn một làng héo lánh nào đó. Ba người mang ba nỗi ưu tư khác hẳn nỗi ưu tư hồi sáng sớm. Bây giờ hoang mang thật sự, đi vô định, tìm một dấu vết càng lúc càng mơ hồ. Không ai nói với ai một lời. Mắt tìm kiếm, tai lắng nghe, mũi đánh hơi… như con thú đi tìm mồi và cũng như con thú yếu ớt lạc đàn, chạy tìm vô định. Một tiếng cành cây rung động vì con khỉ chuyển cành, một tiếng chim tung cánh vì sự xuất hiện của con người… tất cả đều được cả ba ghi nhận, suy nghiệm, hy vọng, thất vọng… Con đường đất càng lúc càng quang co, ngược hướng nam, vòng hướng tây, khi lên khi xuống. Chiều tháng chín xuống nhanh. Bóng tối đổ ụp bất ngờ, con đường đất duy nhất chưa dẫn đến một làng mạc nào bỗng mất hẳn trong tầm mắt.

Tối ngủ trong rừng, chờ. Không ai ngủ được ngay mặc dù đi bộ một đêm, một ngày, lội rừng băng suối, lên đèo xuống dốc. Hải ngồi dựa gốc cây trong đêm tối mịt mù nhìn dáng nằm co ro của Tình và Cang cách đó không xa lắm, Hải xúc động khi tưởng tượng đến lúc hai thằng đệ tử nằm ụp lên người mình buổi chiều tối bị toán Việt Cộng đuổi theo, ném lựu đạn ngay trước mặt. Vì mình mà tụi nó không về quê được. Cũng may là tụi nó không vợ không con, cô bồ của Tình vừa bỏ Tình lấy chồng.

Nghĩ đến đây, tim Hải thắt lại.

Kim ơi! Bây giờ em sống ra sao khi anh không về, không một tin tức của anh. Có phải em đang rút mình vào vỏ ốc nâu với những đốm trắng mỹ miều, căm lặng, nuốt dòng nước mắt chảy ngược chiều trong đêm tối một mình dưới lòng đại dương. Anh hy vọng những tin tức từ đơn vị đưa về báo là anh đã chết, chết mất xác. Đó là một cách quên dễ nhất, đau đớn nhất nhưng dễ được xếp cho nằm yên vào ngăn tủ ký ức nhất. Bởi anh hiểu em. Nếu không nắm được một chứng minh, một bằng chứng để gải thích cho sự không trở về của anh, em sẽ không chịu thua, em sẽ lục lọi, em sẽ không bằng lòng với bất cứ một giải thích, một lời khuyên răn của ai. Em sẽ không chịu tìm quên một cách dễ dàng. Cái cứng đầu như vỏ ốc cứng cỏi bao bọc bên trong một tâm hồn mềm yếu không xương, làm sao em chịu đựng được hở Kim?

Em tôi! Phải chi ngày xưa mình đừng gặp nhau, có thể em sẽ chịu ưng anh chàng học ở Chiến Tranh Chính Trị, làm dâu Đà lạt, thì bây giờ em đâu phải bơ vơ đi tìm anh trong bóng đêm mờ mịt vô vọng này. Nhưng Kim ơi! Một năm mười tám ngày, số lần gặp nhau chưa đếm đủ hết bàn tay em, còn thiếu ngón cái có cái sẹo nhỏ trên bàn tay trái của em. Những bức thư đầy ngập nhớ thương, tràn ngập giọng cười mình viết cho nhau không biết mỏi tay. Yêu nhau, không được gặp nhau thường như mình mong muốn nên tất cả yêu thương lo lắng cho nhau được trang trải trong những dòng chữ cứng thẳng của anh, những dòng chữ nghiêng nghiêng mềm mại của em. Cả những chọc ghẹo nhau, những hương hơi của nhau, những vuốt ve nhau cũng được em trao gởi anh qua những dòng chữ đã từng làm anh lịm người sung sướng vì được yêu.

Tình em thiệt ngộ nghĩnh, thiệt lạ lùng, len lỏi trong từng phần cơ thể anh. Có những đêm nhớ em quá, anh tưởng tượng được ôm em thiệt chặt, thiệt mạnh cho em tan biến trong anh, cho anh tan mất trong em. Em đâu biết là anh đã yêu em, đã biến em thành đàn bà trong những đêm sau khi được thư em. Hạnh phúc mình cho nhau, đậm quá, mặn nồng quá, cho anh, cho em. Làm sao mình có thể so sánh, đổi chác tình yêu này với một “phải chi” với một “có thể” nào được phải không em.

Trong túi áo anh vẫn còn bức thư cuối cùng em viết đứt đoạn, nũng nịu trách móc, bắt đền vì quá nhung nhớ, em trao anh dưới dàn hoa kim ngân thoang thoảng hương thơm ngòn ngọt cổng nhà em, trước khi anh trở lại Định Quán. Đến khi trở về trại, suy nghĩ nhiều lắm vì những cử chỉ hơi lạ nơi em đêm đó, anh mới hiểu tại sao những lần về phép đó em mau nước mắt, níu kéo thiết tha quá. Bấy giờ anh mới hiểu là em tôi không còn ngây thơ, chỉ biết vui với bạn bè trang lứa, với ca nhạc thơ văn. Yêu anh, làm người yêu của lính, em không còn vô tư nữa. Em đã biết sợ, sợ súng đạn, sợ những gì có thể sẽ xảy ra cho anh, bất cứ lúc nào. Em biết không, bài hát “Kỷ Vật Cho Em” đã làm bọn anh lặng người, những người có người yêu, có vợ. Em không kể cho anh nghe nỗi lo âu có phải vì em muốn anh được thảnh thơi tâm hồn, em không muốn anh buồn lo cho em. Còn anh, anh không kể cho em nghe nỗi hoang mang trước chiến trận đang đến hồi gay go vì anh không muốn làm vẩn đục sự trẻ trung yêu đời đã từng làm anh sung sướng mỗi lần nhớ đến em, làm anh trẻ lại.

Em là điểm tựa bình an cho tâm hồn người lính, nơi anh tìm về như muốn trốn tránh hiện thực đang đổ ập xuống thân phận mình, cố gắng hết sức mình để kéo sợi dây thắng bại dầu biết rằng phần dây bên mình chỉ là cọng chỉ mong manh, nhưng không thể bó tay. Em là bãi cỏ mềm êm cho anh được ngả lưng yên nghỉ. Cho nên anh chỉ muốn tận hưởng tất cả những ngọt mềm hương cỏ êm. Cho nên anh không muốn con bé Kim của anh trằn trọc thao thức, lo âu vì những tin từ chiến trận. Cho nên anh tránh né, anh không dám chia sẻ hết với em, đặt em đứng ngoài vòng.

Từ khi Phước Long thất thủ, bọn anh đã nhận thực rõ hơn và đoán chừng được cái hồi kết thúc của cuộc chiến này, đen tối lắm. Anh không tự quyết định được cho tương lai hai đứa mình như anh mong muốn. Lời Trí nói chỉ đúng một phần: “Có biết bao người lính có người yêu, lập gia đình, rồi cũng xong, số mệnh cả.” Đó là đúng theo Trí vì Trí cũng như nhiều thanh niên ở thành phố chưa từng chứng kiến cảnh đồng đội mới cười vui đó rồi chết đó, cảnh người vợ trẻ lăn khóc khi nhận xác chồng, cảnh người yêu câm nín bất động khi anh đến nhà báo tin bỏ xác của đồng đội… nhiều lắm. Cho nên anh dùng dằng dứt lòng không đi được, phải cắn răng mà quay lưng dứt khoát đi ra đường tìm xe trở lại nhà Trí. Anh biết sau lưng anh, con bé Kim dơ cánh tay phải lau nước mắt lăn trên gò má phải, dơ cánh tay trái lau nước mắt lăn trên gò má trái, nước mắt làm ướt nhèm gương mặt hồng rám nắng, làm sưng đôi mắt nâu trong sáng, làm đỏ cánh mũi hinh hỉnh xinh xinh.

Bức thư Cang và Tình đã giữ cho anh, nhàu nát, không đọc được một dòng cho trọn vẹn, nhưng anh thuộc lòng. Giữ bức thư mà không cần đọc vì anh chỉ muốn giữ một dấu tích của em, những dòng chữ nghiêng nghiêng, những dấu hất cao sau mỗi chữ. Anh sẽ giữ, giữ mãi, dầu cho thân anh không biết sẽ ra sao. Chẳng thà ngày đó anh chết đi. Em có một nấm mộ mà thăm viếng, đỡ nhọc tâm cho em, đỡ dằn vặt em tôi. Làm sao anh lại biểu Tình và Cang nhắn với em là anh không về nữa. Đến bao giờ anh mới quên em được, Kim ơi! Đến bao giờ anh mới gặp lại được em? “Anh trở về dang dở đời em….” Nhưng làm sao anh có thể quên em, không tìm lại em? Khi những giấc mơ của anh đầy ngập tiếng em cười trong thanh, mắt em cười long lanh và những ngón tay em mềm mại níu cánh tay anh. Và mùi thơm tươi mát từ mái tóc em mới gội, mùi chanh thơm đặc biệt của con bé Phan Thị Song Kim. Mùi chanh thơm đã kéo anh về với chính anh, Trần Ngọc Hải. Làm sao anh chôn vùi mối tình ngọt mật này được. Anh không muốn. Còn trở về Phan Thiết, trở về Sài Gòn… Kim ơi… tìm về em… anh có dám ao ước không… mịt mờ… đen tối… Anh trở về dang dở đời em. Còn nếu anh trở về, không là một tấm thẻ bài, không là một kỷ vật, không là một chiếc bình hoa, không là một chiếc xe lăn… Liệu Cộng Sản có cho anh được sống như con người của anh, con người Trần Ngọc Hải này không? Chắc chắn không. Anh biết con người Cộng Sản, liệu anh có thể sống được với họ không?

Hải thiếp dần trong giấc ngủ có giọng hát nửa nũng nịu nửa thiết tha… Sao tua năm cánh ối a nằm kề. Thương anh từ thủa mẹ về là về với cha. Sao tua chín cánh ối a nằm xa. Thương anh từ thủa người ra ối a người vào…

Sáng hôm sau, tiếng chim ríu rít, tiếng vượn hú, tiếng cành cây chuyển động đánh thức cả ba. Hải bàn:

– Mình đi lần ngược theo con đường đất đỏ này, sẽ tìm đến cái làng mà chiếc xe jeep chắc đã bắt được hai “tàn quân” hôm qua. Mình lẩn trốn trong rừng chung quanh, lần mò dò la.

– Không biết làng này hay làng tới.

– Thì mình cứ đi, cứ tìm, phải tìm ra cho được rồi tính sau. Nếu vô vọng quá thì anh phải tìm cách dò la tình hình trước khi tìm đường trở lại quê. Anh phải đọc một vài tờ báo. Chắc có nhiều thay đổi, anh tin sẽ gặp nhiều khó khăn cho riêng phần anh, là sĩ quan. Làm sao anh giải thích được thời gian sáu tháng sống trong rừng. Làm sao họ không nghi ngờ. Nhất là thời gian này có hoạt động của anh em “tàn quân” như hai cậu đã nghe tụi thanh niên nói chuyện hôm qua.

– Nếu lỡ tụi thanh niên khám phá ra chỗ mình núp thì làm sao đây?

– Anh không để cho họ bắt.

– Em cũng vậy.

– Em cũng vậy.

– Nếu chạy được thì chạy.

– Nhưng làm sao thày trò mình thoát cùng một lúc, làm sao lo cho nhau.

– Như thế này: Nếu bị tụi nó rượt thì bỏ gùi, chia nhau mỗi người chạy mỗi hướng để phân tán tụi nó. Ai thoát được thì đừng trở về chỗ cũ vì tụi nó sẽ núp phục mình ở đó. Tìm một con suối lớn, đi ngược dòng suối, chờ cơ hội để gặp “tàn quân” và tìm kiếm nhau. Nhớ là tụi nó cũng nghĩ như mình.

Con sông, dòng suối là nơi kéo người, kéo thú tìm đến. Bao giờ cũng phải tìm cách đi ngược suối nhưng giữ khoảng cách, đừng đi gần suối, gần sông.

– Hay là mình hẹn nhau ở ngọn đồi kia nếu bị phân tán.

– Ừ, được đó.

– Mình leo lên ngọn cây tìm kiếm nhau.

– Ráng mà tìm kiếm nhau. Rừng rú, một thân một mình, nguy hiểm gấp bội. Ráng tìm kiếm nhau.

– Còn nếu bị bắt thì khai làm sao đây anh?

– Cứ khai như sự thật. Họ có thể làm khó làm dễ cho cả một bản làng nhưng chưa chắc họ tìm ra được buôn này. Ngay cả mình đây, bây giờ biểu mình tìm đường trở về buôn làng, chưa chắc mình tìm được

– Có nên khai anh là trung úy không?

– Không được mày. Hay là mình khai anh là thằng Năm Sún đi mày. Lê Văn Năm nghen mạy. Nó chết, nó mới là hạ sĩ, không ai để ý tới. Được không anh Hai?

– Ừ, tính vậy cũng được. Quan trọng nhất là nếu một trong ba người, nếu ai thoát được là phải tìm mọi cách báo cho gia đình người khác. Có sao kể vậy. Ráng thuộc lòng địa chỉ của nhau. Chỉ ráng thuộc lòng thôi.

– Tụi em sẽ liên lạc hoặc là địa chỉ ở Sài Gòn hoặc là địa chỉ ở Phan Thiết cho anh phải không? Mà anh Hai này, địa chỉ ở Sài Gòn là ai vậy? Anh người Phan Thiết mà.

– Kim, người yêu của anh, vợ chưa cưới của anh.

– Bữa nào rảnh, anh Hai kể chuyện tình của anh Hai cho tụi em nghe.

– Thú thiệt với anh Hai. Tụi em có đọc lén cái thư của chị Kim mà tụi em còn giữ cho anh đó.

– Chỉ viết thư nửa vui nửa buồn. Em đọc em còn cảm động bồi hồi nữa là anh.

– Chỉ viết thư hay như vậy hèn gì anh mê là phải.

– Coi bộ chỉ thương anh quá sức.

– Sao em chưa thấy chỉ lên trại thăm anh lần nào hết vậy?

Hải im lặng, không trả lời, xoay người lục tìm cái gì đó trong cái gùi như để trách trả lời, như để nuốt ngược cục nghẹn… tìm cái quần duy nhất. Anh nói, giọng không được vui:

– Hai chú thay quần. Mình không cần giả làm người thượng nữa. Bận quần, có gì dễ chạy, dễ leo hơn. Cột cái xà rong ngang bụng, có mà đắp qua đêm.

– Đeo con dao vô bụng luôn đi anh Hai.

– Ờ. Nhớ như thế này: Hướng Đông hướng Nam là đi về sông La Ngà, Đồng Nai. Hướng Bắc có thể đi về Lâm Đồng, Sông Bé, Đắc Lắc. Còn hướng Tây thì về Sông Bé, qua Campuchia. Theo anh nghĩ, nếu Việt Cộng đã thu chiếm miền Nam thì Lào và Campuchia không thoát khỏi tay chúng đâu. Việt Cộng đã dùng Lào, một phần Campuchia để mở con đường mòn Hồ Chí Minh từ hơn mười năm nay. Nếu hai em biết mình đang lạc trên hai nước này thì cũng phải rất cẩn thận. Cộng Sản ở đâu cũng một bè như nhau. Làm người nông dân, người thợ thì dễ nằm ngoài sự tò mò của chính quyền.

Đi được độ hai tiếng đồng hồ, tiếng xe jeep vang gập ghềnh từ xa vọng lại, lúc rõ lúc mất. Cả ba không bảo nhau, vội nhảy tìm chỗ núp, chờ động tịnh. Cũng chiếc xe jeep hôm qua, cũng là bốn người thanh niên trẻ, mỗi người một khẩu súng. Hôm nay gương mặt cả bốn cậu coi có vẻ trầm trọng hơn. Hai cậu ngồi phía sau, ngồi trên thành ghế, cậu ngồi phía trước dường như là chỉ huy, mỗi người một khẩu súng chĩa hai bên đường, mắt láo liên, và chắc lên đây để tìm thêm tàn quân vì có lẽ hôm qua chưa bắt được hết. Xe chạy mất sâu theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo quanh đồi núi rậm rạp đầy hiểm trở nhưng cũng ẩn chứa niềm hy vọng tìm được anh em “tàn quân”.

Hải bảo:

– Mình ngồi đây chờ, nếu chuyến trở về của tụi nó có thêm một vài anh em “tàn quân” thì chắc chắn sau con đồi này, hay xa hơn nữa, có thể là nơi ẩn náu của anh em “tàn quân” mình.

– Mình lợi dụng thời gian chờ đợi này, coi kiếm thêm cái gì ăn dậm, cái gì uống.

– Mày, lúc nào cũng nghĩ tới ăn với uống.

– Tình nói đúng đó, mình phải lo cho cái bụng mới đủ sức chịu đựng. Nên nhớ là mình không biết sẽ phải đi bao lâu nữa.

Chừng nắng khá cao, tìm được ít trái cây, cả ba trở lại chỗ núp ban nãy, chờ. Chờ cho đến khi nắng đứng bóng. Chờ đến xế chiều. Tiếng xe văng vẳng từ xa, tiếng cười đùa nghe rõ dần. Nhưng chỉ bốn người thanh niên như lúc lên, không một “tàn quân” nào ngồi phía sau.

Đường hố đây đó, đường ngoằn ngoèo vừa đủ cho một chiếc xe nên xe không chạy nhanh được như bốn anh thanh niên muốn. Ngay lúc chiếc xe jeep vừa chạy ngang chỗ ba người đang núp, một con heo rừng vụt băng qua đường, ngang bụi cây Hải đang núp nhưng Hải không dám chụp bắt, sợ gây tiếng động.

Hai cậu thanh niên ngồi phía sau nhanh mắt, thấy con heo, đập thùng xe rầm rầm làm náo động cả khu rừng. Chiếc xe thắng kít, cậu tài xế chửi thề:

– ĐM! Gì vậy con?

– Heo rừng.

– ĐM! Mày đập xe ầm ầm nó chạy mất tiêu rồi còn đâu mà heo với thỏ.

– Ngu bỏ mẹ, không đập xe thì làm sao con biết con ngừng, con! Chạy theo bắn, nó không thoát xa lắm đâu.

– Mẹ! Được con heo này ngon hà nghen. Chừng đó đừng xin nghen con. Ông nướng ăn cho đã thèm mấy tháng nay không có được chút mỡ, chút thịt.

– ĐM! Lẹ đi chớ.

Bốn cậu thanh niên nhảy phóc xuống xe, chạy ngược con đường. Hải nhìn Cang và Tình, ra dấu bỏ cái gùi ở lại, gật đầu chỉ hướng chạy cho hai đệ tử đang núp ở phía sau tảng đá cách mình vài mét, chỉ hướng chạy của mình. Ba người vùng chạy theo ba hướng để phân tán lực lượng, ai thoát được người đó nhờ.

– Tàn quân, tàn quân.

Cậu thanh niên la to, cả bốn lên còi súng răng rắc, chia làm ba hướng đuổi theo. Hải nhảy từ bụi rậm này qua bụi rậm khác, súng nổ chát chúa sau lưng. Cả khu rừng náo động. Chim vỗ cánh bay xa, khỉ kêu khẹc khẹc hoảng hốt nhảy chuyền lên cao, thỏ chồn chui sâu vô bụi rậm…

Hải chạy vô hướng, rừng dầy đặc, càng lúc càng xa đường lộ chính, nhảy, chạy, đu cành cây phóng qua hố sâu… Tiếng chưởi thề lẫn với la hét văng vẳng phía sau lưng. Đến một bờ đá cao, phía dưới sâu thăm thẳm, không ngần ngại, Hải lăn người xuống triền dốc. Tối tăm mặt mũi. Lăn. Tiếng súng chát chúa, xẹt qua cánh tay trái. Hải cắn răng, tay phải chụp vết thương chận máu, tiếp tục lăn nhào xuống. Im bặt. Chạy được một quãng xa nữa, nhắm chừng thoát mạng, Hải tìm một hốc đá trốn. Xé tay áo, bịt vết thương không sâu mấy. Ngồi dựa lưng vô tảng đá, lắng nghe động tĩnh. Khu rừng im như không có gì xảy ra, thờ ơ vô tình với số mạng của ba người trong cuộc trốn chạy.

Hải chờ chừng một tiếng đồng hồ, nhắm chừng tụi thanh niên đã bỏ cuộc. Hải quyết định. Lắng tìm nghe tiếng suối đâu đó, định sẽ đi kiếm Tình và Cang ngay, sợ trời sụp tối bất ngờ. Không thể chờ đến ngày mai. Không bắt được trọn ổ ba người, thế nào tụi thanh niên băng đỏ cũng trở lại sáng sớm ngày sau để tìm kiếm. Hải lo lắng, không biết hai đệ tử mình có thoát không. Nghe tiếng súng ráo riết hướng bên Tình và Cang chạy, hình như chỉ có một người đuổi theo Hải. Hải leo ngược triền hố. Bàn tay rớm máu bám theo triền đá mà leo, máu từ cánh tay đã thấm qua lớp vải băng chận, bụng đói, chân rã rời, Hải cố leo nhanh, chạy đua với thời gian. Leo lên được, Hải đứng nhận hướng, chịu thua. Hồi nãy chạy vô định, bây giờ trở lại vô hướng.

Nhưng Hải cứ đi, đi. Mệt, đói, khát… không làm Hải chậm bước. Không biết mình đang ở đâu, lắng nghe từng tiếng động, không dám kêu hú, sợ tụi thanh niên chưa đi xa. Cứ đi, cứ nghe ngóng, tìm kiếm.

Đã mười ngày tìm kiếm vô định. Lúc thì leo lên ngọn cây để quan sát, lúc thì nằm sát mặt đất lắng nghe tiếng chân di chuyển. Bốn ngày lẩn quẩn ở lại ngọn đồi hẹn để tìm kiếm cũng vô vọng. Hải quyết định hướng tây bắc mà đi, tìm đồng đội đang lẫn trốn, tìm hướng thoát nếu cần rời khỏi Việt Nam. Núi rừng cao nguyên trù phú, cây rừng trái núi đủ sức nuôi người qua ngày, hang núi lưng đá đủ làm nơi trú mưa ngủ tạm cho kẻ lang thang mất hướng đêm đi ngày đi. Nhưng khí hậu Tây Nguyên chớm đông khắc nghiệt, sương mù dăng dăng buổi sáng, sương đêm ẩm ướt buổi tối. Cái lạnh thấu từng tế bào, đong cứng từng mạch máu nhỏ, làm giấc ngủ kẻ lạc loài co rúm thảm thương.

Chương mười lăm

Tháng hai, một chín tám mươi

Mặc dù nằm ở châu Á, Singapore lại là môt thành phố nổi tiếng sạch sẽ nhất thế giới. Với những luật lệ phạt rất gắt gao như nếu ai bỏ tàn thuốc, bỏ rác ngoài đường sẽ bị phạt một trăm dollar Mỹ, luật giao thông nghiêm ngặt, những con đường rộng đầy bóng mát, làm du khách cảm thấy thoải mái trong cái khí hậu gay gắt miền nhiệt đới. Là một quốc gia và cũng chỉ là một thành phố, Singapore không có làng mạc cổ xưa, không có những nông trại ngút ngàn, đâu đâu cũng chỉ thấy phố xá. Khu trung tâm này nối tiếp khu trung tâm kia bằng những đường lộ một chiều ngập bóng mát chỉ có tiếng động cơ xe buýt, xe hơi, thỉnh thoảng một vài xe gắn máy mà cả người lái và người ngồi phía sau đều đội nón bảo vệ đầu; một cảnh tượng lạ mắt đối với người Việt Nam.

Singapore không có cái nóng bức pha với bụi bậm làm người nhơn nhớt, với cái ồn ào náo nhiệt trong giao thông, với cảnh phố chợ đông đảo mà du khách thường chờ đợi ở những thành phố châu Á như Bangkok, Sài Gòn…, Singapore đã tạo một ấn tượng thật thong thả cho người du khách.

Tàu dầu Vanessa cập cảng Singapore để đưa mười tám thanh niên đến tạm trú tại một trại tị nạn trước khi chính phủ Na Uy thu xếp nơi ăn chốn ở và thu nhận về nước họ. Trên đường được chuyển từ bến cảng, xe buýt chạy dọc xa lộ, xuyên trung tâm để đến trại tị nạn nằm ở khu ngoại ô Number One, Kim ngạc nhiên tròn mắt nhìn con đường xa lộ rộng đủ cho bốn chiếc xe hơi mỗi chiều. Hai bên đường được phủ mát bởi hai hàng cây phượng dầy đặc. Bây giờ là đầu tháng tư, hai hàng phượng xanh mướt màu lá mới khoe sắc như những tàn dù to lớn màu xanh lá cây tươi mát.

Kim thầm nghĩ: Ôi! Hãy tưởng tượng con đường này vào mùa hè, hoa phượng đỏ rực trên hai hàng cây dọc con đường rộng thênh thang, dài ngun ngút này, tuyệt vời! Không biết người Singapore có nối liền màu phượng đỏ với mùa thi cử, mùa nghỉ hè, mùa nhớ thày cô, nhớ bạn không nhỉ? Chưa chắc, vì ở Việt Nam mình, cây phượng được trồng ở sân trường, làm mát sân trường và hoa phượng đỏ nổ rộ mỗi mùa đã tạo một sự liên kết mặn mà của mùa hè và phượng đỏ.

Biết bao câu hỏi nẩy nở trong đầu Kim trong suốt đoạn đường một giờ xe buýt này. Tại sao Singapore chưa bao giờ có chiến tranh khi cả hai chủng tộc, người di dân Trung Hoa và người di dân Mã Lai cùng sống trên thành phố nhỏ bé này? Làm sao dung hòa được hai nền tôn giáo Khổng giáo và Hồi giáo mà không có sự tranh chấp? Tất cả các bản hướng dẫn treo cao lơ lửng trên đường, bảng hiệu treo trước các cửa tiệm, thương xá, những dòng chữ trên taxi… đều bằng tiếng Anh. Như thế có phải là một cách giải quyết nếu có ai đó đặt ra câu hỏi về ngôn ngữ chung cho một quốc gia? Hay đó là một bước tiến thật dài của một nước đặt nền phát triển dân tộc lên trên những tham vọng quyền lực ích kỷ của con người, của đảng phái, của tôn giáo? Người Singapore có biết là họ may mắn được sống trong một xã hội thật bình an?

Để rồi Kim tự vấn với riêng mình. Sài Gòn đã không còn chiến tranh nhưng Sài Gòn không mang nổi bộ mặt bình an tươi sắc của một Hòn Ngọc Viễn Đông. Cảnh xô đuổi kẻ buôn người bán ngoài đường, gương mặt người dân mang đầy nỗi lo âu, dáo dác, đường xá đầy rác rưởi, xe đạp, xe honda cũ, xích lô… Tất cả tạo nên một bức tranh vừa hỗn độn lại vừa buồn thảm của một xã hội đang thanh bình. Chữ thanh bình nghe thật mỉa mai! Chữ thanh bình vắng chữ bình an! Chưa trọn vẹn! Phải nói là Sài Gòn không còn chiến tranh nhưng thiếu sự bình an. Biết bao giờ người dân Sài Gòn mới có được nét thư thái trong cảnh sống bận rộn như người Singapore?

Sau năm năm bị kềm kẹp, nay được tiếp xúc với xã hội văn minh, những người tị nạn đón nhận nhịp sống thành phố Singapore như kẻ khát đang đi trong sa mạc gặp một ao nước trong xanh mà lại có cả bóng cây mát nghỉ ngơi. Nhất là đối với người dân Sài Gòn, trưởng thành trong một xã hội đã được tiếp xúc tự do với thế giới bên ngoài, trưởng thành với phố phường nhộn nhịp, với nhịp sống văn minh, bỗng nhiên bị đóng kín mít, bị cô lập hoàn toàn với tất cả.

Cái tên Sài Gòn bị thay thế một cách tức tưởi theo cơn xốc đầu tháng năm. Cái tên hịch hỡm mới mẻ này đổ ập xuống tâm hồn người dân Sài Gòn, là cơn lốc thổi bung gốc giới trẻ Sài Gòn mà chính Kim là một điển hình. Mất hết, người yêu, bạn hữu, lòng tin giữa người và người, nhịp sống an lành trong gia đình. Mọi sinh hoạt gắn liền nền văn minh như nhạc, ciné, sách báo, thời trang… mất hết, thay đổi hết. Phản ứng trả thù của người dân miền Nam là những diễu cợt cho cái ngu ngơ muốn học làm người “văn minh” của bộ đội, những chuyện vui bộ đội. Cách che lấp sự bất mãn là thái độ khinh khi cán bộ miền Bắc vào Nam thu dọn của cải, cười thầm con cháu cán bộ Bắc được đưa vào Nam công tác đang cố nuốt không kịp nhai lối sống người dân miền Nam nhưng ngoài miệng thì chửi rủa sự đồi trụy cho cái nền văn minh lai căng miền Nam. Để rồi những người Sài Gòn nhìn nhau thở dài ngao ngáo với dấu hỏi: “Bao giờ họ mới thành người Sài Gòn trong khi Sài Gòn đang đi ngược chiều với tầm phát triển các thành phố châu Á khác?”

Buổi chiều đầu tiên, ban điều hành trại tị nạn tổ chức họp tất cả trại viên để đón mừng mười tám trại viên mới. Kim cắn chặt môi để tiếng khóc ưng ức đừng thoát ra cổ họng khi Kim thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ treo sừng sững làm phông bàn thờ tổ quốc và tiếng bài quốc ca Này công dân ơi… vang đều từ những gương mặt nghiêm trang thành kính. Tưởng đã quên, tưởng sẽ bắt đầu một trang đời mới. Nhưng không, thời gian không xóa được những tàn tích đã ra rễ, đã ăn sâu vào lòng mỗi đời người.

Năm năm không hề thấy bóng dáng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không hề nghe âm điệu bài quốc ca, nay bỗng nhiên tất cả hiện ra trước mặt, cùng một lúc, làm tâm hồn Kim xao động dữ dội. Kim không lường trước rằng màu cờ và lời ca lại có thể đánh mạnh vào tâm hồn tưởng đã già dặn chai đá sau những năm bương chải buôn bán. Kim phải thú nhận với chính mình là mầu cờ đó, bài quốc ca này không bao giờ hiện về trong tâm thức mình đã gần năm năm nay, dầu chỉ thoáng qua. Vậy mà bây giờ!

Những lần có dịp đi xe buýt vào trung tâm thành phố Singapore, Kim cố nuốt hết những hình ảnh bình an của thành phố Singapore được biểu hiện qua nét mặt người dân, cách ăn mặc lịch sự, cử chỉ hòa nhã… Và rồi mang về trại tị nạn nỗi lòng của kẻ nghèo nàn thiếu văn minh, cái nghèo nàn những món ăn tinh thần mà người dân Sài Gòn dần dần quên đi vì không ai có thì giờ quan tâm đến sự thiếu thốn đó, vì bị cấm đoán. Sự cấm đoán đang được mọi người chấp nhận như một lẽ đương nhiên bởi mọi người đã quên dần những tự do mình đã được hưởng trong quá khứ, bởi mọi người không có cơ hội để nhận ra những thiếu thốn tinh thần đó. Mọi người tự uốn mình mà sống theo những cấm đoán, theo những bắt buộc. Mọi người cúi đầu, bịt mắt, che tai, làm lơ để được sống còn. Không còn ai quan tâm đến những nhu cầu tinh thần đó.

Ba tháng ở trại tị nạn Singapore, tương đối thoải mái. Chỗ ở rộng rãi, thức ăn đầy đủ. Mỗi tuần được phát tiền chợ để tự mua sắm, dư dả để tối tối nấu chè tập họp đàn hát, tập họp kể nhau nghe, chọc nhau về những ngày lênh đênh trên biển, đêm nào cũng kể, không chán, không hết. Mười bảy thanh niên, đất trời dun dủi, cùng ra đi trên một chuyến tàu, cùng chia sẻ nhau nỗi vui mừng khi được cung cấp thêm lương thực, cùng chia sẻ nhau nỗi niềm thất vọng không tàu nào chịu vớt, cùng chia nhau cái bỡ ngỡ trong những bộ quần áo thùng thình nhăn mặt chun mũi tập làm quen với thức ăn tây trên tàu Vanessa; trở nên thân nhau, thương nhau như anh chị em.

Anh chàng Hanh tự động tìm thân với những nhóm tàu khác. Thái độ khinh khi nhóm tàu mười bảy người quê mùa này đôi lúc làm ngứa mắt một số anh em vốn mang dòng máu “ba-đề-suy” của Phan Thiết nổi tiếng cộc cằn nhưng thật thà. Hanh lánh mặt, kết tình với một cô sẽ được đi Úc. Phải công nhận tài xoay trở của anh chàng Hanh, thế là sau hai tháng ở trại tị nạn, anh được Cao Ủy Úc chấp thuận đơn. Phần thưởng cho người biết bon chen đúng thời!?

Vì đây là trại tị nạn dành cho những thuyền nhân đã biết nơi định cư của mình trong tương lai nên không khí sinh hoạt thân mật an bình. Vợ chồng Tâm-Hạnh, Phương gởi tiền cho ba chị em Kim tiêu dùng thêm. Có tiền, ba chị em thỉnh thoảng đi dạo phố mua sắm nên ba tháng trôi qua thật nhanh, vừa đủ dưỡng sức, lấy lại tinh thần sau thời gian tìm đường vượt biên gay go, chuẩn bị sáu tháng chưa trải qua đã thấy đăng đẳng ở trại tị nạn Bataan, Philipine.

Sau hai tháng, ba người đàn bà Na Uy theo chồng làm việc ở Singapore, tìm đến trại tị nạn khi nghe tin sẽ có một nhóm người sẽ định cư ở Na Uy. Lần đầu tiên tiếp xúc với người Tây phương, sự nhã nhặn hòa đồng của những người đàn bà này làm Kim như nhìn được phần nào cuộc sống bình an thanh thản của xã hội mình sẽ đến, sẽ sống chung.

Thế là khóa học tiếng Na Uy được thành hình nhanh chóng trong sự đón nhận nhiệt thành của nhóm người sẽ đi định cư ở Na Uy với trình độ học vấn kéo dài từ lớp bốn đến cao đẳng, đại học. Bỗng chốc, bao nhiêu vốn liếng tiếng Anh khiêm nhường đã từng được Kim cố tu bổ cả tháng bay đâu mất. Trong đầu Kim những câu cú Na Uy chiếm cứ nhanh chóng. Đến nỗi khi giao thiệp với hàng quán, Kim nói lẫn lộn tiếng Na Uy với tiếng Anh, Loan phải thúc hông Kim hoài để nhắc nhở.

Hai chị em gái ngấu nghiến, ngắm nghía không chán hình ảnh trên mấy tờ tuần báo Hjemmet, Alders… được các cô giáo mang cho trong lớp học tiếng Na Uy. Hình vua Olav, thái tử Harald, công chúa Sonja… quỳ thấp người nhận hoa từ một em bé, cười hòa đồng với những người tàn tật, bắt tay thân thiện với bà lão gương mặt nhăn nhún cười… tạo cảm giác bình an yên ổn. Những hình ảnh đầy nhân bản lâu lắm rồi không bao giờ còn tìm thấy trên báo chí ở quê hương mình.

Tình thân của những người đàn bà Na Uy và nhóm Kim đến nhanh chóng qua vài lần thăm viếng hoặc tại tư gia hoặc ở nhà thờ hàng hải. Và món bánh tổ ong cổ truyền của Na Uy được chị em Kim thưởng thức với tất cả những háo hức của người muốn học hỏi, muốn hoà nhập nhanh chóng.

Vì ngành hàng hải Na Uy phát triển rất mạnh trên tầm vóc quốc tế với hàng ngàn chiếc tàu chuyên chở dầu khí, hàng hóa hoạt động trên bốn bể, nên mỗi một thành phố lớn trên thế giới đều có một nhà thờ Cơ Đốc Na Uy nho nhỏ. Nơi những người thủy thủ xa nhà tìm về, nơi những nhân viên Na Uy làm việc ở xứ người tìm đến, tìm niềm vui quê hương qua những món ăn cổ truyền Na Uy, lễ lộc, họp mặt, chuyện trò…

Một buổi trưa, sau khóa học, cô giáo Britt đưa hai chị em Kim và Loan về nhà chơi, hai người con gái duy nhất trong nhóm được nhiều thương mến dìu dắt của những người đàn bà rảnh rỗi theo chồng làm việc ở nước ngoài. Những gia đình Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, có chồng làm việc ở Singapore sống hầu như quanh quẩn nhau ở một khu không xa trung tâm chính mấy. Những căn nhà xinh xắn nằm khuất sau bờ tường được điểm trang bằng hàng bông giấy tím thẫm, hàng cây cau kiểng với những buồng cau đỏ đậm treo lơ lững kiêu sa.

Trong khu vườn sau nhà, đang ngồi ngắm mấy cây hồng bông trắng nuốt cố nở khoe hết cái nhan sắc kiểu diễm của cô gái ở cái tuổi xuân tươi nhất của đời mình, bàn tay nhỏ mềm của cậu bé Steven mới sáu tuổi, đặt vào tay Kim. Nhìn xuống, mấy tờ giấy bạc trong tay, không nhìn ánh mắt cậu bé, Kim đơ người, không kịp nghĩ suy, Kim lắc đầu đưa trả cậu bé. Cử chỉ lạnh lùng, lạnh nhạt trả lại thay vì lời cám ơn làm cậu bé tủi thân ôm chân mẹ, khóc thút thít. Không quan tâm đến phản ứng bỡ ngỡ của Steven, không quan tâm đến cử chỉ vô tâm của mình, người Kim lún sâu trong lớp đệm màu xanh lá cây trên cái ghế mây rộng, cắn răng cố ghìm những giọt nước mắt đang tìm đường vỡ tung, mắt Kim nhìn đâu đâu, vô định. Không khí bỗng dưng nặng xuống. Người ta nhìn mình thế này sao? Câu hỏi quanh quẩn trong đầu Kim.

Như để phá tan sự im lặng nặng nề, cô Britt đưa hai chị em đến thăm nhà một người bạn gần đó. Ánh mắt những người đàn bà trong bộ bikini hở hang, người nằm, người ngồi rảnh rỗi trên những chiếc ghế mây quanh hồ bơi, nhìn Kim và Loan hờ hững thờ thẫn như nhìn những làn khói thuốc mờ đục thổi phà ra từ những đôi môi son đỏ, tiếp tục câu chuyện đang dở dang. Những ánh mắt hững hờ đó làm ngực Kim nghẹn cứng, nhận ra dần chỗ đứng của mình trong thế giới mới này.

Như để trả thù, nhìn cảnh nhàn hạ của những người đàn bà Tây phương, Kim lôi tìm trong ký ức những hình ảnh trái ngược trong những cuộc đời bận bịu vai nặng gánh gia đình của người đàn bà trong họ hàng mình, những người đàn bà Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ kia. So sánh, để rồi một dấu hỏi to tướng về vai trò của người nữ, sự lệ thuộc vào người đàn ông trong gia đình giữa hai xã hội đậm dần trong đầu Kim. Thử hỏi nếu chồng những người đàn bà này một ngày nào đó mất việc, gặp tai nạn, họ có thể tự xoay trở, họ có làm thân cò lặn lội bờ sông, một mình đương đầu với tai ương đổ ập xuống gia đình họ như những người đàn bà Việt Nam, trong thời chiến và ngay cả trong thời bình ngày nay? Thử hỏi nếu chồng họ bị ở tù không bản án, nhục nhằn khổ sở, không biết ngày về, thì họ có đủ nghị lực gánh vác lèo lái gia đình? Và ai là người có sức chịu đựng dẻo dai trong mọi tình huống? Kim mỉm cười, lấy lại niềm tự tin.

***

Chiếc xe đò được trang điểm bằng những hình ảnh lạ mắt mang màu sắc sặc sỡ, từ thủ đô Manila, qua những thành phố bụi bậm, những làng quê thưa thớt, dầu không giống Việt Nam lắm nhưng cũng không hoàn toàn cách xa phong thế sống với Việt Nam như Singapore, đưa mười bảy thanh niên đến làng tị nạn Bataan, sau mười giờ vật lộn trong cát bụi. Chung quanh khu tị nạn là núi rừng bao bọc, chỉ có một con đường đất duy nhất để tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua một làng quê không xa biển lắm.

Sáu tháng ở trại tị nạn Bataan là khoảng thời gian nặng nề cho tất cả mọi người, đếm từng ngày trôi qua trong cái không khí nóng bưng bưng, trong cảnh sống thiếu thốn tù túng xa cách làng xóm. Nơi đây, mỗi một khu nhà có một phòng vệ sinh công cộng đơn sơ gồm dãy phòng tắm và dãy cầu tiêu. Hệ thống cầu hầm không có lối thoát và cảnh sống bừa bãi thiếu vệ sinh làm nỗi chờ đợi được thoát khỏi trại, được đi định cư ở một nước thứ ba, ngày càng nung nóng. Mỗi ngày trôi qua là một tiếng thở nhẹ người được thoát ra. Ngày ngày nhận thức ăn tươi gồm rau, hôm thì cá, hôm thì thịt gà… vừa đủ cho mỗi người gắp một miếng trong tô canh lỏng bỏng mang chút đậm mùi nhờ muỗng bột ngọt.

Vợ chồng chị Hạnh và chị Phương đang định cư tại Boston, thỉnh thoảng gởi tiền cho ba em dùng thêm, mua thức ăn sáng, nấu nồi chè cho cả nhóm những tối tụ họp nhắc lại chuyện xưa, cũng chỉ là chuyện vượt biên, từ khi ý tưởng thành hình cho đến khi đặt chân lên trại tị nạn ở Singapore, kể hoài, cười hoài không chán. Ba chị em quyết định không xin đi định cư ở Mỹ vì nhiều người khuyên là đừng nên xin đi Mỹ bây giờ, phải chờ mấy năm ở đảo. Chờ qua đến Na Uy rồi xin qua Mỹ sau cũng không muộn. Nếu được tàu Na Uy vớt thì đi định cư ở Na Uy sẽ được nhiều ưu tiên, thời gian chờ lâu lắm là sáu tháng.

Nếp sống xô bồ, thiếu vệ sinh, thiếu thốn làm ba chị em sợ không dám chờ đợi lâu hơn thời gian chính phủ Na Uy đã hứa. Và vì Loan đang yêu Thái, anh chàng người gốc Bình Tuy, đi cùng chuyến tàu, Thái không có điều kiện xin đi Mỹ. Ba chị em hứa với ba má sẽ đùm bọc nhau, Kim không thể để Loan đi định cư ở Na Uy một mình.

Căn nhà của ba chị em Kim có thêm Thái và Minh mới đủ tiêu chuẩn một gia đình. Ba cậu thanh niên ngủ trên gác, Kim và Loan ngủ bộ phên tre phía dưới. Không dám đi cầu tiêu công cộng dơ bẩn, Kim và Loan mua một cái bô lớn, mỗi lần muốn đi tiểu hay đi cầu là phải đóng cửa trước, hô to: “Đừng leo xuống!” Thế là ba chàng thanh niên trên gác biết ý.

Số quần áo được phát ở trại tị nạn Singapore được trưng dụng tối đa. Tháo xé, chấp nối bằng những cây kim, tạo thành tấm màn chia phòng khách và giường ngủ của hai cô gái, màn cửa sổ hồng xanh mỏng bay trong cơn gió trưa. Thày cô Na Uy khen đây là căn nhà duy nhất ở trại có màn cửa, ấm cúng. Cả năm người sống như năm chị em trong gia đình, mỗi người một công chuyện. Và cách phân chia vẫn theo lề lối cũ ngàn đời: Con gái nấu ăn, rửa chén, con trai xách nước, quần áo mạnh ai nấy giặt. Kim là chị lớn được xem như gia trưởng.

Với vốn liếng Anh văn dăm ba câu nhưng có trình độ văn hóa nên Kim và Loan tiếp thu tiếng Na Uy nhanh trong thời gian ở Singapore. Hai tuần sau là nhóm thày cô Na Uy đã chọn Kim, Thái và Loan làm trợ giáo cho các lớp học Na Uy. Gọi là trợ giáo nhưng thật ra là khi thày cô giáo giảng bài, những người trợ giáo hiểu nhanh câu cú, văn phạm, rồi giải thích lại cho cả lớp. Cũng nhờ đó mà các thầy cô giáo Na Uy có cảm tình, thỉnh thoảng mời cả nhà Kim ra phố quận xem chợ búa, đi tắm biển… Cuộc sống tù túng thiếu thốn được an ủi phần nào.

Trại tị nạn Bataan được chia làm ba khu riêng biệt. Xa nhất là khu vực dành cho người tị nạn Campuchia với cách lối sinh hoạt cho riêng mình, rất ít giao thiệp với những người Việt. Kế đó là khu vực dành cho những người tị nạn Việt Nam được chuyển từ các trại tị nạn Galang, Palawan, Pulau Bidong… trong khi chờ đợi được Mỹ cứu xét và thời gian chờ đợi không ấn định, một năm, hai năm, không chừng. Và cũng vì sự chờ đợi ngày định cư vô định không dựa vào một luật lệ rõ ràng nào khiến cho người tị nạn sống trong tâm trạng con ghẻ, bất an, xô bồ.

Gần văn phòng điều hành trại tị nạn là khu vực dành cho thuyền nhân sẽ đi định cư ở Đức nằm kế khu vực dành cho những thuyền nhân sẽ đi Na Uy. Hai khu vực này được tách rời hẳn khu vực dành cho những thuyền nhân sẽ đi định cư ở Mỹ bằng ngôi chợ do người bản xứ, do chính những người của trại tị nạn buôn bán.

Hai nước, Na Uy và Đức gởi viên, thầy cô giáo sang trại tị nạn để dạy ngôn ngữ và chuẩn bị một số kiến thức căn bản cho những thuyền nhân trước khi được định cư và thời gian chờ đợi là sáu tháng. Điều kiện sống ở hai khu vực này tương đối dễ thở hơn khu “Mỹ” vì được sự trợ giúp trực tiếp từ Đức và Na Uy. Không hiểu vì tình láng giềng hiện tại và trong tương lai hay vì cùng một tư tưởng là mình may mắn hơn những thuyền nhân ở khu “Mỹ”, các thuyền nhân này thân thiện với nhau một cách dễ dàng, thường có những sinh hoạt cộng đồng chung.

Đạo, một thanh niên khoảng ba mươi tuổi, sinh viên trường Luật ngày xưa, thất chí khi Sài Gòn mất, cũng bung ra kiếm đường làm ăn như rất nhiều thanh niên thời bấy giờ. Đạo giúp việc cho văn phòng điều hành trại và quen Kim trong một buổi khiêu vũ bỏ túi cũng do nhóm thanh niên hai khu vực Đức và Na Uy tổ chức. Đạo theo đuổi Kim, theo đuổi một cách hấp tấp, như sợ thời gian qua nhanh, sợ tuổi đời qua mau, theo đuổi như để có một mối tình làm liều thuốc xoa dịu ngày tháng đợi chờ nung nức, theo đuổi như một trò chơi mua vui qua ngày. Kim không thể nào có được chút cảm tình. Kim tìm cách lẩn tránh, từ chối. Kim ngạc nhiên với chính mình. Ngày xưa dễ gì Kim nhỏ nhẹ dịu dàng với mấy tên theo Kim một cách ồn ào. Miệng mồm Kim có tên nào đối đáp nổi đâu. Thế mà bây giờ Kim ngại, Kim sợ…

Chạm trán với nhiều biến chuyển trong đời sống từ ngày hụt hẫng mất Hải, mất luôn người con gái Sài Gòn tự tin và yêu đời trong Kim chăng? Thật ra, bao giờ Kim cũng tôn trọng tình yêu người khác cho mình. Như với Hòa Cận hồi học Sư Phạm, như với Cảnh hồi buôn thuốc tây ở khúc đường Lê Thánh Tôn, Trương Định, Huyền Trân Công Chúa. Cảnh giúp đỡ chị em Phương và Kim rất nhiều trong những bước đầu ra làm ăn. Từ từ, Kim tự thấy mình đã lợi dụng Cảnh, lợi dụng tình yêu âm thầm của Cảnh, Kim tìm cách rút lui, tìm mối mang khác để làm ăn.

Cảnh ít nói, Cảnh kín đáo, gần như nhút nhát. Tại sao Kim không thể đáp lại tình yêu của Cảnh? Chính Kim cũng không hiểu mình. Vì Cảnh bằng tuổi Kim? Kim tìm kiếm một người tình đủ “bản lãnh” để nhìn ra được mình. Kim tự hỏi mình: Em còn chờ đợi anh sao? Hình như không. Hình như vậy. Đôi lúc em không hiểu cho chính em bởi càng ngày em càng cố hết sức để hình dung gương mặt Hải và gương mặt Hải càng lúc càng lu mờ. Có thể như thế được sao? Đôi lúc em giận em vì sao em lại không có một tấm hình nào của Hải. Anh cũng không có một tấm hình nào của em. Anh chẳng bao giờ quan tâm đến hình ảnh. Em cũng chẳng biết điệu hạnh chụp hình. Lạ không anh? Lúc thì Kim của Hải ngẩn ngơ „lên đồng“ vì một câu nói đùa ngày xưa chợt hiện ra. Lúc thì chẳng nhớ nổi gương mặt Hải. Thế sao lòng em không mở rộng lần nữa để đón nhận một thương yêu? Không phải tại em cố tình trói chặt tim mình. Hay là em chưa gặp một người nào chiều chuộng em như anh đã chiều chuộng em, đủ kiên nhẫn với em và nhìn em như một con ốc với lớp vỏ nâu dầy cứng bao bọc một tâm hồn mềm mỏng không xương. Em so sánh với anh, em cân nhắc, em so đo, như thế thì đâu thể gọi là tình yêu. Tình yêu đến là phải đến, đến không cân nhắc so đo. Em chưa bao giờ tự hỏi vì sao ngày xưa em yêu anh. Tình yêu của anh và em như một sự đương nhiên phải có. Không dấu hỏi, không dấu chấm than. Anh, ngày xưa mình đến với nhau như định mệnh hay như tình cờ? Định mệnh là sự tình cờ? Hay sự tình cờ là định mệnh? Hay tình cờ là một bài toán đố làm nát óc cho chữ định mệnh?

Bây giờ gặp Đạo. Thật ra Đạo không có gì đáng trách, đáng chê, nhưng Kim không thích lối tán tỉnh thô bạo ào ào, thế thôi. Kim mong ước một mối tình cảm đến tự nhiên, đến đồng đều từ hai phía, đến như đã đặt trước, đến như một định mệnh dù cho điều mong ước ấy không thành hình rõ rệt trong tâm tư Kim.

Đôi lúc Loan bực mình, bảo chị:

– Thì chị cứ nói thẳng chứ cỡ người đó không đủ khả năng hiểu ngầm, hiểu bóng đâu. Chị lơ lửng kiểu đó làm ổng hiểu lầm thì phiền lắm.

– Có khi nào chị có dịp đâu. Vừa mở miệng ra là bị chận tới chận lui, chẳng lẽ làm bẻ mặt anh ấy trước mặt mọi người. Chị không lơ lửng gì hết. Chị đối xử với anh Đạo như với tất cả mọi người.

Hoàng cũng bực, nói:

– Ông ấy đâu chịu hiểu là chị cư xử với ông ta như với tất cả mọi người. Ông ấy còn tuyên bố um xùm là chị hứa sẽ xin qua Đức khi mình đã định cư ở Na Uy. Em có nói với chả rồi đó chớ, nhưng chả cười nói: «Con gái hay làm bộ thế đó!». Em tức, có ngày em đập chả một trận cho biết.

Kim lắc đầu:

– Thôi đi ông, chuyện người lớn để người lớn giải quyết, lo học đi ông. Lúc này còn tập tành hút thuốc phải không? Tiền chị Phương gởi qua là tiền chị ấy để dành để để, có khi còn phải đi làm thêm ban đêm đó. Chị Hạnh, anh Tâm còn phải đi học lại, còn phải lo cho Thùy Linh, Thùy Trang, tiết kiệm lắm mới có mà gởi được vài chục đô cho chị em mình tiêu thêm. Liệu mà tiêu dùng, đừng xin xỏ nghe chưa.

– Ở đây chán quá, không cà phê cà pháo, không thuốc lá thì không biết làm gì cho hết ngày.

Loan chêm vô:

– Nó tập hút thuốc, tập ngồi quán là ngồi ngóng mấy em xách nước, đi chợ ngang qua. Con nhỏ Yến coi cũng đặng, sáu điểm đó chị Kim.

– Yến nào? Phương Yến con bác Minh Hà bên khu Mỹ hả? Coi chừng lậm vô mối tình xù nghen Hoàng, còn nhỏ mà bày đặt.

– Nó theo em chớ bộ, ốm nhách!

– Nói nghe ngon há! Ai tặng con nhỏ quyển đặc san của Hướng Sinh gởi tặng chị Kim?

– Hèn gì tìm mấy ngày nay không thấy. Tặng gì thì tặng chứ không được rờ tới cây son duy nhất của hai chị mà đem tặng người đẹp nghen ông.

– Ông Thái lẻo mép. Ông Thái có chị rồi nên đâu cần ngồi quán.

– Bộ người nào ngồi quán cà phê là cũng để theo ai sao?

– Mà ông Thái ngồi quán theo cô nào, tui cũng đâu có về mà mét chị.

Kim nhắc:

– Hoàng xách nước chưa, chút chị còn phải giặt quần áo cho ông diện với người đẹp, không là bận đồ thúi, em chê đó.

Kim học lớp tiếng Na Uy buổi chiều, cả nhà, Loan, Hoàng, Thái và Minh đều đi học lớp sáng. Kim ở nhà buổi sáng để đi nhận thức ăn được chia mỗi ngày và nấu cơm cho cả nhà. Buổi sáng cả khu trại vắng vẻ. Khoảng thời gian được tự do một mình, dọn dẹp, lãnh thức ăn, nấu ăn, coi lại bài vở cho buổi chiều, viết thư, đọc sách… Kim coi đó như một đặc ân cho những ngày tháng căng căng chờ đi định cư.

Một buổi sáng tháng mười, sau khi mọi người đã đi học, Kim nằm dài trên miếng ván lót tấm đệm, nơi ngủ của Kim và Nga, lôi mấy cái thư vừa nhận được tuần rồi ra đọc lại. Thư của Thảo Nhiên và anh Hưng Bụng. Kim cười một mình, nhớ lại hồi hai đứa chọc anh Hưng Bụng ở hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thảo Nhiên chê lên chê xuống, mắng mỏ Kim nhiều chuyện, Kim bịa chuyện. Vậy mà bây giờ anh Hưng trả thù, gọi vợ là Nhiên Bụng mỗi lần anh viết kèm theo vài câu trong những lá thư Thảo Nhiên viết cho Kim. Bốn năm lấy nhau mà Thảo Nhiên cũng chưa hết ức, lúc nào cũng phân trần: Đây là một sự lựa chọn theo thời. Thà lấy ông Hưng Bụng còn hơn lấy bộ đội. Ông Hưng Bụng phải cám ơn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cái này là “thời thế tạo anh hùng”. Rồi bắt chồng ký vô lá thư trước khi gởi Kim để chứng minh là mình không nói xấu chồng. Hai vợ chồng dọn về quê anh Hưng ở tuốt Vĩnh Long một năm sau khi Thảo Nhiên ra trường không thèm nhận nhiệm sở. Bây giờ coi bộ hạnh phúc với niềm vui mong chờ đứa con thứ hai. Bao giờ cũng vậy, đọc thư Thảo Nhiên, lòng Kim ngập đầy nỗi vui an bình. Kim lắc đầu nói với mình: Nhỏ Thảo Nhiên, cuộc đời nhỏ ta bình dị như cái tên. Còn mình, Song Kim, ba lấy theo tên người yêu và cũng là cánh tay mặt của nhà thơ Thế Lữ trong chặng đường sáng tác nghệ thuật. Tụi bạn không hiểu, cứ chọc: “Một kim đâm cũng đủ làm tim người ta đau nhói, hai kim nữa, ai mà chịu nổi…”, không ngờ long đong như thế này, biết bao giờ mới được an vui.

Nghĩ ngợi lan man, ngắm nhìn lá thư của Hòa Cận từ Liên Sô, lòng Kim vui vui. Sau khi nghỉ học, gia đình dọn ra Phú Lâm, Kim khôntg còn liên lạc nhiều với bạn bẻ xưa thời Sư Phạm nữa. Hai anh em Hòa Cận được người cha gốc bự gởi đi du học, Đông Ngang vượt biên, Quan Cà ra trường bị đổi xuống tuốt Châu Đốc, Thảo Nhiên theo Hưng về Vĩnh Long. Lúc đầu, Kim còn nhận được vài lá thư của Hòa từ Liên Sô, thư kể chuyện xứ người lạnh căm căm, chuyện sinh hoạt nhóm sinh viên Việt Nam đầy nhiêu khê tính toán nhỏ nhen, chuyện học hành khó khăn… Từ từ bặt tâm. Nay bất ngờ được thư Hòa Cận do người em út chuyển qua. Kim đọc lại lần nữa.

Kim biết không, nắng chói chang ngoài khung cửa sổ đánh thức Hoà. Lạ lắm, trong tấm chăn bông ngậm nhấm nỗi cô đơn một sáng chủ nhật nơi đất khách mà đầu óc lại lãng bãng bài hát Beautiful Sunday ngày nào bọn mình uốn lưỡi hát theo. Để coi, Hoà viết lại cho Kim nhá, chắc Kim đã quên, nhưng Hòa thì không bao giờ quên, Hoà không bao giờ quên thời gian gần hai năm trong tình bạn vui nhộn chân thật của bọn mình. Và Hòa biết không bao giờ trong đời Hòa, Hòa sẽ tìm có được tình bạn như thế nữa.

Hòa ân hận Kim ạ. Càng sống trong lòng cái giới gọi là con-ông-cháu-cha, Hòa càng nhận ra mình không cùng một hướng sống, không cùng hướng suy tư, Hòa càng đặt nhiều câu hỏi về con đường ba Hòa đã lối kéo con đi theo. Ba Hòa không hiểu là anh em Hòa được dưỡng nuôi, được hít thở, được thấm nhuần một nhân sinh quan, một nền đạo đức, một bản thể yêu quí tự do hoàn toàn không có chỗ đứng trong cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa, gọi là Đại Đồng.

Thôi, không nói chuyện này, chỉ thêm bi quan. Định bụng sẽ viết lại mấy câu hát ngày xưa cho Kim cười, rồi lại quên, lại nói chuyện lang bang. Hát đi Kim, hát cho Hòa còn được thấy mình là Hoà Cận ngày xưa. Hát đi Kim, hát đi Thảo Nhiên, còn Đông Ngang và Quan Cà thì hòa theo, và Hòa sẽ đệm guitar nhé, hát như vầy: Sáng mai tươi hồng, mè nheo với me. Mẹ tưới cho tí tiền là tươi mát ngay ờ… ơ… ờ… ui chủ nhật tươi quá chời… Rùi em sẽ, sẽ…

Kim nằm xấp, hai tay chống cằm, đôi bàn chân nhịp nhịp theo điệu nhạc, mảnh áo vải màu vàng nhạt sát cánh xếch cao hờ hững, miệng ư ử… Cửa không đóng như thường lệ, như mọi căn nhà trong khu trại tị nạn Bataan này.

Đạo đến, đẩy nhẹ cửa, bước vô, không một bóng người, tiếng hát ư hử không rõ ràng phát từ phía sau tấm màn vải chắn chia bàn ăn và bộ ván gỗ. Mạnh dạn, Đạo đi thẳng vào phía trong, ngồi mé trên tấm gỗ rộng, bàn tay vuốt nhẹ khoảng lưng hở vì cánh áo vải chếch cao. Kim giật mình, bật ngồi dậy, hai chân rút nhanh. Gương mặt Đạo kề sát, hơi thở nóng phà lên mặt Kim. Không kịp xỏ chân vô đôi dép mủ để đi ra ngoài phòng khách đã được chia bằng một tấm màn vải.

Không kịp nữa, Đạo đã ngồi gọn trên tấm ván, nhìn Kim, ánh mắt đắm đuối lạ thường, tìm kiếm mặt Kim, trên người Kim làm Kim sợ không dám nhìn. Trong phản ứng của con thú linh cảm được những hiểm nguy đang bủa vay bất ngờ làm tê cứng bộ óc, không đủ sáng suốt để tìm đường tự vệ, Kim rút dần, ngồi dựa vô tấm vách ngăn giữa hai nhà, tránh ánh mắt Đảo, lạc giọng, hỏi:

– Anh Đạo không đi học sao?

Đạo không trả lời, bỏ dép, xích lại tấm vách, ngồi kế Kim, dang tay định choàng tay qua vai Kim. Kim rùng mình, ngồi tránh ra xa. Đạo gọi:

– Kim! Em biết là anh thương em? Lại đây ngồi với anh.

Kim nhìn nhanh Đạo, lắc đầu:

– Kim xin anh, Kim đã có hôn phu, anh Hải sẽ đi chuyến sau.

– Anh không tin, mấy tháng nay anh không thấy Kim nhận một lá thư của một người đàn ông nào cả chứ đừng nói chi tên Hải, tên Hồ. Anh làm trên phòng phát thư mà. Nhưng bây giờ là ở đây, anh cô đơn, em cô đơn, anh thương em.

Đạo dơ tay tới, Kim hất mạnh. Bất ngờ vì phản ứng quá mạnh khác hẳn sự dịu dàng thường ngày của Kim, máu nóng dồn lên mặt, đôi mắt Đạo long đỏ. Ý tưởng trả thù làm người Đạo bừng bừng, Đạo chồm người ôm lưng Kim, áp mặt vào mặt Kim, hơi thở nóng hực. Sự trả thù biến thành con thú trong người đang làm chủ lòng ham muốn. Đạo đổi thế, dùng đầu gối lấy đà đẩy Kim nằm dài. Cả người Đạo nằm úp lên Kim. Bị đẩy bật ngửa trên tấm ván, Kim hoảng sợ, quơ hai tay đấm đầu, đấm lưng Đạo. Nhưng cái đấm của một con mồi chỉ biết quơ quào tìm cách tự vệ làm cơn tức giận trong Đạo càng dâng cao, con thú thêm hung hản, con thú thêm mạnh bạo.

Lật người Kim nằm xấp, Đạo ngồi hẳn lên đùi Kim, bắt tréo hai tay Kim sau lưng. Một chân kèm ngang giữ chặt hai chân Kim đang cố đạp bung, một chân co đầu gối ép bụng Kim xuống tấm phên gỗ. Trong thế khóa, Đạo nắm chặt hai tay Kim, kéo dựt xuống mỗi lần Kim cố ngoi đầu xoay trở. Đau điếng hai bả vai theo từng thế kéo dựt ngược của Đạo, Kim nghiến răng, chịu đau, cố gồng người tìm cách xoay. Bất lực dưới sức ép cứng của đầu gối Đạo trên lưng. Bàn tay nóng, hung tợn lục lọi, kéo mạnh từ vòng eo cong, lên thẳng lưng, vòng xuống bờ ngực con gái cứng căng, bựt đứt hàng nút áo…

Đạo loay hoay hơi nhỗm người để mở dây nịt quần. Cố xoay người dưới sức đè hung hản, dùng hết sức lực được tiếp trợ bằng sự nóng giận cực điểm, được tiếp trợ vì một vô ý của cái đầu gối đang ép trên lưng mình, bả vai tưởng như bứt rời, Kim xoay mạnh. Đôi tay được giải thoát, Kim đấm mạnh, đấm thật mạnh, liên tiếp, đấm không định hướng. Mất thế, bị đánh bất ngờ, khí nóng bốc lên cao độ, Đạo kéo tóc Kim ngược ra phía sau, dằn mạnh đầu Kim xuống…

Ngay lúc đó, Hoàng bước chân vô nhà, thấy cửa mở toang, đôi dép mủ to lớn khác thường nằm ngổn ngang trên nền đất. Đúng như Hoàng nghi ngờ. Hồi nãy vừa vô lớp học tiếng Na Uy, Hoàng thấy Đạo đi ngang qua lớp học, hướng về khu trại Na Uy. Hoàng suy nghĩ: « Ông Đạo học buổi sáng, tại sao ông về trại Na Uy giờ này, chị Kim ở nhà một mình.» Nghĩ rồi làm. Hoàng lấy cớ bị đau bụng, xin cô giáo cho về nhà nằm nghỉ. Cô Jane lo lắng hỏi Hoàng hôm qua ăn gì, hồi sáng ăn gì… Hoàng bức rức, nóng nảy nhưng không dám bỏ đi ngay. Thoát được sự hỏi thăm chăm sóc không đúng chỗ đúng thời của bà cô giáo hiền lành, Hoàng chạy mau về nhà.

Hoàng nhào lại, nắm lưng áo Đạo kéo ngược. Bất ngờ, Đạo không phản ứng kịp, buông Kim ra. Kim túm áo lại. Đạo vung tay đấm vô mặt Hoàng. Hoàng né, Đạo mất đà té xuống đất. Hoàng chạy ra bếp lấy con dao, gương mặt đỏ ửng, hầm hầm.

Kim hoảng hồn, gọi:

– Hoàng, bình tỉnh, chị không sao cả.

Rồi xoay qua Đạo đang loay hoay cài sợi dây nịt quần, Kim dằn từng chữ một:

– Anh Đạo, anh ra khỏi nhà tôi ngay. Tôi la lớn, tụi cảnh sát Phi tới là anh ở lại trại vài năm nữa.

Mọi ham muốn xẹp xuống nhanh, Đạo nhìn Hoàng đứng sững nơi ngạch cửa ra nhà bếp, không một lời, Đạo xỏ dép, đi một mạch.

Không gian bỗng lặng yên. Hai chị em tránh nhìn nhau. Hoàng ra cái võng treo ngoài hiên ngồi, Kim cắn răng không nói không rằng, lục tìm quần áo, khăn, đi thẳng xuống khu vệ sinh để tắm. Khi trở về, thấy Hoàng vẫn còn ngồi hút thuốc trước hiên nhà. Ánh mắt ái ngại, Hoàng nhìn người chị lớn, Hoàng loáng thoáng hiểu ngầm đã trải qua một thời gian câm nín khá lâu sau mối tình đầu bị cắt đứt tức nghẹn khi mà Hoàng còn quá nhỏ để hiểu. Nay thấy thấy phản ứng im lìm của chị, Hoàng sợ. Hoàng nuốt cục đá cứng chận ngang cổ, cẩn thận hỏi:

– Chị không sao hết?

– May là Hoàng về kịp. Chị suy nghĩ kỹ rồi. Hoàng không được làm to chuyện, chỉ mang tiếng cho chị em mình thôi vì ông Đạo có nhiều vây cánh, nhiều đàn em. Chỉ con gái là phải gánh chịu, dầu mình là nạn nhân, dư luận sẽ bất công thế đó.

Hoàng không chịu, Hoàng nóng nảy, nói:

– Nhóm tàu mình mười bốn người thanh niên không đủ để bảo vệ cho chị sao? Nếu mình im lặng, thằng chả tưởng mình sợ, thằng chả sẽ kiếm cơ hội khác. Đâu phải lúc nào em cũng gần chị. Buổi sáng chị ở nhà một mình, không được đâu.

– Hoàng có lý. Chị biết là chỉ cần mình kể chuyện này cho anh em trong tàu là ông Đạo không yên. Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra thì rất nhiều người bị liên hệ, có thể cả nhóm tàu mình bị giữ lại trại thêm ít nhất một năm nữa. Thời gian ở đảo là một cực hình cho tất cả mọi người.

– Rồi mình chịu thua sao?

– Có lẽ vậy Hoàng ạ!

– Hay là chị xin đổi lớp với em, chị học sáng, em xuống học chiều.

– Không được, chị đang là trợ giáo cho lớp học buổi chiều, đổi cho em rồi ai làm trợ giáo.

– Hay là đổi với anh Thái. Anh Thái cũng đang làm trợ giáo buổi sáng. Như vậy là tiện nhất.

– Như vậy mình phải kể cho Thái nghe chuyện này. Cũng không sao, dầu gì thì chị em mình với Thái và Minh đã đối xử với nhau như chị em trong nhà. Chị tin là Thái và Minh sẽ hiểu và giữ kín cho chị. Chị sẽ nói chuyện với ông Đạo.

– Giỡn sao chị? Nói chuyện với thằng chả?

– Chị không sợ. Chính ông ta sợ chị.

– Có gì mà chị cần phải nói chuyện.

– Chị muốn cư xử với ông ấy như một người lớn với một người lớn. Hoàng yên tâm. Chị biết chị sẽ làm gì.

Quả thật, khi Kim nhờ Thái nhắn dùm với Đạo là Kim muốn gặp Đạo ở quán cà phê Thanh Đa bên khu vực “Mỹ”. Đạo đến gặp Kim trong sự ngạc nhiên lẫn ân hận. Kim đã chuẩn bị rất kỹ những gì mình sẽ nói với Đạo, nói để cảnh cáo, nói để giảng hòa giữa Hoàng và Đạo, nói để Đạo không mang thù oán vì bẻ mặt. Tay khấy ly cà phê một cách vô chừng, Đạo nhìn Kim:

– Anh đã suy nghĩ rất nhiều về việc anh làm, về cách cư xử của em trong những ngày sau đó. Anh không giận Hoàng đâu. Anh hiểu em sợ anh trả thù Hoàng. Anh… muốn… xin lỗi nhưng anh ngại gặp em, đối diện với em. Kim quên chuyện ấy được không. Anh không muốn mất em.

Kim lắc đầu:

– Cái ly đã bể anh Đạo ạ! Anh đâu đã từng có Kim để bây giờ gọi là mất. Vả lại Kim chờ anh Hải, hôn phu của Kim.

– Anh không thấy một thư từ nào của em có người gởi tên Hải.

Kim im lặng không trả lời.

Kim tin Đạo. Kim tin rằng đôi lúc cái thú tính, một phản ứng bồng bột đã đưa Đạo hành động ngoài ước muốn tận cùng. Cái thiện của mỗi người đã bị cảnh sống chật hẹp tù túng bầm chặt từng mảnh, lúc mất lúc hiện, rã rời, không chỗ dựa. Nhưng Hoàng chưa tin sự ân hận của Đạo, vẫn luôn canh phòng mặc dù Kim đã đổi học lớp buổi sáng. Chờ hoài không thấy động tĩnh, Hoàng cũng an lòng cho tới khi Đạo và nhóm thanh niên cùng chuyến tàu với Đạo đi định cư. Chuyện xảy ra vào buổi sáng hôm đó chỉ có năm chị em Kim và Đạo biết.

Bề ngoài trông có vẻ yên chuyện, nhưng tâm hồn Kim không yên. Kim đã bị xúc phạm quá nặng nề. Chưa ai có hành động hung bạo với Kim, chưa ai hằn học với Kim, chưa ai nói nặng lời với Kim. Từ trước năm 1975 cho đến thời gian lao đao ra đời, đụng chạm buôn bán với mọi hạng người. Với tấm lòng chân thật của Kim, không ai nỡ nói một lời nặng nề với. Thể xác Kim chưa bị ai xâm phạm ngoài ý muốn của Kim, dù chỉ là bàn tay. Kim chưa hề nói nặng lời với ai chứ đừng nói chi đến chuyện đánh ai, chứ đừng nói chi đến chuyện tát thật mạnh, đấm thật đau, thật hung tợn.

Kim cảm thấy xấu hổ với chính mình vì những tát tai, những cú đấm đó, dù chỉ là tự vệ. Kim khổ sở, Kim tự dằn vặt mình trong những đêm thao thức. Kim nói thầm với Hải: “Anh Hải, đêm ở nhà anh Trí, anh biết em sẵn sàng nhưng anh yêu em đến độ anh muốn giữ gìn cho em. Anh muốn chờ. Chưa bao giờ anh cố tình tạo điều hiện để được yêu em như một người đàn ông với một người đàn bà. Anh trân trọng em. Anh vuốt ve, anh hôn em với tất cả lòng thương yêu, quí yêu. Ngày xưa một quả phụ, phu nhân của một đại quan, đón đò qua sông. Trên đường về quê chồng, người lái đò đỡ cánh tay nàng, giúp nàng xuống thuyền. Khi về đến nhà, nàng khóc trước bàn thờ chồng, lấy kiếm tự chặt đứt cánh tay mà nàng cho là đã bị ô nhiễm vì một người đàn ông khác đã xâm phạm trinh tiết nàng. Còn em, cái nhục này em biết làm sao đây, thân thể này làm sao rửa sạch. Dẫu cho nước mắt em có ròng rã năm tháng cũng không sao xóa được những chứng tích bàn tay hung tợn bẩn thỉu mà Đạo đã chạm vào phần thân thể em. Hôm nọ, cô Jane dẫn nhóm tụi em đi tắm biển. Em bơi ra thật xa, thật xa, một ý tưởng thoáng trong đầu. Em muốn thả cho cái thân thể này chìm xuống đáy biển, cho tôm cá rỉa mòn, cho biển cả cuốn sự nhục nhã này đi xa thật xa. Thế mà em không làm được. Anh không cho em thực hiện ý định đó sao anh? Ai sui khiến Hoàng bơi theo em, dục em bơi vô bờ? Bao giờ cho tâm hồn em được thanh thản sau chuyện này hở anh? Bao giờ Kim của anh được ngây ngất vỡ tan theo từng vuốt tay anh mềm ấm nâng niu? Em sợ Hải ơi! Đàn ông như thế sao? Ham muốn quấn quyện nhau, da thịt tan biến trong nhau không phải là cách thức diễn tả tình yêu với nhau của tất cả mọi người sao anh? Sao lại có sự chiếm đoạt hung hãn với người mình yêu? Tình yêu là cho nhau, là dâng hiến. Em vẫn còn ngây thơ sao anh?”

King on the Stage – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười sáu

Mùa thu, một chín tám mươi hai

Giảng đường nhỏ, chỉ đủ chứa độ năm mươi sinh viên, sinh viên trường Cao Đẳng Y tá Oslo. Đa số sinh viên trường này là nữ mặc dù Na Uy tự cho mình tân tiến, vấn đề bình đẳng bình quyền đạt mức độ cao so với những nước miền Nam châu Âu, nhưng cách chọn nghề nghiệp cho tương lai mình vẫn còn mang nhiều bản chất phân chia nam nữ. Và như thế sẽ tiếp tục, không bao giờ chấm dứt. Ở trường, trẻ em nam nữ đều được theo một chương trình giáo dục như nhau, cùng có giờ nấu ăn, cùng có giờ thêu, cùng có giờ máy móc, cùng có giờ đóng đinh đóng búa. Các ngành nghề không hề có sự chia nam chọn nữ, cũng không được phép phân chia nam nữ. Nhưng bản chất người nữ vẫn tiếp tục phát triển theo bản năng tự nhiên của người nữ, ngàn đời: chăm lo cho mọi người chung quanh mình, bận bịu với con người, chia sẻ, bù đắp… Cho nên đa số sinh viên trong các trường sư phạm, y tá, vườn trẻ vẫn là nữ.

Christian đã quen làm việc với nhưng cô sinh viên trẻ trung yêu đời, những chị lớn tuổi trở lại ghế nhà trường sau khi con đã lớn. Chris, cái tên mà mọi người thường gọi tắt, thản nhiên bước lên bục giảng, mở đầu môn Tâm Lý Học. Đây là môn học bắt buộc trong quá trình ba năm ở trường Cao Đẳng Y Tá, kéo dài hai học kỳ. Ngay khi đứng trước tấm bảng xanh, Chris đã chú ý đến dãy thứ nhì, đầu bàn, một cô sinh viên người Á Đông, trông có vẻ già hơn những sinh viên trẻ trung nhưng trẻ hơn những chị đã lớn tuổi. Đôi mắt nâu dài trong sáng, gương mặt nâu hồng nổi bật trên cái áo len trắng cổ tròn. Chú ý rồi bỏ qua.

Tuần sau, trở lại với lớp học này, Chris không thể nào tránh được ánh mắt đăm đăm chăm chú nhìn giảng viên, tay ghi chép không ngưng. Cô thiếu nữ người Á Châu trong dáng vẻ lẻ loi, ít cười đùa với những sinh viên kế bên, gương mặt tự kiêu với nỗi cô độc của mình. Và để rồi, bất chợt Chris trở lại cái cảm giác bỡ ngỡ hụt hẫng khi đôi mắt, gương mặt cô gái chợt đổi nét, thờ ơ, nhìn đâu đâu. Lúc thì bám ánh mắt lên mấy tấm hình treo trên tường, lúc nhìn qua cửa sổ, tay ngưng chép. Khoảng rơi hụt hẫng này kéo dài không bao lâu, ba phút, năm phút, nhưng Chris không bắt được. Để rồi chiều đó anh lại suy nghĩ llan man vô định, chỉ muốn đắm mình trong những bản nhạc ray rứt tự đáy lòng của Bob Dylan, của Leonard Cohen… bên ly rượu vang đỏ thắm.

Giờ học nào cũng vậy, cô sinh viên người Á Đông chăm chú theo lời giảng, chăm chú vượt mức bình thuờng của những sinh viên chăm chỉ khác. Đôi mắt nâu đeo theo lời giảng của Christian, đeo khắp nơi, tay chép lia lịa. Ánh mắt nhìn thẳng người giảng khiến Chris thỉnh thoảng phải phóng tia mắt về phía cô gái như một phản xạ tự nhiên. Bỗng nhiên ánh mắt nam châm ấy hướng ra cửa sổ, hờ hững, mông lung. Chris lại lâm vào tình huống bỡ ngỡ như mất một điểm nhìn lôi cuốn. Tan giờ giảng, Chris nghĩ ngợi lan man trong ánh mắt hờ hững mông lung của cô sinh viên.

Từ bốn năm nay, từ khi bắt đầu nhận giờ dạy ở trường này, Chris chưa bao giờ bận tâm đến một người nữ sinh viên nào. Trước khi nhận việc tại trường này, anh đã tự phòng trước, đã cố giữ khoảng cách. Mối tình ba năm với Maritta đã đứt đoạn hơn bốn năm nay đã khiến Chris trầm lặng hơn, dè dặt hơn. Bốn năm, anh làm việc, đọc sách, nghe nhạc và những ngày nghỉ anh lái xe về căn nhà nghỉ mát của ba má ở một miền núi cao. Ở đó, anh cảm thấy mình thoát hẳn đời sống như chiếc đồng hồ chạy đều đặn nơi phố thành tấp nập. Ngủ khi mình mệt, ăn khi mình đói, lang thang lên tận đỉnh núi cao, ngắm nhìn núi non trùng điệp mênh mông để thấy mình như đang làm chủ cái thiên nhiên hùng vĩ này, để gậm nhấm nỗi cô đơn, để hãnh diện với sự cô độc mình đã lựa chọn.

Từ từ, Chris tìm biết được Kim là thuyền nhân tị nạn, đã ở Na Uy, xứ Bắc Âu này ba năm, đang học năm thứ hai. Anh bắt đầu để ý đến những câu chuyện khi tên cô sinh viên Kim được nhắc tới trong phòng giáo sư. Cô sinh viên được vài giáo sư nhắc đến vì những bài viết sâu sắc, mang những tư tưởng mới lạ về sự liên quan giữa con người và con người, những nhân quan về mối liên hệ gia đình thật xa lạ với tầm suy nghĩ của người Tây phương; cách thức cố gắng chứng minh vai trò quan trọng của tình gia đình trong quá trình điều trị bịnh nhân và chức năng của người y tá trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để mối liên hệ gia đình trở thành một liều thuốc bên cạnh toa thuốc của bác sĩ. Những bài viết với lời văn không đuợc uyển chuyển vì quá chú tâm đến văn phạm, câu cú cứng khô gò bó đôi khi khó hiểu. Cô sinh viên được vài người để ý, ái ngại vì cái lẻ loi trầm lặng trong đám sinh viên cười lớn nói to. Cô sinh viên được vài giáo sư lưu ý vì dáng vẻ dịu dàng dễ mến.

Đã hơn bốn tháng rồi, cái nôn nao đến trường, cái nôn nao đến giờ dạy ngày thứ ba đã khiến Chris biết chải chuốt hơn, biết đánh bóng đôi giày, biết phân vân chọn màu cà vạt cho hợp với áo sơ mi. Và Kim cũng linh cảm được ánh mắt đằm thắm của Chris, cảm thấy được ánh mắt phía sau gáy, ánh mắt không tò mò ái ngại như những giáo sư khác. Ánh mắt chiêm ngưỡng của người đàn ông, làm cho người nhận thấy ấm lòng, vui vui, hãnh diện. Hơn bảy năm rồi, bây giờ Kim mới cảm nhận lại được cái cảm giác hãnh diện của người nữ khi được một người đàn ông chiêm ngưỡng và biết chờ đợi ánh mắt đó.

Một ngày trong tuần, thấy Kim ngồi ăn trưa lẻ loi trong canteen, Chris đánh bạo, đến, đặt mâm thức ăn trưa của mình trước mặt Kim, hỏi:

– Tôi ngồi đây được không?

Ngước nhìn Chris, ánh mắt ấm vui, gật đầu. Cả hai nói chuyện bâng quơ, chuyện lớp, chuyện trường, chuyện sắp ra bệnh viện thực tập. Chris rất muốn hỏi: “Cô ở Na Uy với gia đình hay một mình?” nhưng không dám. Tò mò quá! Sống sượng quá! Phải có khoảng cách giữa sinh viên và giáo sư. Người Việt Nam có xem câu hỏi đó vô duyên không? Chris lắc đầu, nói lảng sang chuyện khác.

Kim lấy cái dao nhỏ trong chùm chìa khóa, cắt trái táo làm hai, cắt bỏ đầu cuốn, khoét bỏ khoảng táo cứng có hai cái hột nhỏ màu nâu, đưa cho Chris một nửa. Lối chia sẻ ân cần làm người khác phải nhận. Chris chưng hửng, nắng ngập lòng anh. Chưa ai có những cử chỉ ần cần dịu dàng với anh như thế. Ngay cả má anh, cả Maritta, người yêu trước của anh, người đã sống chung với anh ba năm. Chris cảm động nhận lấy nửa trái táo ruột trắng ngà ngà thơm ngát . Nhìn Kim đưa nửa trái táo lên miệng, cắn nhai nhỏ nhẹ, Chris thắc mắc: “Sao mọi cử chỉ của Kim đều nhẹ nhàng uyển chuyển? Tất cả phụ nữ Á đông đều thế sao?” Chris nhận miếng táo nhưng không muốn cám ơn, sợ lời cám ơn sẽ làm mất đi cái thân mật của buổi ăn trưa này. Miếng táo dòn thanh, ngụm nước suối lạnh mát, Chris lâng lâng không còn tìm được lại mình, người giáo sư trẻ nghiêm nghị.

Mấy ngày sau, Chris để ý và mong được thấy Kim ngồi lẻ loi ở cái bàn ăn nào đó trong canteen. Nhưng không một cơ hội chờ đợi anh. Hôm thì Kim ngồi với những sinh viên khác, hôm thì Kim không có mặt ở canteen. Những hôm Kim không có mặt ở canteen, Chris rất muốn bỏ mâm thức ăn trưa của mình, đi ra ngoài sân trường, rảo tìm những băng ghế đá, để mong tìm thấy Kim đang ngồi ăn một mình với gói thức ăn tự mang theo, để được Kim chia cho miếng táo thơm dòn. Nỗi nôn nao thôi thúc mỗi trưa xuống canteen bị vai trò thày giáo lôi kéo lại, làm Chris chần chừ, để rồi luyến tiếc và chiều đó anh chìm đắm mình trong lời ca trầm khàn của Bob Dylan, giọng sâu trầm ray rứt của Leonard Cohen.

Hôm nay, Kim cũng như những ngày thứ ba trước, cũng đăm đăm nhìn thẳng giảng viên, đeo theo lời giảng một cách chăm chú. Và Chris cũng bị lôi cuốn bởi ánh mắt nhìn trực thẳng của Kim, anh cũng thỉnh thoảng phải phóng ánh mắt mình về phía Kim với một phản ứng không tránh được. Và rồi, ánh mắt, khuôn mặt Kim bỗng thờ ơ, lơ đãng. Lần này lâu hơn. Lâu hơn thường lệ. Chris để ý thấy Kim loáy hoáy viết, không nhìn anh nữa. Viết năm ba hàng, Kim lại nhìn mông lung, rồi viết, rồi lại lơ đễnh nhìn Chris. Lâu lắm. Cảm nhận ánh mắt nâu đen hướng về phía mình, nhưng Chris biết là mình không nằm trong tâm não của Kim, nếu có thì chỉ là một hình người nằm ngược chiều trên võng mạc trong mắt Kim, vô nghĩa. Hình như Kim không hiện diện trong giảng đường nhỏ có màn cửa vân xanh vân vàng cuốn quyện nhau. Hình như Chris không hiện diện trong quang trường của đôi mắt nâu đen. Chris không còn biết mình đang giảng điều gì. Anh bỏ cuộc.

Trong khi chờ đợi các sinh viên ghi chép, không hiểu do một thôi thúc huyền bí nào đó từ trong tận cùng, không tự chủ, Chris viết lên một một mảnh giấy nhỏ: “Diễm phúc cho ai được đọc thư tình của cô trong giờ tôi.” Đặt mảnh giấy lên bàn Kim trên đường đi xuống cuối giảng đường, dựa lưng vào tường, chờ phản ứng của Kim, chờ Kim xoay lưng với nụ cười xin lỗi. Kim đọc mảnh giấy. Thời khắc ngưng động.

Kim đứng dậy, đi nhanh ra cửa, thẳng hướng toilette. Chris nôn nao chờ Kim trở lại lớp, lòng lo âu không hiểu phản ứng của Kim. Anh tưởng đó chỉ là một lời đùa vô thưởng vô phạt. Nếu Kim không viết thư tình, thì thư cho người quen, cho gia đình… cũng thế thôi. Anh không mang một hậu ý trách móc nào cả. Anh chỉ muốn được Kim nhìn và nhoẻn miệng cười hàm ý xin lỗi là anh vui lắm rồi.

Nụ cười dịu dàng đầm ấm của Kim mỗi khi có ai trong lớp nói đùa. Khoảng trời mênh mông trong mát sáng dần trong lòng Chris khi nghe Kim cười. Kim không cười to, không thoải mái ha hả như những cô sinh viên khác. Đôi môi đầy với lớp son hồng cam bóng, nét miệng cười tươi làm các xớ thịt trên mặt nâu hồng giãn ra, ánh mắt long lanh. Rồi nụ cười tắt từ từ, cũng dịu dàng đầm ấm như lúc đầu.

Ở Kim, mọi cử chỉ đều mang một nét dịu dàng thanh thoát nào đó làm cho Chris cũng như những giáo sư khác không thể không lưu ý tới. Những ngón tay dài mảnh dẻ vén tóc qua tai. Cái rùng mình, kéo dài cánh tay áo len, dùng ngón tay cái giữ cho cánh tay áo len bao gần hết bàn tay. Lối ngồi co chân, vòng hai cánh tay quanh hai chân ở hành lang khi chờ đến giờ học. Cách nghiêng mình nhỏ to với người bạn ngồi kế. Những ngón tay mỏng manh luồn vào tóc, giữ tóc đừng buông xuống khi đang cắm cúi viết… Tất cả được in vào vòng suy tư miên man bên ly rượu vang lóng lánh mỗi tối khuya, thoáng hiện mờ ảo đẫm hương trong giấc ngủ Chris.

Toán sinh viên ra ngoài để nghỉ mười phút giải lao, cũng không thấy Kim trở lại. Cây viết nằm lăn lóc trên tập vở bên cạnh mảnh giấy anh vừa trao, cái ba lô da nâu nằm dưới chân ghế, im lìm chờ đợi trong âu lo như anh. Chris không đi lên phòng giáo sư để nghỉ như thường lệ. Anh đứng ở cuối giảng đường, chờ, bất động.

Chuông reng. Sinh viên lần lượt đi vô, vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện cười đùa dang dở, vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện nghiêm trọng bí mật của hai người bạn thân. Kim cũng đi vô. Chris nhìn Kim. Kim cúi đầu tránh ánh mắt Chris, đi thẳng về chỗ ngồi, mắt Kim sưng đỏ. Chris thẫn thờ. Tại sao vậy? Chỉ là một câu đùa mà? Vì mấy hàng chữ của mình hay vì Kim đang có chuyện buồn? Chris không sao tiếp tục bài giảng được. Anh đành cho đề tài để sinh viên thảo luận. Anh đi từ nhóm này sang nhóm khác để nhận xét, theo dõi sự sinh hoạt, cách nghĩ suy của từng sinh viên quanh đề tài này.

Nhóm của Kim năm người. Kim tránh ánh mắt Chris, ngồi im lặng theo dõi từng lời thảo luận của những người cùng nhóm. Chris không sao bắt được ánh mắt Kim. Đứng lặng phía sau, từ bức tường cuối phòng, nhìn dáng Kim ngồi xoay lưng về phía mình. Mái tóc lưng chừng, đen bóng, nổi bật trên nền áo len mỏng trắng. Anh để ý thấy Kim không ăn mặc theo thời trang của mấy cô bây giờ. Quần tây chật mông, thẳng dài chấm gót, bao giờ cũng áo len một màu, không bông không sọc. Đôi giày da nâu hoặc đen, loại rẻ tiền, cũng không theo thời trang nhưng cũng không như kiểu những người già, gót không cao, ôm đôi chân nhỏ thon, lộ màu vớ đen khi ngồi.

Kim biết Chris đang dõi theo mình từ phía sau lưng. Cảm giác bén nhạy của người nữ cho Kim biết Chris đang theo đuổi mình. Ông thầy trẻ tuổi lạnh lùng xa cách với sinh viên, nhưng ánh mắt đầm ấm của ông khi nhìn Kim, từ mấy tháng nay, làm Kim vui vui, hãnh diện. Và bây giờ… Hàng chữ trong tờ giấy ông vừa đưa. Tim Kim quay quắt: “Ông có biết là ông ác lắm không?” Kim nuốt cơn buồn tủi sắp dâng lên, lắc đầu, nói một câu đùa với Helene ngồi kế bên, cả hai nghiêng vào nhau cười khúc khích.

Chiều đó, Chris tìm đến nhà Kim. Kim ở trong khu nhà của công xã cho thuê với hai người em, Loan và Hoàng, cả ba đều đang đi học. Căn chung cư hai phòng ngủ, Kim và Loan ở chung phòng, còn Hoàng là con trai nên được phòng riêng. Giờ này hai em đi lau nhà ở một văn phòng tận trung tâm phố, đến mười một giờ mới về. Chút nữa Kim cũng đi trực cho một khách sạn ở trung tâm phố. Ngày nào ba chị em cũng chỉ ăn chung với nhau bữa cơm chiều rồi tối khuya mạnh ai nấy đi làm, về giờ giấc khác nhau.

Ba chị em phải đi làm thêm với tiền học bổng mới đủ chi phí cho cả tháng và gởi về Việt Nam giúp ba má. Đời sống gần ba năm nay hạn hẹp trong trường học, việc làm phụ, tham gia một vài sinh hoạt với cộng đồng người Việt Oslo, bạn bè chung tàu. Lời ông bà Ba Hòa căn dặn: “Các con cố gắng tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội bằng học vấn. Chỉ có học vấn để phục vụ xã hội mới xóa được mặc cảm ăn nhờ ở đậu, mới trả ơn cho đất nước người dân đã cưu mang mình. Phải lợi dụng cơ hội để phát triển, thực hiện những ước mơ đã thúc đẩy các con tìm đường tìm tự do. Sống cho xứng đáng là một người tị nạn chính trị.”

Chris nhấn chuông. Kim ra mở cửa. Nhìn Chris đang lúng túng không biết nói gì, Kim hiểu ngay Chris đến vì phản ứng của mình hồi sáng ở trường. Bằng nụ cười ngọt mềm, Kim mời Chris vô nhà. Phòng khách đơn giản đến độ trống trải, một bộ sa lông cũ màu nâu, một bàn ăn nhỏ gồm bốn ghế ba cái trắng, một cái nâu. Phòng khách thông với nhà bếp chật, đơn sơ. Chris ngồi xuống ghế bành không cùng kiểu với bộ sa long. Toàn bộ đồ đạc trong nhà không món nào cùng bộ với món nào, đồ đạc gom mua từ những khu chợ cũ, không một món chưng diện, không một món dư thừa.

Chris đang lúng túng định giải thích lý do tại sao mình đến thì Kim nhanh nhẹn khoát tay không cho Chris nói gì. Kim nhìn Chris, nói rõ ràng:

– Ông đừng nghĩ ngợi gì về phản ứng của tôi hồi sáng. Quên đi!

Kim hỏi tiếp:

– Ông dùng cà phê có đường hay không đường?

Cũng lối mời không cho người khác từ chối đó. Chris không cách chi từ chối, mà sao anh lại từ chối? Không phải đó là cái ao ước mong manh nhưng sâu kín trong tâm anh sao?

– Cô cho tôi cà phê không đường.

Kim đùa:

– Người Na Uy lạ ghê đi, uống cà phê không đường, lạt nhách, đắng ngòm, chẳng ngon chút nào cả. Người Việt chúng tôi uống cà phê cầu kỳ, cách pha cũng cầu kỳ lắm cơ. Hôm nào mời ông ở lại chơi lâu, tôi sẽ pha cà phê theo cách Việt Nam cho ông, bảo đảm ông mê luôn.

Giọng Kim cưng cứng trong lối nói chuyện cởi mở làm không khí trở nên thân mật nhanh chóng. Nét mắt vui tươi, miệng nói như sắp sửa cười, khác hẳn phong cách của cô sinh viên ít nói, lẻ loi thường ngày trong trường học làm Chris cảm thấy như mình là người bạn thân lâu ngày trong căn nhà đơn sơ mộc mạc này. Kim xoay lưng đi vô bếp, Chris nhìn theo. Dáng Kim trông nhỏ hơn trong cái quần dài hơi rộng màu vàng tươi, cái áo hơi ngắn cùng màu với quần, đôi vớ trắng, dáng dấp thoải mái, nhanh, nhẹ.

Đứng trong bếp, Kim hỏi với ra:

– Lễ Giáng Sinh ông đi nghỉ ở đâu?

– Tôi về nhà ba má tôi ba ngày và sau đó tôi lên nhà nghỉ mát ở Valdres cho qua giao thừa mới trở về lại Oslo

Kim bước ra, tay bưng hai tách, một tách cà phê, một tách trà. Vừa câu trả lời, ly trà chòng chành trên tay, Kim ngạc nhiên, hỏi:

– Đêm giao thừa mà ông ở trên núi? Không đùa chứ?

– Năm nào tôi cũng ăn giao thừa một mình ở trên núi, bốn năm rồi, quen thôi.

Đặt ly cà phê trước mặt Chris, Kim nhìn Chris như một hiện tượng lạ:

– Ăn giao thừa ở núi tuyết một mình? Không khóc?

Chris bật cười:

– Khóc! Cô làm như ba tôi nghe lời bà vợ mới, đem tôi bỏ trong rừng sâu. Cô làm như tôi là chú nhỏ Hans, anh của cô bé Grete không bằng.

– Mà sao ông lên chi tuốt trên núi để phải ăn giao thừa một mình? Buồn chết!

– Cũng hơi buồn, nhưng thú vị và ấm cúng lắm. Năm nào hên, gặp lúc trăng tròn sáng, tôi thích đi ski ban đêm.

– Còn có chuyện đi ski ban đêm nữa?

– Ờ! Ít ai được may mắn hưởng thụ đặc ân này lắm. Một mình thong thả bước ski giữa núi đồi thênh thang dưới ánh trăng vàng sáng, khung cảnh mờ mờ ảo ảo như sống trong truyện thần tiên vậy. Đêm giao thừa năm nào cũng vậy, tôi thích khung cảnh đơn côi một mình bên lò sưởi ấm, bên ly rượu thơm, đọc sách, ngủ hồi nào không hay. Quen rồi, không muốn thay đổi.

– Sao ông có nhiều thói quen quái đản quá vậy?

Chris cười, thấy vui vui vì cái chữ “quái đản” Kim vừa dùng. Bất chợt, vô tình, Chris nhìn đôi bàn tay Kim. Kim bưng ly trà bằng hai tay ôm bao ly trà, những ngón tay dài mảnh dẻ, những móng tay không sơn. Không! Không đúng, chỉ có ngón tay út và ngón tay áp út trên bàn tay trái được sơn một lớp sơn hồng cam, lối trang điểm lạ mắt. Thấy Chris nhìn đăm đăm bàn tay mình, Kim đặt ly trà xuống bàn, dấu bàn tay trái có hai ngón tay sơn bóng dưới đùi mình, hỏi lảng sang chuyện khác:

– Ông không phải người Oslo, tôi nghe giọng ông người miền Tây?

– Đúng vậy! Ba má tôi người miền Tây, Molde. Tôi được sinh ra ở miền Tây và sống ở đó đến năm tôi sáu tuổi thì gia đình dọn về Gjøvik.

– Nếu so ra thì ở đâu cũng thế. Ở Việt Nam, những người gốc Bắc, gốc Trung nhưng được sinh ra ở miền Nam, lớn lên ở miền Nam, uống nước sông Đồng Nai, Cửu Long vẫn nói giọng Bắc, giọng Trung của họ. Cho nên ông lớn lên ở miền Đông mà vẫn còn giữ được giọng quê ông.

– Đó là cô chưa nghe tôi nói chuyện với những người trong gia đình, giọng tôi còn nặng hơn nữa. Mà tại sao cô nói giọng miền Nam?

– Người Việt chúng tôi ở Na Uy nói tiếng Na Uy qua nhiều thổ ngữ khác nhau. Cô thầy dạy tiếng Na uy lần đầu tiên cho chúng nói giọng miền nào là chúng tôi nói giọng miền đó.

Kim hơi ngập ngừng:

– Tôi phải đi làm, hôm khác ông đến chơi nhá.

– Ô! Xin lỗi, tôi vô ý quá. Cô đi làm mỗi tối?

– Vâng! Tôi đâu có bị trễ đâu mà ông nói vô ý vô tứ. Thôi ông chờ tôi thay quần áo rồi tôi đưa ông xuống luôn.

Chris đưa Kim đến khách sạn.

Đêm đó, một giờ khuya, đường xá vắng tanh, tuyết về khuya đong cứng trơn trợt. Kim ra khỏi khách sạn, vừa đi vừa chạy, hai tay dang ra để lấy thăng bằng khi nhảy tránh những chỗ tuyết đong trắng trong cho khỏi bị trợt, kịp đón chuyến xe buýt cuối cùng. Trong dáng đi nhún nhảy đùa cợt với lớp băng đông cứng trên mặt đường sẵn sàng hất ngã những bước chân vô ý, Kim tưởng như chỉ có mình mình trong cái đêm khuya vắng lặng rét người này. Không cần nhìn trái nhìn phải, Kim băng qua đường. Chris đứng chờ, hai tay thọc vô túi áo khoác dài, gương mặt sáng lên khi thấy Kim vừa đi vừa nhót chân nhún nhảy. Anh đi nhanh đến bên Kim. Bỡ ngỡ qua nhanh, ánh mắt Kim vui hẳn ra, long lanh cười.

Chris nói:

– Tôi đưa cô về nhá.

Kim gật đầu không e ngại. Niềm sung sướng được đưa đón của người con gái đã trở lại với Kim sau tám năm âm thầm mong chờ, hy vọng mong manh.

Từ đấy, Chris để ý trong giờ học của anh, Kim vẫn chăm chỉ, vẫn ánh mắt đeo theo người giảng, vẫn ghi chép không ngưng tay. Nhưng những biến đổi của ánh mắt, nét mặt bất chợt thờ ơ vô hướng lúc trước không thường xảy ra nữa. Cái chuyển hướng nhìn bất ngờ, đăm đăm vô định, cô đơn trong đám đông, tất cả dần dần lùi sâu, nhường cho những nụ cười tươi mát trong ánh mắt long lanh, nhường cho tiếng cười thanh ngọt như miếng táo ngày nào Kim chia trong canteen.

Khuya hai mươi hai tháng chạp, trời tối mịt, lớp tuyết trắng sáng được xe ủi dọn từng đóng cao hai bên đường. Tuyết trắng phủ bọc những cành cây như những miếng bông gòn nằm hờ hững, chỉ chờ một rung động là rơi la đà xuống mặt đường, hoà lẫn. Màu tuyết trắng cố phụ với những bóng đèn đường để làm sáng thêm bầu trời đang ngay lúc giao mùa khi nắng bắt đầu dài thêm vài ba phút mỗi ngày.

Chris đón Kim về như thường lệ, đưa đến trước cổng lớn, ngừng xe, cố níu kéo vài câu. Kim chưa hề mời Chris lên nhà trong những đêm tối khuya, sợ làm phiền hàng xóm và hai em. Chis cũng ngần ngại, không có một cử chỉ tiến xa hơn. Ngày mai phải lái xe về Gjøvik sớm để mừng lễ Giáng Sinh cùng gia đình và đến ngày hai mươi bảy là Chris lái xe thẳng lên Valdres, hưởng đêm giao thừa một mình trên nhà nghỉ mát trên vùng núi cao tuyết phủ bảy tháng một năm. Kim phải trực đêm Giáng Sinh nên được nghỉ đêm giao thừa. Khoảng thời gian được nghỉ ngơi nhưng lại phải xa nhau đến hai tuần làm Chris hơi bần thần, làm Kim hơi bùi ngùi.

Xe ngừng, Chris đi với Kim một đoạn cho đến tận cửa khu chung cư. Lớp tuyết trắng kêu soàn soạt dưới chân hai người. Màu tuyết trắng làm bầu trời đen đặc đăm đẵm của đêm đông xứ Bắc Âu như sáng hẳn lên. Chris, người đàn ông Tây phương trên ba mươi tuổi lại rụt rè dè dặt hơn trong cách biểu lộ tình cảm với cô gái Á Đông đóng kín dưới lớp vỏ cứng cỏi. Chris sợ, sợ một sơ hở làm vỡ tan. Chris chần chờ. Kim chờ mà không biết mình chờ điều gì. Phút chia tay làm Chris mạnh dạn hơn, anh choàng vai Kim, xiết mạnh. Kim ép mình bên anh, nương theo bước chân anh, nhận hưởng hơi ấm, tay choàng ngang lưng Chris.

Cử chỉ hưởng ứng làm Chris thôi chần chờ, hỏi:

– Em lên núi đón giao thừa với anh? Anh trở về Oslo đón em.

– Không được!

– Em được nghỉ trực mà.

– Em không bỏ Loan và Hoàng ở nhà một mình được.

– Tụi nó lớn rồi.

– Em là chị lớn. Không được.

Chris không hiểu được cái chữ “chị lớn” Kim thường dùng. Loan hai mươi bốn tuổi, Hoàng hai mươi ba. Cả hai đều có tính tự lập và chín chắn. Sao Kim cứ phải tự mang trách nhiệm chăm sóc hai người em đã trưởng thành của mình. Kim hầu như không có đời sống riêng. Trong những lúc chuyện trò, bao giờ Kim cũng nhắc đến hai em, gia đình hai người chị ở Boston, ba má và đứa em út còn ở Việt Nam, đời sống Kim như cái bóng quanh quẩn bên người thân trong gia đình.

Chris không hiểu được tình gia đình khắng khít của người Việt Nam, nhưng đành chiều theo Kim. Và anh biết là mình không thể thuyết phục được Kim một khi Kim đã quyết định.

Chris đã mua một số sách đọc để tìm hiểu thêm về đất nước, con người, văn hóa, lịch sử Việt Nam. Anh mong muốn được hòa nhập cùng dòng tư duy trong Kim, để thấy mình gần gũi, được gắn bó với Kim hơn. Nhưng sách vở hiếm hoi và phiến diện, đường đến với Kim sao vẫn còn xa mờ. Anh thường nhủ thầm: “Mình sẽ cố gắng đặt mình vào hoàn cảnh của Kim”, vẫn không gặt hái gì được nhiều vì Kim kín đáo, ít khi kể về mình, Kim chỉ thường kể về gia đình, các chị, các em, về những thói quen của ba má, những ngày gia đình còn đông đủ… Đối với Kim, chuyện gia đình mình không bao giờ chấm dứt, đời sống của mọi người trong gia đình là đời sống của Kim, gắn liền.

Là con một, Chris sống nhiều cho mình như đa số những người Tây phương khác. Tự nuôi dưỡng, làm giàu con người mình, sợ xen lấn vào đời sống của người khác nên cũng khó chia sẻ đời sống riêng tư với người thân, coi đó là một tương kính. Làm sao Chris hiểu được tình gia đình, trách nhiệm với gia đình, với các em của Kim. Đành chịu.

Chris cúi đầu nhìn Kim, gọi nhỏ:

– Kim!

Cả hai dừng chân, Kim xoay người nhìn Chris chờ. Chris cúi xuống gương mặt Kim ẩn hiện ánh đèn nửa tối nửa sáng. Anh cúi gần hơn, môi chạm môi. Anh hôn, cẩn thận, đầm ấm. Kim bỡ ngỡ. Kim mềm người. Thân thể Kim dựa sát vào bờ ngực rộng cứng. Chris xiết vòng tay. Kim vòng tay quanh lưng anh, xiết chặt. Nụ hôn tham lam hơn, nồng nàn hơn. Ngực Kim rướn cao, ép chặt vào Chris. Lâu lắm. Chris không muốn đi tiếp, ép mặt mình vào mái tóc thơm thoang thoảng. Thật lâu, tưởng chừng như không gian ngưng đọng. Tiếng chân người đi tới gần. Bừng tỉnh, Kim xoay người, thoát vòng tay Chris, nói:

– Anh về để mai còn đi sớm, đừng đưa em lên cầu thang, hàng xóm đang ngủ. Chúc anh đêm Giáng Sinh vui với gia đình. Ngày mồng ba anh về lại Oslo?

– Anh gọi điện thoại cho em. Nhưng từ hai mươi bảy là anh không gọi từ miền núi được.

– Em biết, anh đừng lo, từ ngày hai mươi bảy là em không chờ điện thoại đâu.

Kim hôn nhanh lên má Chris rồi nhót chân nhẹ nhàng mở cửa khu chung cư. Chris gọi níu kéo:

– Kim!

– Dạ?

– Anh nhớ hương tóc em.

Kim cảm động, nhưng rồi tính nghịch ngợm từ đâu kéo lại. Kim nheo mắt trả lời:

– Em cho anh chai dầu gội đầu của em nha?

Chris bật cười. Kim lạ lắm. Trong cái dịu dàng đầm ấm, cái tính nghịch ngợm đôi lúc nổi lên như trong bịch kẹo ngọt có lẫn lộn một vài viên kẹo mằn mặn làm mùi vị ngọt thêm đậm đà. Chris yêu cái nghịch ngợm ngấm ngầm trong con người Kim dịu dàng nhỏ nhẹ.

Từ đêm đó, Kim thôi không tô lớp sơn hồng nhạt cho ngón tay áp út và ngón tay út trên bàn tay trái nữa.

***

Đêm giao thừa, Kim nằm đọc sách một mình ở sô pha, không TV, không radio. Loan và Hoàng đi Drammen dự tiệc giao thừa ở gia đình anh chị Nương, anh chị đi cùng chuyến tàu hồi vượt biên ở Phan Thiết. Kim muốn nằm nhà nghỉ ngơi, nhưng thật ra cũng muốn tránh mặt Toàn. Toàn qua trước Kim ba năm, hơn Kim một tuổi, đang làm thông dịch cho văn phòng tị nạn Oslo. Sau một thời gian sống với người tình Na Uy, Toàn không tìm được sự hòa đồng trong gia đình người yêu, lạc lõng trong những người thân của nàng, trong những buổi họp mặt gia đình. Không quen được lối sống chia đôi sòng phẳng đến độ làm Toàn thắc mắc: “Đó có phải là kết quả của cái gọi là cách mạng bình đẳng nam nữ mà phụ nữ Na Uy đã tranh đấu và đang chứng minh.”

Quen Kim trong một buổi văn nghệ tất niên ở Moss, Toàn theo đuổi Kim từ đó. Không vồn vã bộp chộp như Đạo, không âm thầm nhút nhát như Cảnh, hờ hững, được thì vui, không thì thôi. Lơ lơ lửng lửng, Kim không hiểu được lòng mình. Cô đơn dằn vặt, mong ước một vòng ôm, Kim thử lòng mình, nhận lời đi chơi với Toàn. Dạo dọc con đường Karl Johan theo hướng đến rạp ciné Saga, Toàn nắm bàn tay Kim mềm mại. Không một xúc động nơi Kim. Kim ngồi yên khi vòng tay Toàn choàng ôm vai mình trong bóng tối rạp ciné, không hưởng ứng, không từ chối, không nghiêng đầu nũng nịu. Ra khỏi rạp, Toàn đề nghị đi ăn, Kim thất vọng cho chính tình cảm lạnh nhạt của mình, viện cớ mệt, muốn về nghỉ.

Kim tìm kiếm bờ vai rộng, vòng tay cứng mạnh, một bóp tay nóng ấm đầy sức ham muốn. Không có nơi Toàn! Giao thừa năm nay, Kim biết sẽ có mặt Toàn trong đám bạn nhà anh chị Nương, sẽ có khiêu vũ nhỏ trong gia đình. Toàn sẽ mời mình, mình sẽ để Toàn kéo sát trong điệu slow, sẽ ngượng ngập làm bộ thả mình theo bước chân Toàn dìu. Kim đã lựa chọn, một sự lựa chọn làm ray rứt nỗi cô đơn.

Còn nhiều sách Kim đã gia hạn mượn ở thư viện Deichman nhưng không có thì giờ đọc. Ít khi nào Kim được nghỉ liên tiếp ba ngày như lần này, được thảnh thơi đọc sách ba ngày không bị gián đoạn, nghe nhạc liên tục, nhạc của mình, một hạnh phúc hiếm hoi. Bụng hơi đói, nhưng lười biếng hâm lại nồi thịt kho với trứng luộc, Kim nằm dài trên sô pha đọc sách bên tách trà cũng đã nguội từ lâu.

Còn nửa tiếng nữa là đến giao thừa. Đặt quyển sách xuống bàn, rờ chừng tách trà, nguội tanh, lâng lâng nghĩ ngợi mông lung: Chắc Chris đang ngồi nhâm nhi ly rượu trước lò sưởi, đọc sách. Kim lắc đầu: Thật không hiểu được người Na Uy. Trời lạnh ngắt, tối mờ mờ, mặt trời lên chỉ được vài tiếng đồng hồ mỗi ngày, rừng núi âm u vắng vẻ, tuyết không là tuyết mà cứ nhất định lên đó, đi cho được chỉ vì đó là thói quen hàng năm vậy thôi

Kim lan man nghĩ đến những cái vui vui, những cái bâng khuâng, lúc này, lúc kia… Và nụ hôn khi chia tay làm Kim thẫn thờ khi chợt nhớ tới, cả tuần nay. Chris chín chắn, có cái nhìn rộng rãi về nhiều mặt trong cuộc sống. Chỉ phải cái tội khư khư không thay đổi thói quen. Chắc tại sống tự lập độc thân lâu năm quá rồi sanh ra sợ thay đổi. Chắc tại là con một, quen được nuông chiều. Hừm… ông tướng cứng đầu! Ước chi có Chris ngồi sát kế bên lúc này, mỗi người một quyển sách, thế thôi. Ấm cúng! Ôi sao thèm nhớ hơi ấm, sao ước mong một vòng tay xiết mạnh…

Nghe tiếng chuông reo ở cửa, Kim vừa xỏ chân vô đôi dép mang trong nhà, vừa lẩm bẩm: “Bà chị Gry hàng xóm này lại thiếu sữa đây.”

Mở cửa ra. Chris đứng đó. Quần áo không được tươm tất lắm như mọi ngày, tóc còn lấm tấm tuyết đang rơi ngoài đường. Anh đứng phủi phủi đôi giày dính tuyết trên tấm thảm cứng ngoài phòng khách, ngước nhìn Kim. Ánh mắt long lanh sau làn kính cận còn đọng vài giọt nước, không nói gì, chờ phản ứng của Kim. Kim đưa hai tay mình cho Chris nắm. Chris bước vô phòng khách, kéo Kim sát mình, vói một tay đóng cửa lại. Những ngón tay lạnh cóng lòn vào tóc Kim, Kim rùng mình khi mấy ngón tay lạnh ấy vừa chạm vào cổ. Chris cúi xuống, đôi môi ngọt ấm. Kim không hỏi. Chris không giải thích. Cả hai đã hiểu nhau. Kim sung sướng nhón chân, vòng hai tay quanh cổ Chris, môi nồng nàn, mềm ướt.

Tháo mở tấm khăn choàng cổ màu xám, Kim vùi mặt vào cổ Chris hít hít tìm hơi hướng, thật lâu. Ánh mắt ngây dại, nhịp tim nghẹn cứng, Chris đứng im, lặng tận hưởng đôi tay Kim âu yếm cởi áo khoát cho mình, treo lên móc áo.

Trên sô pha, ngồi trong vòng tay Chris, chân co nghiêng gát lên đùi Chris, Kim nũng nịu:

– Em không có rượu mời anh.

– Anh không cần rượu.

– Đêm giao thừa mà.

– Em không uống rượu thì anh cũng không thèm rượu. Có em trong vòng tay, ngồi xem chương trình ca nhạc dành cho hoàng tộc Anh mỗi năm, không hạnh phúc nào bì được. Còn mười phút nữa, em mặc thêm áo len, mình ra ban công xem thiên hạ đốt pháo bông.

Kim ngần ngại.

Đây là cái Tết thứ hai, Kim nhấn định đóng cửa nằm nhà, không ra xem pháo bông. Năm đầu tiên đón giao thừa ở nhà mấy người bạn cùng tàu. Gần đến giao thừa, những em nhỏ trong xóm không chờ được lâu đã bắt đầu đốt lai rai. Tiếng pháo nổ xì, xì, đùng, tiếng pháo nổ liên tục rồi tắt ngấm… tiếng súng bắn theo chát chúa, liên tục… những người lính ngã gục, Hải ngã gục… Hải chạy vô rừng sâu thâm thẩm… Hải gục xuống, máu me đầy người, Hải quần quại đau đớn, một mình, tối đen đẫm đặc rợn lưng… Hải trườn người, hai cùi chỏ rướm máu kéo lê thân hình, đôi chân không cựa quậy… đôi chân không còn sức cựa quậy… bóng Hải mất hút sau bức tường rong xanh mốc ẩm… bóng Hải mất hút trong khí rừng mờ ảo… Kim đi vội vào toilette, ngồi co ro trong phòng tắm, lấy giấy chậm lên mắt, giữ miếng giấy cho những giọt nước mắt đừng rơi xuống má. Ngồi thật lâu, chờ tiếng pháo bớt dần, lấy lại bình an, Kim ra phòng khách, ngồi vào một góc sô pha, không ai để ý. Loan nhìn chị, ánh mắt thắc mắc. Kim lảng vờ quay ra nói chuyện với những người khác. Từ đó, nếu không có phiên trực đêm giao thừa, Kim đều đóng cửa, nằm nhà đọc sách, không đón giao thừa, không tiệc giao thừa. Kim cố tìm sự thanh thản cho tâm hồn mình, hưởng thú vui cô đơn đôi lúc thắt tim.

Và bây giờ, Chris nhắc Kim mặc thêm áo ấm để ra ban công xem pháo nổ. Biết nói sao đây. Biết làm sao đây. Đành vậy! Kim nghe lời Chris, lấy cái áo len dầy nền màu đỏ xậm với những mẫu đan màu xanh đậm và màu trắng lẫn lộn, mẫu đan truyền thống theo màu sắc truyền thống của Na Uy, quà Giáng Sinh của Chris. Đôi vớ len dầy cũng màu đỏ xậm. Chris sung sướng nhìn Kim: “Cô nàng thật dễ thương trong cái áo len đậm màu.”

Đứng dựa lưng vào người Chris, trong vòng tay ấm áp, Kim thấy bình an quá. Hạnh phúc đã trở lại với Kim. Bình an đang bao phủ Kim. Mười hai giờ đêm, pháo nổ tung mọi phía. Mặc cho pháo nổ, Chris xoay người Kim, nâng mặt Kim, nhìn Kim thật sâu, thật đầm ấm, thật nghiêm trọng, anh thì thầm: “Anh yêu em! Từ đây anh sẽ giữ em thật chặt trong vòng tay anh. Em có biết là anh yêu em không?”

Pháo như ngưng nổ hẳn, nít thở, chờ Kim. Kim đan tay mình trong tay Chris, khẽ gật đầu, rồi xoay người dựa hẳn vào anh, kéo vòng tay anh bao chặt mình, thiệt chặt. Sung sướng. Đêm bao phủ an bình. Đêm ngập tràn hạnh phúc.

Kim chọc Chris:

– Chạy xe bốn tiếng đồng hồ từ miền núi cao, về đây không tiệc không tùng, đói bụng chưa?

Chris gật đầu thú thiệt.

Tô mì gói với chút giá, chút rau, mấy lát thịt là bữa tiệc cuối năm của đôi nhân tình khi đất trời giao hoan. Vị cay nồng của nước lèo, đôi tay Kim dịu dàng chăm chút gắp thêm cho mình vài lát hành, vắt chút chanh làm lòng Chris lâng lâng, làm ánh mắt Chris ngây ngô như mới biết yêu lần đầu.

***

Thời tiết bốn mùa ở Na Uy không chia như những nước khác. Mùa đông được tính từ tháng mười hai, tháng một và tháng hai. Mùa xuân từ tháng ba, tháng tư và tháng năm. Cứ thế tiếp tục mỗi mùa ba tháng. Trời cuối tháng ba, tuyết trắng làm mặt đường đầu xuân càng thêm rực sáng. Mùa tuyết được cho là ấm cúng trọn vẹn khi nào tuyết trắng phủ đầy hai bên đường, phủ đầy sân cỏ bên hông nhà. Mặc dù nắng ngày “xoay chiều” từ ngày hai mươi mốt tháng mười hai, mỗi ngày nắng dài thêm năm ba phút, nhưng mãi đến tháng ba người ta mới bắt đầu nhận thức được khoảng thời gian nắng ngày càng lúc càng rực rỡ và chiếm nhiều thời gian hơn của một ngày. Nắng ngày càng lúc càng dài, nóng hơn, chói chang hơn, tuyết óng ánh hơn và lòng người hớn hở hơn.

Năm nào người Na Uy cũng mong chờ những ngày nghỉ lễ Phục Sinh trên miền núi tuyết ấm. Nắng miền núi cao nóng rực làm gương mặt hồng đỏ, xóa nhanh màu da trắng mét sau năm tháng thiếu nắng. Cái hãnh diện trẻ con của người Na Uy là gương mặt nâu đỏ sau những ngày lễ Phục Sinh thường vào cuối tháng ba, đầu tháng tư, hãnh diện được may mắn đi trợt tuyết trên những miền núi cao tuyết ngút ngàn, được ngồi dựa vách đá hứng nắng xuân, húp từng ngụm cacao sữa nóng, cắn miếng kẹo chocolate Freia dòn rụm.

Chiều chủ nhật đầu tháng ba, trước lò sưởi trong phòng khách nhà Chris, nằm dài trên sofa, duỗi chân gác lên đùi Chris, Kim say mê đọc quyển Folket på Innhaug của Anne Karin Elstad, người văn sĩ nữ đã viết rất nhiều về đời sống, những biển chuyển tâm tình của những người đàn bà Na Uy qua nhiều thế hệ. Đặc biệt miền Tây Na Uy, Molde, Kristiansund, Mør og Romsdal, cả quê nội và quê ngoại của Chris. Kim tìm đọc hầu hết những quyển sách của người nữ văn sĩ này. Đọc để tìm hiểu, đọc để thấy vai trò người đàn bà Na Uy biển chuyển không ngừng theo nhịp sống xã hội chung quanh, theo thời gian.

Đọc để so sánh. Có một điều làm Kim ngạc nhiên khi khám phá ra rằng những cái nhìn của xã hội đặt trên vai người đàn bà và ngay cả cách suy tư của chính những người đàn bà Na Uy cùng thời với má mình, còn nặng nề phong cách, còn gò bó lẩn quẩn với bổn phận trong gia đình hơn cả phụ nữ Việt. Người phụ nữ Việt sống trong chiến tranh, không còn quanh quẩn với nồi cơm, cái áo. Người phụ nữ Việt xông pha ngoài xã hội, thay chồng gánh vác gia đình, để rồi sau chiến tranh lại phải lặn lội nuôi chồng trong các cải tạo mịt mù, năm năm, mười năm. Người phụ nữ Việt không là những con mèo làm đẹp phòng khách, không là những con chó lông xù chỉ biết đùa vui với cậu ấm cô tiểu thư. Ngươì phụ nữ Việt Nam biết xông xáo ngoài đời, kê vai cùng chồng chia sẻ cái trách nhiệm gia đình.

Thế mà sách vở ở Tây phương cứ lấy làm thương hại cho đàn bà Á Đông phải sống gò mình dưới quyền lực cha, chồng và con trai. Họ quên hay không muốn quan tâm đến cái thế đứng độc lập của người phụ nữ Việt Nam được biểu lộ qua cách vẫn giữ tên họ của mình sau khi lập gia đình. Họ không hiểu ý nghĩa lệ thuộc gia đình chồng của người phụ nữ Tây phương qua cách đổi tên họ khi lập gia đình. Cả một sự hiểu lầm to lớn! Kim cười thầm.

Chris, tay cầm quyển The Little Drummer Girl của nhà văn trinh thám nổi tiếng John Le Carré, đắm chìm theo từng trang sách, tay xoa bóp bàn chân Kim ấm dưới lớp vớ đen mịn. Tiếng violin lúc bừng bừng sức sống, lúc trầm dịu thiết tha, lúc đậm đà hương đêm trong Liên Khúc Bốn Mùa của Antonio Vivaldi văng vẳng từ góc phòng làm không khí đêm xuân thêm ngọt ngào những ước muốn âm ỉ từ lâu.

Chris đặt quyển sách xuống, choàng người về phía Kim, tách lấy quyển sách khỏi tay Kim. Nhìn mắt Kim, Chris hỏi:

– Em về đây ở luôn với anh nha?

Kim không ngạc nhiên vì câu hỏi này. Kim đã lường trước. Kim lắc đầu:

– Không được!

– Có gì trở ngại cho em không? Loan và Hoàng? Em không yên tâm cho tụi nó?

Chris tưởng mình đã hiểu, hiểu cái trách nhiệm “người chị lớn” của Kim, nhưng Chris chưa hiểu hết, làm sao hiểu được nền văn hoá của một nước chỉ qua vài quyển sách, chỉ qua một vài người bạn gốc gác nước đó.

Kim lắc đầu:

– Loan và Hoàng chỉ là một lý do nhỏ thôi. Nhưng em không về sống với anh được.

– Em chưa yêu anh?

Kim tránh trả lời câu hỏi của Chris, nắm tay anh, cố giải thích. Lúc này, Kim mới thấy khả năng tiếng Na Uy của mình vẫn còn nhiều giới hạn, Kim cố gắng:

– Con gái Việt Nam không về sống khơi khơi với một người đàn ông, dầu đó là người yêu mình.

– Sao em gọi là “sống khơi khơi”? Hai chúng mình sống chung với nhau, chia sẻ nhau cuộc sống, anh muốn bảo bọc, lo cho em.

– Em dùng chữ “sống khơi khơi” không đúng để nói về việc sống chung với anh. Nhưng từ “khơi khơi” là để chỉ cái việc đến ở chung với anh. Em biết giải thích thế nào đây. Nhưng em thấy bây giờ thì không thể được.

Chris buồn, bỏ đi vào nhà bếp pha thêm trà cho Kim và cà phê cho mình. Anh biết, một khi Kim đã từ chối thì khó mà thuyết phục. Kim chùng lòng, nhìn theo Chris, không biết nói sao cho anh hiểu. Chris bưng ly trà nóng để trước mặt Kim, giọng buồn buồn:

– Em dùng thêm bánh táo nha?

Kim lắc đầu, ngồi gần lại bên Chris, nắm tay anh áp lên má mình, nghiêng dựa vào vai anh. Bao nhiêu buồn giận tiêu tan, Chris vươn tay kéo Kim vào lòng mình, hôn lên mái tóc thoang thoảng hương thơm. Lả lơi vòng tay quanh cổ Chris, Kim kéo đầu Chris sát mặt mình, duỗi chân nằm dài trên sofa. Theo đà, Chris trườn người nằm phủ lên Kim. Đôi môi nóng miệt mài, bàn tay nóng tìm kiếm da thịt mịn ấm rung động. Giọng Chris thiết tha nài nỉ:

– Nói đi Kim, nói rằng em yêu anh bằng ngôn ngữ nước em, nói em yêu anh bằng ngôn ngữ tận cùng trong tim em đi Kim.

Kim lặng thinh. Kim lẩn tránh. Sự lặng thinh, lối lẩn tránh lập đi lập lại nhiều lần đã tạo thành vết chàm trong tim Chris. Vòng tay mềm xiết chặt, nụ hôn ấm ngập đầy không xóa được vết chàm ấy trong tình yêu Chris dành cho Kim. Vết chàm vì một câu nói đậm sâu nhất mà Kim luôn luôn tìm cách khỏa lấp. Lần này, tiếp nhận sự im lặng, Chris biết là từ nay mình sẽ không bao giờ nài nỉ nữa, và anh biết vết chàm này sẽ tiếp tục làm nhói tim anh.

Trong bữa cơm ngày hôm sau, Kim kể cho hai em nghe về ý định muốn sống chung của Chris. Loan ái ngại hỏi:

– Bộ chị không yên tâm bỏ hai em sống một mình trong căn nhà này à.

– Không phải vậy.

– Sẵn đây em muốn cho chị biết là tuần tới, anh Thái sẽ lên thăm mình và xin phép chị cho tụi em làm đám cưới vào hè này.

Kim vui mừng:

– Ừ! Được đấy, Thái ra trường, về đây là vừa. Chờ Thái lên rồi mình bàn chuyện cưới hỏi sau.

Hoàng tiếp theo:

– Em cũng đã xin lên học ở Trondheim, nếu được chỗ thì em học đến bốn năm, ở nội trú. Vậy thì nhà này cho anh Thái với chị Loan. Chị Kim còn ngại gì mà không về ở với ông thầy giáo trẻ của chị.

Kim lắc đầu:

– Không hoàn toàn là vậy. Con gái Việt Nam không ai khơi khơi về ở chung với người ta, không cưới không hỏi gì cả, đâu có được.

Hoàng cười to:

– À! Té ra chị cổ hủ, còn ông Chris nhà mình đọc sách cho cố mà không hiểu ý của người đẹp, đầu to mà chậm tiêu. Để em gọi điện thoại giảng cho ông ấy một màn là ông ta tới quỳ dưới chân người đẹp, xin bàn tay người đẹp liền.

Kim dơ đũa gõ lên đầu thằng em bộp chộp, nói:

– Đó không phải là cổ hủ. Mình còn ba má, mặc dù ba má không ở đây, chuyện lấy chồng phải xin phép ba má. Nếu mình không cho người ta thấy lòng kính trọng của mình đối với ba má thì làm sao mình đòi hỏi người khác phải kính trọng ba má. Anh ấy chưa hiểu phong tục của nước mình, từ từ rồi anh sẽ hiểu.

Loan phụ thêm:

– Chị nói đúng đó. Người Việt mình đâu có chuyện thương nhau rồi rủ nhau về ở chung như tụi Na Uy, chán nhau thì đường ông ông đi, đường tui tui đi, dễ bỏ nhau quá. Cứng như chị thì người ta mới nể.

– Đâu phải chị muốn anh Chris nể mình bằng cách này. Văn hóa mình thế đó, con người mình thế đó, yêu mình thì chấp nhận văn hóa mình, con người mình, cũng như mình chấp nhận hòa nhập vào xã hội này. Thế thôi.

Hoàng cầm đũa, dư dư trước mặt Loan:

– Ông Thái với chị có màng gì tới ba má không?

– Có chứ, anh Thái định lên bàn với chị Kim để xin ý kiến.

Kim gật đầu:

– Thái tính như vậy là phải đó. Ba má mình và ba má Thái không câu nệ ba cái chuyện hình thức đâu. Điều quan trọng là mình biết chứng tỏ là ngày nào ba má còn sống là ba má vẫn là người hướng dẫn tinh thần của mình.

Ba ngày trước đám cưới, Kim nghỉ trực khách sạn, ở nhà một mình, viết thư cho Hải. Lòng Kim thật bình thản khi lần lần hồi tưởng đến năm tháng đã qua. Tất cả diễn ra như một khúc phim chậm: Những đậm đà tình bạn chân thật thời học trò, thời sinh viên. Những náo nức hân hoan đón nhận mọi nhựa sống của tuổi trẻ Sài Gòn. Những kỷ niệm ngọt mật trong tình yêu với Hải. Khoảng thời gian sau khi Sài Gòn mất, hoảng hốt, hoang mang, lăn mình vào dòng đời bán buôn. Những tháng ngày chờ đợi định cư ở Bataan, nỗi thất vọng về đàn ông vì suýt bị Đạo làm ẩu…

Sáng hôm sau, tan giờ học, Kim đón xe lên Maridal, đi lang thang vô rừng. Rừng thu còn ẩm ướt cơn mưa hồi tối. Lá nâu, lá vàng, lá đỏ cam treo mong manh trên cành cây, chỉ chờ một cơn gió nhẹ là rơi là đà xuống mặt đất ẩm đã đầy lá vàng úa. Kim tìm một tảng đá. Lấy trong ba lô một tấm lót ngồi một bề là len ấm, một bề là chất nhựa mỏng để ngăn hơi ẩm ướt từ mặt đất. Ngồi dựa lưng vào tảng đá, Kim lục trong ba lô, lấy ra một lá thư đã viết hôm qua. Khí trời mát lạnh, không một tiếng chân người, muôn thú cũng dường như biết tôn trọng giây phút chia tay này, Kim gởi hồn mình lang mang:

” Em biết anh sẽ hiểu em khi em chấp nhận làm vợ Chris, chôn vùi mối tình như thơ của chúng ta. Em biết lòng anh bao dung, bao giờ cũng mong cho em được sung sướng, em vui. Bao giờ anh cũng chiều chuộng em từ ly từ tí. Anh yêu em, mang em vào đời sống anh với tất cả tấm lòng chân thật của người dân Phan Thiết, người dân quê Phú long mà em không có dịp được sống hòa mình. Anh chưa bao giờ thề non hẹn biển. Cũng như em chưa bao giờ hứa hẹn lâu dài nhưng hai chúng ta tự hiểu nhau, cho nhau không cân nhắc, không thề hẹn. Cho nên chúng ta không nợ nần với nhau. Nếu anh còn sống, ở một nơi nào đó trên trái đất này, em cầu mong anh được yên vui với gia đình anh, và yêu vợ anh như ngày xưa anh yêu em. Nếu anh mất đi, em cầu cho tâm linh anh được thanh thản, đừng lo lắng cho em nữa. Em đã tìm được lại niềm vui, hạnh phúc và bình an. Anh biết là mỗi khi em yêu ai, em sống cho người mình yêu. Em chắc chắn là em sẽ tự tạo được niềm hạnh phúc với Chris. Em đốt bài thơ này trong khu rừng âm u ẩm mịt bởi vì em mất anh từ một miền rừng sâu núi thẳm. Tro tàn này sẽ thấm vào lòng đất, tình yêu chúng ta trở về với cát bụi anh nhá! Em đọc cho anh nghe đây, cười đi anh. Nếu Chó Nâu của anh có khóc là khóc cho những ngày hạnh phúc thủa xưa

HƯƠNG CHANH CHƯƠNG 1 – CHƯƠNG 2  – CHƯƠNG 3 – CHƯƠNG 4 – CHƯƠNG 5 – CHƯƠNG 6 – CHƯƠNG 7 – CHƯƠNG 8 CHƯƠNG 9,10, 11, 12

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s