Hoạt động cho người Tỵ nạn: Việc thu nhận “thuyền nhân” Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức (phần 2)

Tài liệu lịch sử của tạp chí “Nghiên Cứu Lịch Sử Hiện Đại” (Zeithistorische Forschungen)

https://zeithistorische-forschungen.de/1-2017/id=5447

Tác giả: Frank Bösch

Phỏng dịch: Phương Tôn

***

1. Chính phủ liên bang bị áp lực, đối lập thúc đẩy

2. Nhà báo đóng vai trò quan trọng trong cuộc cứu giúp

3. “Cap Anamur” và Hoạt động Xã hội Đoàn kết-Vietnam

4. Từ trại tị nạn đến thu nhận: Con đường chạy trốn và con đường hợp pháp

5. Giới hạn của sự sẵn sàng thu nhận

6. Tổng kết và viễn cảnh

***

4. Từ trại đến thu nhận: Con đường chạy trốn và con đường hợp pháp

Chính phủ liên bang Xã hội Tự do đã được nhiều bên thúc đẩy để tăng dần hạn ngạch nhận người tị nạn Đông Dương – từ các nhóm truyền thông và các TCDS, từ đối lập chính trị và liên minh quốc tế bạn. Việc một người tị nạn từ Việt Nam được đến Cộng hòa Liên bang hay không, phụ thuộc vào các quy tắc hành chánh quan liêu (bürokratischen Regel), quyết định của từng giới chức chịu trách nhiệm (Akteur) và sự ngẫu nhiên (Zufällen). Tại Việt Nam, gần như tất cả những người tị nạn đã trả khoảng 3.000 đô la cho người tổ chức giúp chạy trốn (Fluchthelfer) và các quan chức tham nhũng để được đưa đến các trại chuyển tiếp đầy ắp người ở các quốc gia láng giềng[80]. Việc trốn thoát đến đó có vô số rủi ro. Có bao nhiêu người chết đuối trên đượng vượt biển đến nay vẫn còn không rõ ràng; một số nghiên cứu nhắc đến con số có sáu chữ số, thực tế con số ít nhất là năm chữ số[81]. Ngày càng có nhiều thuyền bị cướp biển tấn công, phụ nữ bị hãm hiếp. Trong trường hợp chống lại thường bị chúng giết chết. Khi những người tị nạn đến được các trại, hành trình để đi tiếp đến một quốc gia nhất định nào đó, khi đó có thể lèo lái được một khi họ có thể chứng minh có người thân đang ở đó hoặc khi còn ở Việt Nam họ đã từng làm việc cho đất nước này. Điều này đúng trong nhiều trường hợp đối với Mỹ và Pháp, nhưng ban đầu hầu như không dành cho Cộng hòa Liên bang. Còn nếu không, họ phải đợi những hạn ngạch thu nhận người được các nước phân phối. Một lần nữa, những người tị nạn chỉ có thể có một ảnh hưởng hạn chế trong việc lựa chọn quê hương mới của họ.

Thủ tục thu nhận người của Cộng hòa Liên bang đặc biệt phức tạp, vì lợi ích của Liên bang và các tiểu bang phải được phù hợp. Nếu một tàu Đức như “Cap Anamur” muốn cứu một số người tị nạn và chuyển họ đến Cộng hòa Liên bang, họ phải báo cáo điều này cho các Tòa đại sứ tương ứng của bộ Ngoại giao, sau đó bộ thông báo cho bộ Nội vụ Liên bang (BMI). Bộ này phải quay xuống hỏi các chính quyền tiểu bang để yêu cầu tăng hạn ngạch nhận người. Câu trả lời từ các tiểu bang cuối cùng được gửi trả lui đến bộ Nội vụ và đến bô Ngoại giao[82]. Sau đó, phải có sự chấp thuận của một số bộ liên bang có liên quan đến tài chính. Tất cả điều này có thể mất nhiều thời gian. Một giải pháp nên có, nói chung là tăng hạn ngạch cho người tị nạn từ Đông Dương để tránh những yêu cầu riêng lẻ như vậy. Tuy nhiên, chính phủ liên bang và phần lớn các tiểu bang đã không chấp nhận những đề nghị như vậy.

Ban đầu, Chính phủ Liên bang lập ba tiêu chí căn bản để thu nhận người: Đoàn tụ với người thân trong gia đình, đã có sẵn liên hệ với Cộng hòa Liên bang như từng làm việc cho Tòa đại sứ hoặc cho các công ty Đức và được cứu bằng tàu có cờ Đức[83]. Trong cả ba trường hợp, số người tị nạn rất khó dự toán. Vì lý do này, nhiều tiểu bang và chính phủ liên bang đã giữ lại một số hạn ngạch trong thời gian dài, dù đã hứa hẹn từ lâu, để có thể bổ sung chúng cho những trường hợp đoàn tụ gia đình. Do đó, vào tháng 9 năm 1979, khoảng một phần ba số chổ (4.500) đã không được sử dụng, hai năm sau, hơn 2.000 trong số 28.129 chổ hạn ngạch đã bị bỏ trống[84]. Số lượng chổ hạn ngạch được tăng lên nhờ vào tàu Cap Anamur cứu cấp và do các báo cáo từ các phương tiện truyền thông về các trại tị nạn ngập đầy người.

Tương tự khó dự toán trước là với những con tàu bị đắm. Luật hàng hải quốc tế đã mở một cửa ải cho việc tiếp nhận thuyền nhân vào Cộng hòa Liên bang. Vì một thuyền trưởng có nghĩa vụ phải cứu, chăm sóc và đưa người bị nạn vào nơi trú ẩn an toàn gần nhất một khi tính mạng của họ bị đe dọa nguy hiểm trên biển. Mặc dù điều này không dẫn đến quyền được thu nhận vào quốc gia chủ sở hữu của tàu cứu nạn, nhưng về mặt đạo đức có vẻ khó hợp lý để một chiếc tàu Đức đã cứu người lại quay trở lại giao họ cho Việt Nam, nơi họ bị đe dọa trừng phạt. Khi các nước láng giềng ngày càng từ chối tiếp nhận người và trên những chiếc tàu vận chuyển hàng hóa có người tị nạn phải cần thời gian di chuyển dài hơn nên nẩy sinh chi phí lớn, làm họ không muốn cứu người bị nạn nữa. Chính phủ Liên bang thừa nhận vào cuối mùa hè năm 1978, sẵn sàng thu nhận người tị nạn được tàu treo cờ Đức cứu, nếu không có quốc gia nào khác đồng ý tiếp nhận. Điều này đã được tái khẳng định tại Hội nghị tị nạn Geneva vào tháng 7 năm 1979 và các nước công nghiệp phương Tây khác cũng khẳng định cách tiếp nhận này.[85]. Tuy nhiên, trên các tàu Đức mang cờ của các quốc gia khác như Panama (để tiết kiệm tiền lương và thuế), việc thu nhận phải được điều đình riêng lẻ.

Cũng phức tạp là sự phân phối những người tị nạn được tàu Đức cứu. Thông thường, họ thích đến Mỹ hoặc Pháp, nơi người thân của họ sinh sống, rào cản ngôn ngữ thấp hơn và một cộng đồng người Việt đã tồn tại tại đó. Trên tàu và trong các trại, các thông dịch viên phải thương lượng những ai muốn hoặc được phép di cư sang nước nào. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn, khi các nước láng giềng ở châu Á ngày càng đòi hỏi phải có xác nhận chắc chắn rằng, Cộng hòa Liên bang hoặc một quốc gia khác sẽ thực sự nhận người tị nạn, trước khi họ được phép rời tàu để vào các trại chuyển tiếp của họ. Những câu hỏi phức tạp như vậy chỉ có thể được giải quyết với sự hỗ trợ của các Tòa Đại sứ Đức tại chỗ.

Câu hỏi về việc người tị nạn gặp hiểm nguy khẩn cấp trên biển thực sự hay không, rất khó trả lời và quyết định là do thuyền trưởng. Thường thì những chiếc thuyền vẫn còn chạy được và sự hiểm nguy khẩn trên biển có thể dự đoán được hơn là cấp tính (akut). Ở đây, những người tị nạn cũng có thể ảnh hưởng tích cực đến sự tiếp nhận của họ: họ vẫy cờ với chữ SOS và một số tàu Đức báo cáo rằng những người tị nạn đã tự đánh chìm thuyền của họ bên cạnh tàu để buộc phải được cứu. Những người khác báo cáo rằng họ đã kéo một chiếc thuyền hai lần, nhưng họ vẫn liên tục chạy đến một giàn khoan dầu của Đức ngoài khơi Việt Nam, chỉ để được “cứu”[86]. Ngoài ra, cuộc cứu người tị nạn cũng xảy ra xung đột với lực lượng an ninh Việt Nam: Khi hai tàu Đức “Nordertor” và “Alexanderturm” vào tháng 7 năm 1979 kéo một chiếc thuyền vượt biển đến Singapore, họ bị một tàu hải quân Việt Nam bắn trước mũi tàu, để đòi hoàn giao con thuyền của người vượt biên mặc dù tàu nằm ngoài hải phận Việt Nam[87]. Tất cả điều này có nghĩa là việc giải cứu người tị nạn được nhiều thuyền trưởng cảm thấy như một gánh nặng và từ đó xảy ra cáo buộc, những chiếc thuyền vượt biên bị các tàu buôn làm ngơ một cách có hệ thống.

Những người tị nạn có lời hứa chấp nhận được nhận vào một nước thứ ba sau khi được cứu, được gửi đến các trại chuyển tiếp thuộc thẩm quyền của quốc gia này và Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR). Tại đây, họ được phép ở lại ba tháng đến khi rời khỏi đất nước, đôi khi sáu tháng đến khi nước thứ ba đưa họ về nước. Vì thời gian tạm trú ngày càng kéo dài hơn, điều này dẫn đến xung đột giữa các quốc gia chuyển tiếp và các Tòa đại sứ Đức[88]. Trong khi Hoa Kỳ và Pháp đưa người tị nạn ra khỏi các trại để đưa về nước một cách có hệ thống, Cộng hòa Liên bang lại thường nhận người được cứu trên biển, điều này hợp pháp hóa việc nhập cảnh của họ. Tính theo con số tuyệt đối, Cộng hòa Liên bang thu nhận nhiều người tị nạn Đông Dương hơn các nước châu Âu khác; tuy nhiên, so về dân số, các nước láng giềng nhỏ như Bỉ và Hà Lan đã thu nhận nhiều người hơn.

Việc lựa chọn những người tị nạn từ các trại vào năm 1979 xảy ra từng bước. Một số tiểu bang ban đầu muốn tự mình chọn “người tị nạn” và bày tỏ mong muốn về trình độ giáo dục và tuổi tác[89]. Cuối cùng, họ chấp nhận rằng các đại diện của các Tòa đại sứ và các tổ chức viện trợ của Đức, một mặt phần lớn nhắm đến đến những người tị nạn được đào tạo kém nhưng ở trong trại lâu hơn và mặt khác là những người được đào tạo nghề tốt[90]. Nói chung, vào năm 1979, nguyên tắc chọn người tị nạn: nhắm đến độ tuổi, trình độ học vấn và thời gian chờ đợi, để nhằm cải thiện cơ hội hội nhập về sau. Để chăm sóc cho người tị nạn trong các trung tâm tiếp nhận, Cộng hòa Liên bang đã tăng đáng kể quỹ cứu trợ nhân đạo ở nước ngoài vào năm 1979: tổng cộng từ 23 triệu DM lên 64 triệu DM. Phần lớn nhất của quỹ cứu trợ dành cho các tổ chức quốc tế như Hội Hồng Thập Tự và Tổ chức cứu đói thế giới (Welthungerhilfe), Ủy viên Tị nạn LHQ (UN-Flüchtlingskommissar), Diakonische Werk của Hội Thánh Tin Lành và Hiệp hội Caritas của Công giáo[91]. Qua đó cho thấy, chính sách này chỉ nhắm vào các tổ chức lớn, trong khi các sáng kiến tổ chức xã hội nhỏ hơn như “Cap Anamur” không nhận được sự hỗ trợ nào.

Những chuyến chuyển người tị nạn sang Đức được Chính phủ Liên bang tổ chức và tài trợ. Bộ Ngoại giao lo các thủ tục nhập cư và các chuyến bay. Ban đầu, một số chính trị gia đã bay cùng các nhóm người tị nạn hoặc đón họ tại sân bay để cùng hòa mình trên “sân khấu” (Szenen). Sau khi đến, những người tị nạn được đưa đến các trại chuyển tiếp như Friedland ở Niedersachsen hoặc Bergkamen ở Nordrhine-Westfalen, ở đây họ được các tổ chức từ thiện chăm sóc. Việc chuyển tiếp đến nơi cư trú về sau diễn ra có nhắm đến các mối liên hệ gia đình của họ ở Cộng hòa Liên bang[92]. Khi họ được nhận vào các thành phố địa phương, các phòng sở xã hội (Sozialamt) chịu gánh nặng lo tìm nhà ở và trang thiết bị trong nhà, đây là những thứ mà phòng xã hội thường rất thành công trong việc thu hút quyên góp (từ người dân địa phương).

Ở đây cũng cho thấy, sự hợp tác giữa bộ máy hành chánh (quan liêu – Bürokratie) và sự tham gia của cộng đồng xã hội mang tính quyết định. Một ví dụ: Tại Westerstede ở phía tây bắc bang Niedersachsen muốn nhận 20 đến 30 người Việt Nam. Tuy nhiên, vì thành phố chỉ được chính phủ tiểu bang trả tiền cho một thông dịch viên khi có 50 người Việt trở lên, do đó họ đã tăng tương ứng số người Việt được thu nhận. Trưởng phòng xã hội sau đó đã tổ chức quyên góp cùng với người dân địa phương, hiện vật quyên góp được nhiều không kể xiết và người tị nạn được giúp đỡ để ổn định cuộc sống hàng ngày: “Các bà nội trợ giúp đỡ những phụ nữ làm quen với những vật dụng thật xa lạ đối với những người đến từ vùng Viễn Đông – Treo móc màng cửa”, một nữ nhà báo đã từng quan sát kể lại[93]. Mỗi gia đình Việt Nam ở bang Niedersachsen được thành phố phát một khoản tiền 1.000 DM (chỉ một lần đầu) và 1.200 DM hàng tháng, theo đó tiền thuê nhà đã được khấu trừ. Những người tị nạn được phép đi làm việc chỉ sau nửa năm. Đồng thời, tất cả các bang mở ngay lập tức các khóa học ngôn ngữ toàn diện, bắt buộc. Qua đó, Cộng hòa Liên bang Đức đã thúc đẩy sự hội nhập của người tị nạn Đông Dương nhiều hơn các quốc gia khác.

Các chi phí nảy sinh cho hội nhập ngôn ngữ và xã hội là rất đáng kể. Chỉ riêng việc mở rộng các khóa học ngôn ngữ cho 13.000 người tị nạn Đông Dương, riêng năm 1979, ước tính từ 176 đến 200 triệu DM, tiếp sau là gần 30 triệu DM mỗi năm[94]. Tính ra, chi phí hội nhập là khoảng 15.000 DM cho mỗi người tị nạn trong năm đầu tiên, ở mức 2.300 DM trong những năm tiếp theo. Trong trường hợp tăng hạn ngạch nhận người, khi đó các bộ của liên bang đã phải xuất thêm một số tiền lớn hơn. Đầu năm 1981, họ tính toán rằng sẽ có thêm 5.000 người tị nạn với chi phí 100 triệu DM, trong đó 5 triệu DM cho vận chuyển, 68 triệu DM cho hỗ trợ học tiếng, 25 triệu DM cho giúp đỡ hội nhập và 1 triệu DM cho khoản vay sinh viên đi học (Bafög)[95]. Điều này cũng nhấn mạnh rằng, mặc dù có nhiều lo ngại, Chính phủ Liên bang ủng hộ mạnh mẽ sự hội nhập của người Việt Nam. Trái ngược với sự tiếp nhận tạm thời của những người di cư khác, như trường hợp của các “thợ khách”, vì mọi người cho rằng, người tị nạn Đông Dương sẽ ở lại vĩnh viễn.

Để nhận được các lợi ích xã hội đầy đủ, những người tị nạn Đông Dương đầu tiên phải làm thủ tục xin tị nạn, mặc dù điều này thực sự không cần thiết trong khuôn khổ thu nhận hạn ngạch (Kontingentaufnahme). Tuy nhiên, thuật ngữ “người tị nạn hạn ngạch” (Kontingentflüchtling) không phải là một tình trạng pháp lý rõ ràng cho chính quyền. Do đó, vào ngày 29 tháng 8 năm 1979, Nội các Liên bang đã thông qua “Chương trình của Chính phủ Liên bang dành cho người tị nạn nước ngoài” để hợp nhất họ với những người xin tị nạn được công nhận (anerkannten Asylbewerber). “Thuyền nhân” đã được cấp giấy phép lao động tạm thời trong năm năm, rồi có thể được gia hạn và sau tám năm trở nên vĩnh viễn. Họ cũng nhận được Bafög, giúp hội nhập vào cuộc sống nghề nghiệp cũng như các biện pháp hỗ trợ và cố vấn xã hội[96]. Bộ Nội vụ Liên bang lập luận rằng “bất cứ ai là người tị nạn hạn ngạch, đó là một quyết định chính trị của Liên bang và các tiểu bang. Trong những điều kiện nhất định, người dân từ các khu vực xung đột được thu nhận như là người tị nạn hạn ngạch”[97]. Điều này nhấn mạnh rằng những người tị nạn từ Đông Dương được ưu đãi so với những người xin tị nạn khác.

5. Giới hạn của sự sẵn sàng thu nhận

 

Trang bìa tạp chí SPIEGEL 25/1980.
trang 32 ghi rằng (S. 32):
“Tây Đức bị một làn sóng người ngoại quốc tràn ngập, phải cần có các trại tập trung cho những người xin tị nạn hoặc thậm chí cần đến các thẩm phán biên phòng để giải quyết ngắn gọn? Việc lạm dụng các điều khoản tị nạn đã thúc đẩy cuộc tranh luận về ảnh hưởng xấu của người nước ngoài và đe dọa một bảo đảm hiến pháp, là một trong những điều tốt nhất của hệ thống pháp luật của Đức.

Cuối năm 1980, sau gần hai năm, tình đoàn kết sâu rộng ban đầu với người tị nạn Việt Nam bắt đầu nghiên ngã. Điều này được thấy không chỉ qua các triệu chứng mệt mỏi thông thường xảy ra với các hoạt động cứu trợ.Trong khi một số người tiếp tục cứu người khỏi những chiếc thuyền đầy ắp người, thì lại có những người khác giờ đã phát hiện ra một lời hùng biện “Chiếc thuyền đã đầy” (Das Boot ist voll) [Lập luận chống người ngoại quốc này cũng tương tự như lập luận của Donald Trump, Tổng thống Mỹ hiện nay khi ông ta cho rằng, ‘nước Mỹ hiện nay đã đầy rồi’ – Chú thích của người dịch]. Điều này ban đầu là do số lượng người xin tị nạn tăng lên nhanh vào năm 1980 và được tiếp sức qua những cuộc tranh luận về ảnh hưởng xấu của người nước ngoài (Überfremdung). Ngoài ra, tình trạng thất nghiệp gia tăng trong quá trình khủng hoảng kinh tế vào năm 1980 đã dẫn đến tâm lý bài ngoại ngày càng tăng. Đặc biệt lần đầu tiên, CSU (Christlich-Soziale Union in Bayern – Đảng Xã hội – Thiên chúa giáo tại Bayern) đưa ra thuật ngữ “tị nạn kinh tế”. Ngoài ra, Cộng hòa Liên bang đã nhận thức được rằng mặc dù số “thợ khách” đã dừng vào năm 1973 nhưng số người di cư theo diện đoàn tụ gia đình đã tăng lên và sẽ còn kéo dài. Theo các cuộc khảo sát, trong một vài năm, người dân cho rằng, “người ngoại quốc” nên trở về quê hương[98]. Nhiều chính trị gia CDU ngày càng theo lý thuyết nam châm (Magnettheorie), theo đó sự trợ giúp tích cực, như giúp “Cap Anamur” hoạt động, làm tăng con số người tị nạn. Các phương tiện truyền thông thường xuyên đề cập rằng nhiều người Việt Nam đang chạy trốn vì lý do kinh tế, điều đó làm giảm tình đoàn kết[99]. Vào năm 1981, hầu hết tất cả các tiểu bang đã từ chối nhận thêm người tị nạn từ tàu “Cap Anamur” vì các trại chuyển tiếp của họ đã quá đầy với những người xin tị nạn.

So với “thợ khách” người Thổ Nhĩ Kỳ, người Việt Nam chỉ là một nhóm nhỏ, nhưng sự thu nhận họ được quảng bá mạnh trên phương tiện truyền thông đại chúng. Tương ứng, họ gặp phải sự thù ghét của nhóm “Cánh hữu mới” (Neuen Rechten), được hình thành từ trong các nhóm thể thao quân sự và mạng lưới chính trị[100]. Ngay trong năm 1980, hai người Việt Nam đã đến Tây Đức với “Cap Anamur” và “ZEIT” bị giết chết do nhóm cực hữu đốt nhà. Hai thủ phạm thuộc Tân Quốc Xã Đức “Nhóm hành động Đức” (Deutschen Aktionsgruppe), tổ chức này cũng đã thực hiện các cuộc tấn công vào một cuộc triển lãm về Auschwitz ở Esslingen, và tấn công nơi tạm trú của người Ethiopia ở Lörrach và một trại chuyển tiếp ở Zirndorf[101].

Trong chính phủ liên bang Xã hội Tự do, chiến lược về chính sách di cư kép đã thắng thế: Một mặt, chính phủ thúc đẩy sự hội nhập lâu dài của người ngoại quốc, mặt khác, quyết định trợ giúp những người di cư trở về lại quê hương và phân định rõ ràng để chống lại những người nhập cư mới. Trong Biên bản nội các ngày 11 tháng 11 năm 1981 ghi rằng: “Thủ tướng Liên bang [Schmidt] trong cuộc thảo luận chỉ ra rõ ràng rằng, Cộng hòa Liên bang Đức không và sẽ không phải là một quốc gia nhập cư. Giờ đây đã có một số khu vực tại các thành phố lớn có tỷ lệ người ngoại quốc từ 20% đến 30%. Điều này, cũng không phù hợp với lợi ích của mục đích hội nhập “[102]. Những quốc gia tiếp nhận tạm thời tại châu Á và các quốc gia thu nhận khác, như Cộng hòa Liên bang, đã đưa ra các quy định hạn chế khắc nghiệt hơn, do đó số người tị nạn đã giảm trong năm 1981/82, như bộ Ngoại giao hài lòng khẳng định[103]. Đồng thời, Cộng hòa Liên bang phải dung túng thêm những “người tị nạn nhân đạo” (De-facto-Flüchtling), những người đã bị từ chối quyền tị nạn nhưng không bị đưa trở lại khu vực khủng hoảng tại quê hương vì lý do nhân đạo[104].

Sự thay đổi tâm trạng (Stimmung) này cũng dẫn đến hậu quả đối với việc tiếp nhận người tị nạn Đông Dương. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1981, Chính phủ Liên bang đã đồng ý với các Thủ tướng tiểu bang về các quy định để ngăn chặn việc thu nhận người tị nạn tiếp theo từ “Cap Anamur”[105]. Nội các Liên bang sau đó đã ban hành một quy định chung rằng, “từ ngày 15 tháng 6 năm 1981 cho đến khi có thông báo mới, chính phủ sẽ ngừng chấp nhận thu nhận người được vớt từ những con tàu treo cờ Đức có nhiệm vụ hoạt động tìm kiếm và cứu nạn có hệ thống”[106]. Vào đầu tháng 3 năm 1982, các thủ tướng tiểu bang, cuối cùng cũng đã quyết định rằng những người tị nạn gặp nạn khẩn cấp trên biển sẽ chỉ được nhận nếu các bang đồng tình cung cấp một hạn ngạch nhận người tương ứng. Chỉ có duy nhất bang Niedersachsen vẫn bền chí với những cuộc thu nhận đặc biệt[107]. Ngoài ra, các Thủ tướng đã đồng ý vào tháng 10 năm 1981 tại Bad Kreuznach, không nhận thêm người tị nạn Đông Dương nào khác, ngoại trừ các cuộc đoàn tụ gia đình[108].

Khi “Cap Anamur” trở về tại cảng Hamburger, 27. Juli 1982(picture-alliance/Sven Simon)


Từ những quyết định này, sự thay đổi tâm trạng công chúng và các quỹ quyên góp ngày càng giảm sút dẫn đến sự kết thúc tạm thời các hoạt động của “Cap Anamur”. Vào ngày 11 tháng 6 năm 1982, Neudeck cuối cùng đã nói với chính phủ liên bang rằng ông sẽ dừng cuộc giải cứu trên biển và con tàu với 285 người tị nạn hiện diện trên tàu trở về lại Hamburg là chuyến cuối cùng. Mặc dù những người tị nạn này không còn được nhận

chổ theo hạn ngạch ở bất kỳ nơi nào, nhưng ít nhất ngay lập tức họ được hưởng quyền tị nạn – một lần nữa chính phủ lại sợ các báo cáo truyền thông tiêu cực[109]. Một lần nữa, bang Niedersachsen đã hào phóng chào đón “Thuyền nhân”, trong khi bang Bayern từ chối, nói rằng sau cuộc nổi dậy ở Hungary năm 1956 và CSSR (Tiệp Khắc) năm 1968, họ đã nhận 6.000 người nhiều hơn so với hạn ngạch được quy định trước[110]. Trên thực tế, Bayern hiện đang có 11.000 chổ theo hạn ngạch đề xuất.

Người ta không thể nói về sự thống nhất hoặc thậm chí là sự hỗ trợ lâu dài cho “Thuyền nhân” của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU). Neudeck đã cố gắng trong những năm sau đó một cách vô vọng với chính phủ mới Tự do Thiên chúa giáo [Liên minh giữa CDU/CSU và FDP dưới sự điều khiển của Thủ tướng Helmut Kohl từ 1982 đến 1998. Ông là người giữ chức vụ Thủ tướng lâu nhất trong lịch sử Đức- chú thích của người dịch] để giành được sự ủng hộ cho những chiến dịch cứu nạn tiếp theo. Giống như Đảng Dân chủ Xã hội trước đây, chính phủ của Kohl đã đề cập đến gánh nặng lớn của người nước ngoài, người hồi hương (Aussiedler), người tị nạn từ CHDC Đức (DDR) và từ Đông Âu[111]. Chỉ có bang Niedersachsen dưới thời Ernst Albrecht cho thấy ông sẵn sàng thu nhận nhiều người tị nạn hơn, nhưng đã gặp phải sự chống đối của Bộ Nội vụ Liên bang[112]. Ngược lại, các phương tiện truyền thông từ lâu đã tìm thấy các đề tài khác. Khi một con tàu mới có tên “Cap Anamur II” được hạ thủy năm 1986 và cứu 888 người tị nạn ngoài Biển Đông trong khuôn khổ hợp tác giữa Đức và Pháp (xem ảnh bìa hình dưới), các nhà báo hầu như không còn quan tâm đến nữa. Một lần nữa, chính các bang Niedersachsen, Baden-Würtemberg và Nordrhine-Westfalen đã cung cấp vài trăm chổ trong khi Saarland dưới quyền của Oskar Lafontaine (SPD) chỉ cấp sáu chổ và bang Bayern không được một chổ[113]. Chế độ liên bang (Föderalismus) tạo cơ hội và cũng ngăn chặn sự thu nhận người tị nạn như nhau.

Tàu Cap Anamur II (Hình bìa của tạp chí “Zeithistorische Forschungen 2017”)

Rupert Neudeck và Ernst Albrecht từ lâu đã được tôn sùng như những anh hùng của người Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang và được ca ngợi trong các cuộc hội họp của “Thuyền nhân” cho đến khi họ qua đời như là những vị cha già đáng tôn thờ (Überväter). Bản thân những người tị nạn thường nói rất tích cực về sự họ được thu nhận vào Cộng hòa Liên bang[114]. So với những người di cư khác, người Việt hội nhập vào xã hội Đức rất tốt. Một nghiên cứu về người Việt ở Hamburg cho thấy, chẳng hạn, phần lớn họ có thể tự lo cho mình về tài chánh trong những năm thập niên 1990, rằng nhiều người đã có nhà riêng và nhận quốc tịch Đức[115]. Năm 2013, 64 phần trăm thiếu niên có nguồn gốc nhập cư Việt Nam học trung học Gymnasium (bao gồm cả con cái của các công nhân hợp đồng ở miền đông nước Đức), so với chỉ 42 phần trăm người Đức không có nguồn gốc di cư[116].

6. Tổng kết và viễn cảnh

Việc tiếp nhận người tị nạn Đông Dương vào cuối những năm 1970 thể hiện một sự thay đổi nhất định trong lịch sử di cư của Cộng hòa Liên bang Đức. Ở đây, có một tác dụng tích cực đến những người tị nạn ngoài châu Âu, những người được cho rằng họ sẽ ở lại đây vĩnh viễn. Sự tiếp nhận của những người tị nạn Đông Dương ban đầu được thúc đẩy từ sự đoàn kết trong quần chúng cũng như từ các nhà báo. Chính họ đã trở thành những diễn viên quyết định để đưa những người tị nạn đến Cộng hòa Liên bang. Hỗ trợ từ TCDS thúc đẩy các chính trị gia và bộ máy hành chánh quan liêu, trong một số trường hợp, chính họ đã chủ động đưa ra những sáng kiến giúp đỡ. Nỗi bật là những hoạt động vượt qua đảng phái, trên tất cả là các nhân vật dẫn dắt (Protagonist) có quan điểm bảo thủ nhân dân, cũng như khả năng hành động của từng người hoạt động là rất ấn tượng. Ký ức về việc người Đức bị trục xuất, lại thêm do loạt phim truyền hình “Holocaust” được chiếu đồng thời, đã thúc đẩy điều này. Sự đoàn kết tích cực với những người bị đàn áp vì chính trị không để bị thu hẹp trong các chính sách đạo đức của những người tự do và cánh tả. Thay vào đó, hoạt động đã thay đổi trong giai đoạn này: Thay vì cờ đỏ, nhiều người bây giờ trở nên thực tế đi theo biểu ngữ của Hội Hồng Thập Tự, và thay vì đọc những bài diễn thuyết của Kinh thánh-Mao (Lektüre der Mao-Bibel), những sự giúp đỡ cụ thể đã đạt được tầm quan trọng. Số lượng ngày càng tăng của những người phục vụ xã hội phi chính trị hoặc những người thi hành xong một “Năm xã hội tự nguyện” (Freiwilligen Sozialen Jahr) là phù hợp với điều này. Ngoài ra, “Cap Anamur” đã chứng tỏ là tiền thân quan trọng của những tổ chức phi chính phủ (NGOs) nhỏ trong thời đại Internet, được một số người tài trợ để hoạt động và giới thiệu những hoạt động tình nguyện ở nước ngoài. Bản thân hiệp hội của Neudeck đã từng tham dự tại nhiều khu vực khủng hoảng kể từ đầu những năm 1980, những nơi ít nhận được sự quan tâm của công chúng – và do đó ít được giúp đỡ hơn.

Việc tiếp nhận người Việt Nam cũng là một điều báo hiệu trước (Vorgeschmack) các dòng người nhập cư lớn của những người tị nạn từ các nước ngoài châu Âu, đạt cao điểm vào những năm đầu thập niên 1990, mở đầu trở lại với tấn công khủng bố, với luật tị nạn khó khăn và nỗ lực cứu trợ. Trong nhiều cách nhìn, việc đối xử với những người tị nạn từ Syria trong những năm gần đây gây lại ký ức về những “thuyền nhân” một thời. Khởi đầu vào những năm 2013/14, cũng với một làn sóng giúp đỡ của xã hội công dân và phương tiện truyền thông, với nhiều người Dân chủ Thiên chúa giáo. Như với những người tị nạn Đông Dương, người tị nạn Syria đã được đưa đến nơi an toàn bằng máy bay sau khi những hình ảnh ấn tượng được công bố, và hạn ngạch thu nhận dành cho họ cũng được tăng lên. Một lần nữa, 5.000 người tị nạn hạn ngạch Syria đầu tiên đến Hanover, bộ trưởng Nội vụ Đức Hans-Peter Friedrich (CSU) đã chào đón họ[117]. Và cũng như trước đây với người Việt Nam, ban đầu người Syria được thu nhận nhiều hơn so với các sắc tộc khác, do qua truyền thông cho rằng người Syria là nạn nhân bị truy đuổi đáng tin cậy và họ được xem có kiến thức hơn và khả năng hội nhập cao hơn khi so sánh với người đến từ châu Phi. Theo làn sóng tinh thần đoàn kết đầu tiên kéo theo số lượng người xin tị nạn từ các nước khác tăng cao, dẫn đến định kiến ác cảm từ cánh hữu dân túy và chính sách di dân hạn chế. Một lần nữa, các thúc đẩy về thỏa thuận quốc tế để phân phối người tị nạn được đưa ra, nhưng sau đó lại thất bại. Cũng tương tự, trong những năm gần đây một lần nữa cho thấy cảnh người Đức chia rẻ trong việc đối phó với người lạ (Fremde), nhưng điều này cũng không thể giải quyết đơn giản với một kế hoạch-cánh tả-cánh hữu (Links-Rechts-Schemata).

Phương Tôn dịch

Tháng 5.2019

Chú thích:

[1] Vgl. Claudia Olejniczak, Die Dritte-Welt-Bewegung in Deutschland. Konzeptionelle und organisatorische Strukturmerkmale einer neuen sozialen Bewegung, Wiesbaden 1999; Dorothee Weitbrecht, Aufbruch in die Dritte Welt. Der Internationalismus der Studentenbewegung von 1968 in der Bundesrepublik Deutschland, Göttingen 2012, S. 156-161.

[2] Den besten Überblick gibt bislang folgender kurzer Artikel: Julia Kleinschmidt, Die Aufnahme der ersten »boat people« in die Bundesrepublik, in: Deutschland Archiv Online, 26.11.2013, URL: <http://www.bpb.de/170611>. Knapp: Olaf Beuchling, Vietnamese Refugees in Western, Central, and Northern Europe since the 1970s: The Examples of France, Great Britain, and Germany, in: Klaus J. Bade u.a. (Hg.), The Encyclopedia of Migration and Minorities in Europe. From the 17th Century to the Present, Cambridge 2011, S. 730-734; ausführlicher: Court Robinson, Terms of Refuge. The Indochinese Exodus and the International Response, New York 1998; Nghia M. Vo, The Vietnamese Boat People, 1954 and 1975–1992, Jefferson 2006; zu Hongkong: Yuk Wah Chan (Hg.), The Chinese/Vietnamese Diaspora: Revisiting the Boat People, New York 2011.

[3] Vgl. etwa Ulrich Herbert, Geschichte der Ausländerpolitik in Deutschland. Saisonarbeiter, Zwangsarbeiter, Gastarbeiter, Flüchtlinge, München 2001; Jenny Pleinen, Die Migrationsregime Belgiens und der Bundesrepublik seit dem Zweiten Weltkrieg, Göttingen 2012.

[4] Vgl. Michael Vössing, Competition over Aid? The German Red Cross, the Committee Cap Anamur and the Rescue of Boat People in South East Asia, in: Johannes Paulmann (Hg.), Dilemmas of Humanitarian Aid in the Twentieth Century, Oxford 2016, S. 345-370; Patrick Merziger, The ›Radical Humanism‹ of ›Cap Anamur‹/›German Emergency Doctors‹ in the 1980s: a Turning Point for the Idea, Practice and Policy of Humanitarian Aid, in: European Review of History/Revue européenne d’histoire 23 (2016), S. 171-192.

[5] Vgl. dessen Selbstsicht: Rupert Neudeck, In uns allen steckt ein Flüchtling. Ein Vermächtnis, München 2016.

[6] Daten der Bundesregierung in: Deutscher Bundestag, Drucksache 8/4278, 20.6.1980, S. 1; Plenarprotokoll 8/217, 14.5.1980, S. 17474.

[7] Vgl. Patrice G. Poutrus, Zuflucht im Nachkriegsdeutschland. Politik und Praxis der Flüchtlingsaufnahme in Bundesrepublik und DDR von den späten 1940er bis zu den 1970er Jahren, in: Geschichte und Gesellschaft 35 (2009), S. 135-175.

[8] Auch mit Blick auf Chile: Jan Eckel, Die Ambivalenz des Guten. Menschenrechte in der internationalen Politik seit den 1940ern, Göttingen 2014, S. 592-644.

[9] Demarche Botschafter USA, 11.9.1975, in: Bundesarchiv/Koblenz (BA/K) B 136 16709; Vermerk Ref. 513, 26.9.1975.

[10] Aufstellung 7.5.1981, in: Politisches Archiv des Auswärtigen Amtes (PA AA) ZA Bd. 127380.

[11] Daten 1.12.1979, in: BA/K B 136 16709.

[12] Nestroy/AA an Bundesministerium der Finanzen, 11.3.1978, in: PA AA ZA Bd. 107397.

[13] Vgl. etwa Gespräch EG/ASEAN Brüssel, 21.11.1978, in: PA AA ZA Bd. 107398; Helmut Schmidt an UN-Generalsekretär Waldheim, 24.5.1979, in: PA AA ZA Bd. 110380.

[14] Protokoll Kabinettssitzung, 6.12.1978, Punkt B, URL: <http://www.bundesarchiv.de/cocoon/barch/0000/k/k1978k/kap1_1/kap2_50/para3_8.html>.

[15] Zur Aufnahme in den Nachbarländern und weltweit vgl. Supang Chantanavich/E. Bruce Reynolds (Hg.), Indochinese Refugees. Asylum and Resettlement, Bangkok 1988.

[16] Dara Marcus, Saving Lives. Canada and the Hai Hong, in: bout de papier 28 (2014), S. 24-27.

[17] Dennis Gallagher, United States and the Indochinese Refugees, in: Chantanavich/Reynolds, Indochinese Refugees (Anm. 15), S. 230-248, hier S. 231.

[18] Eleanor Davey, Idealism beyond Borders. The French Revolutionary Left and the Rise of Humanitarianism, 1954–1988, Cambridge 2015, S. 169; Dan Nguyen Thrieu, Indochinese Refugees in France. A Study and Some Comparison with Australia, Victoria 1982, S. 294.

[19] Robinson, Terms of Refuge (Anm. 2), S. 146-150.

[20] Genscher sagte am 16.11.1978 eine halbe Million DM besonders für »Hai Hong«-Flüchtlinge zu: Genscher an Schmidt, 30.11.1978, in: PA AA ZA Bd. 107397.

[21] Werner Marx (CDU/CSU-Fraktion) an Genscher, 24.11.1978, in: PA AA ZA Bd. 107397; CDU/CSU-Fraktion, Pressedienst, 24.11.1978, und Möllemann, fdk-Tagesdienst (freie demokratische korrespondenz), 23.11.1978, in: BA/K B 136 16709.

[22] Zur (internationalen) Aufnahme: Vermerke Ref. 513 AA, 17.11. und 30.11.1978, in: PA AA ZA Bd. 107397. Albrechts Begründung öffentlich in: [o.A.,] Vietnam-Flüchtlinge. Erlösende Tat, in: Spiegel, 4.12.1978, S. 60ff.

[23] Bericht MdB Köster, 5.12.1978, und Botschaft Jakarta an Verteidigungsministerium, 29.12.1978, in: PA AA ZA Bd. 107398.

[24] Siehe Anm. 22 sowie Ernst Albrecht, Erinnerungen, Erkenntnisse, Entscheidungen. Politik für Europa, Deutschland und Niedersachsen, Göttingen 1999, S. 55-58.

[25] Wissmann an Schmidt, 4.7.1981, in: BA/K B 136 16710; Rupert Neudeck (Hg.), Wie helfen wir Asien? oder »Ein Schiff für Vietnam«, Hamburg 1980, S. 84.

[26] AA an Stücklen, 26.7.1979, in: PA AA ZA Bd. 110383.

[27] AA, 20.7.1979, in: BA/K B 136 16710.

[28] Lothar Späth (MP BaWü) an van Well (StS AA), 31.7.1979, in: PA AA ZA Bd. 110380.

[29] Deutscher Bundestag, Plenarprotokoll 8/133, 26.1.1979, S. 10565.

[30] Ref. 213, 17.1.1979, in: BA/K B 136 16709; Deutscher Bundestag, Plenarprotokoll 8/127, 17.1.1979, S. 9933f.

[31] Flugblätter (etwa JU-Schreiben an Funktionsträger der JU, 11.8.1979) in: Archiv für Christlich-Demokratische Politik (ACDP) 04-007-471-4 und 07-001-532.

[32] Zur Arbeit des Vietnam-Büros: MdB Pinger (CDU) an AA, 16.8.1979, in: PA AA ZA Bd. 110380; Presseerklärung Vietnam-Büro, 5.7.1979, in: ACDP 04-007-471-4; Elmar Brok, Deutschland-Union-Dienst (DUD) Nr. 149, 7.8.1979, S. 4; Wolfgang Hoffmann, Im Netz der Bürokratie, in: ZEIT, 23.11.1979.

[33] Vorstandsprotokolle der Grünen 1979–1981, in: Archiv Grünes Gedächtnis B I.1. 543ff. Ich danke dem Archivmitarbeiter Robert Camp für eine zusätzliche Prüfung.

[34] So Walter Althammer, stellvertretender Vorsitzender der CDU/CSU-Fraktion; Deutscher Bundestag, Plenarprotokoll 8/161, 21.6.1979, S. 12854.

[35] Vgl. Scherl, CDU/CSU-Pressemitteilung, 26.3.1975; offener Brief MdB Pfeffermann an Bundeskanzler, CDU/CSU-Pressemitteilung, 1.4.1975; Karl Carstens, 8.4.1975 in der Fraktionssitzung, 9.4.1975 im Deutschen Bundestag.

[36] Kohl, Fraktionsprotokoll CDU, 19.6.1979, S. 3, in: ACDP VIII-001-1057/1; ebenso in CDU/CSU-Fraktion, Pressedienst, 22.6.1979.

[37] Deutscher Bundestag, Plenarprotokoll 8/161, 21.6.1979, S. 12850 (Hupka) und S. 12861 (Czaja).

[38] Vgl. ebd., S. 12852f.; Strauß, Bayerischer Landtag, 24.7.1979, in: BA/K B 136 16710.

[39] Vgl. Martina Steber, Die Hüter der Begriffe. Politische Sprachen des Konservativen in Großbritannien und der Bundesrepublik Deutschland, 1945–1980, Berlin 2017 (angekündigt für August).

[40] Außenminister Vance/USA an Genscher, 16.11.1978, und Genscher an Schmidt, 30.11.1978, in: PA AA ZA Bd. 107397.

[41] Bericht an AA, 12.12.1978, in: PA AA ZA Bd. 107398.

[42] Waldheim an Schmidt, 2.7.1979, und Vorlage AA, 3.7.1979, in: BA/K B 136 16710, und 16.7.1979, in: BA/K B 106 69007.

[43] Vermerk für Kabinettssitzung, 24.7.1979, in: BA/K B 136 16710.

[44] AA, 13.2.1979, in: PA AA ZA Bd. 110832.

[45] Botschaft Hanoi, 20.10.1981, in: BA/K B 136 29942.

[46] Lasse Heerten, A wie Auschwitz, B wie Biafra. Der Bürgerkrieg in Nigeria (1967–1970) und die Universalisierung des Holocaust, in: Zeithistorische Forschungen/Studies in Contemporary History 8 (2011), S. 394-413; Florian Hannig, Mitleid mit Biafranern in Westdeutschland. Eine Historisierung von Empathie, in: WerkstattGeschichte 68 (2015), S. 65-78.

[47] B. Martin Tsamenyi, The »Boat People«: Are they Refugees?, in: Human Rights Quarterly 5 (1983), S. 348-373, hier S. 348.

[48] Joffe an Schmidt, 13.7.1979, in: BA/K B 136 16710; Josef Joffe, Stehplatz in der Hölle, in: ZEIT, 6.7.1979; [o.A.,] Barbarei in Vietnam, in: ZEIT, 22.6.1979.

[49] Vgl. Marion Gräfin Dönhoff, Völkerwanderung des zwanzigsten Jahrhunderts, in: ZEIT, 27.7.1979, sowie die dann wöchentlich folgenden Berichte über die Aktion.

[50] Vgl. [o.A.,] Flüchtlingshilfe, in: ZEIT, 28.9.1979.

[51] Vgl. Marion Gräfin Dönhoff, In eine neue Heimat, in: ZEIT, 17.8.1979.

[52] Vgl. [o.A.,] Hilfe für Flüchtlinge aus Vietnam, in: ZEIT, 3.8.1979; Gabriele Venzky, Und nun die Halskestraße, in: ZEIT, 31.8.1979.

[53] Kölner Stadtanzeiger, 13.9.1979. Weitere Presseartikel in: BA/K B 106 69008.

[54] [O.A.,] »Die Juden des Ostens – ohne ein Israel«, in: Spiegel, 25.6.1979, S. 116-124 (das Titelzitat wurde einem »europäischen Diplomaten in Fernost« zugeschrieben); Dönhoff, Völkerwanderung (Anm. 49); [o.A.,] Kein Ruhmesblatt, in: ZEIT, 30.7.1982.

[55] Rede Parl. Staatssekretär BMI von Schoeler, 23.–27.9.1979, in: PA AA ZA Bd. 110381.

[56] Presseerklärung Vietnam-Büro, 5.7.1979, in: ACDP 04-007-471-4.

[57] Rupert Neudeck, Exodus aus Vietnam. Die Geschichte der »Cap Anamur« II, Bergisch Gladbach 1986, S. 65.

[58] Vgl. Larry Clinton Thompson, Refugee Workers in the Indochina Exodus, 1975–1982, North Carolina 2010, S. 146.

[59] Zur Einordnung vgl. David Drake, Intellectuals and Politics in Post-War France, New York 2016, S. 153.

[60] Daten nach: Vermerk Sachstand AA, 21.10.1982, in: PA AA ZA Bd. 127363, sowie Eigenangaben »Cap Anamur«.

[61] Diese Selbstdarstellung bestätigte sich in einem Gespräch des Verfassers mit Rupert Neudeck (10.3.2016).

[62] Dies unterstreicht: Merziger, The ›Radical Humanism‹ (Anm. 4).

[63] Gespräch mit Rupert Neudeck (10.3.2016).

[64] Unterlagen im Archiv Cap Anamur Köln (Ordner Presse).

[65] Vgl. das Themenheft »Apartheid und Anti-Apartheid – Südafrika und Westeuropa«, hg. von Knud Andresen und Detlef Siegfried, Zeithistorische Forschungen/Studies in Contemporary History 13 (2016) H. 2.

[66] Zeitungsausschnitt mit Flüchtlingen in Düsseldorf, in: Pressemappe Archiv Cap Anamur.

[67] Skript Franz Alt/Report, 7.8.1979, in: Archiv Cap Anamur. Vgl. auch Franz Alt, Vietnam-Flüchtlinge und die Schere im Kopf, in: Neudeck, Wie helfen wir Asien? (Anm. 25), S. 148.

[68] Archiv Cap Anamur.

[69] Vgl. Finanzübersicht, 20.2.1980, in: Archiv Cap Anamur.

[70] Peter Weiss, Noch einmal Vietnam, in: konkret 9/1979, S. 6ff.; vgl. auch: Frankfurter Rundschau, 16.8.1979.

[71] Helmut Gollwitzer, Teilbare Humanität?, in: Neudeck, Wie helfen wir Asien? (Anm. 25), S. 170.

[72] [O.A.,] Ein Schiff gegen Vietnam, in: konkret 9/1981, S. 20ff. Dazu: tageszeitung, 14.12.1981.

[73] Vgl. Klaus-Dieter Pflaum, Hetze mit Krokodilstränen gegen das Volk von Vietnam, in: Neues Deutschland, 5.7.1979, S. 6.

[74] Heinrich Böll im Interview, »Auch einen Zuhälter retten«, in: Spiegel, 19.10.1981, S. 87-92, hier S. 90.

[75] Vgl. Kurzprotokoll Unterausschuss humanitäre Hilfe, 13.2.1980, Deutscher Bundestag, in: Archiv Cap Anamur; vgl. zu diesem Konflikt: Vössing, Competition over Aid? (Anm. 4), S. 355f.

[76] Kurzprotokoll Unterausschuss humanitäre Hilfe, 27.2.1980; Rupert Neudeck, Ein Boot für Vietnam, in: ders., Wie helfen wir Asien? (Anm. 25), S. 70-145, hier S. 139.

[77] Konsul Loer/Cope an Neudeck, 13.10.1979, in: PA AA ZA Bd. 110383.

[78] Abt. 3 VS-Vermerk, Januar 1981 an AA, in: PA AA ZA Bd. 127380.

[79] Vorlage für Genscher zur Bewertung der »Cap Anamur« von Ministerialdirektor Gorenflos, 26.11.1980, in: Akten zur Auswärtigen Politik der Bundesrepublik Deutschland 1980, hg. im Auftrag des Auswärtigen Amts vom Institut für Zeitgeschichte, bearbeitet von Tim Geiger, Amit Das Gupta und Tim Szatkowski, München 2011, S. 1778.

[80] Vgl. Botschaft Hanoi an AA, 8.12.1978, in: PA AA ZA Bd. 107398.

[81] 50.000 schätzt: Thompson, Refugee Workers (Anm. 58), S. 169.

[82] Vgl. neben der entsprechenden Korrespondenz des AA und BMI: Ablaufschema 1979, in: BA/K B 136 16710.

[83] Sachstand AA, 28.6.1979, in: PA AA ZA Bd. 110380; Aufstellung BMI, 9.9.1981, in: BA/K B 136 29942.

[84] Abt. 3 AA, 19.9.1981, in: PA AA ZA Bd. 127380.

[85] Vgl. AA an BMI, 22.1.1981, in: PA AA ZA Bd. 127380.

[86] DDG Hansa/Bremen an AA, 21.6.1979, in: PA AA ZA Bd. 110383; dort weitere Berichte.

[87] Botschaft Hanoi und Singapur an AA, 2.7., 4.7. und 6.7.1979, Vermerk AA, 16.7.1979, in: PA AA ZA Bd. 110383.

[88] Sachstand AA, 26.6.1981, in: PA AA ZA Bd. 127380; Botschaft Manila an AA, 19.3. und 21.9.1982, in: PA AA ZA Bd. 127381.

[89] AA Dr. Heide-Bloech (Ref. 513) an Bayerisches Staatsministerium für Arbeit und Soziales, 2.1. und 9.1.1979; Botschaft Bangkok, 20.1.1979, in: PA AA ZA Bd. 110832.

[90] Vermerk Heide-Bloech, 18.1.1979; Hamburger/AA, 15.1.1979; Botschaft Manila an AA, 16.1.1979, in: PA AA ZA Bd. 110832.

[91] Vgl. Bericht der Bundesregierung über die deutsche Humanitäre Hilfe im Ausland 1978 bis 1981. Deutscher Bundestag, Drucksache 9/2364, 23.12.1982, S. 10f.

[92] Vgl. neben der allgemeinen Korrespondenz des BMI: Ablaufschema 1979 (Anm. 82).

[93] Ruth Herrmann, Zuflucht, keine Heimat, in: ZEIT, 6.7.1979, S. 7.

[94] Unterlagen zum Programm der Bundesregierung für ausländische Flüchtlinge, in: BA/K B 126 77251.

[95] Vgl. Protokoll Kabinettssitzung, 28.5.1980, Ref II C4, 28.4.1980, und II C4 an BMI, 23.1.1981, in: BA/K B 126 77251.

[96] Programm der Bundesregierung für ausländische Flüchtlinge (im Kabinett am 29.8.1979 verabschiedet), in: BA/K B 136 16710 und B 126 77251.

[97] Protokoll BMI/Landesflüchtlingsverwaltungen, 25.9.1979, in: BA/K B 126 77251.

[98] Vgl. hierzu Herbert, Ausländerpolitik (Anm. 3), S. 241-247, S. 262-272.

[99] Vgl. Süddeutsche Zeitung, 29.8.1981; Späth ist empört, in: Frankfurter Rundschau, 12.11.1981.

[100] Zu diesem Wandel: Gideon Botsch, Die extreme Rechte in der Bundesrepublik 1949 bis heute, Darmstadt 2012, S. 86-91.

[101] Vgl. G.V., Sie haben wieder Angst, in: ZEIT, 29.8.1980; Michael Schwelien, Das zweite Todesopfer, in: ZEIT, 5.9.1980; Frank Keil, Verbrannt und vergessen, in: tageszeitung (Nord/Hamburg), 22.8.2014.

[102] TOP 4, Kabinettsprotokoll am 11.11.1981, URL: <http://www.bundesarchiv.de/cocoon/barch/0000/k/k1981k/kap1_1/kap2_48/para3_4.html>.

[103] Vermerk Sachstand AA, 21.10.1982, in: PA AA ZA Bd. 127363.

[104] Pleinen, Migrationsregime (Anm. 3), S. 139f.

[105] Etwas verklausuliert: Staatssekretär Fröhlich (BMI), Deutscher Bundestag, Plenarprotokoll 9/44, 16.6.1981, S. 2494.

[106] Ref. 32 an Chef BK, 16.7.1981, in: BA/K B 136 16711.

[107] Ergebnisprotokoll Besprechung Bundeskanzleramt mit Regierungschefs der Länder, 5.3.1982, in: PA AA ZA Bd. 127363; Vermerk Sachstand AA, 21.10.1982, in: ebd.

[108] Beschluss Ministerpräsidentenkonferenz 28.–30.10.1981, in: BA/K B 136 29942.

[109] Ref. V II2 Vorlage Minister AA, 20.7.1982, in: BA/K B 106 90292; Vermerk BMI, 9.6.1982, in: BA/K B 106 127147.

[110] Ref. V II2 Vorlage Minister AA, 20.7.1982, in: BA/K B 106 90292.

[111] Vgl. Bundeskanzleramt an Länder, 27.11.1984; Ernst Albrecht an Kohl, 8.11.1983; Kohl an Albrecht, 31.1.1984; BMI an Kanzleramt, 27.12.1983, alle in: BA/K B 136 32967; Entwurf Schreiben Kohl an Ministerpräsidenten, Juni 1983, Konzept Teltschik, 23.6.1983, in: BA/K B 136 29942.

[112] Albrecht an Kohl, 2.7.1984; AA an BMI, 9.7.1984, in: BA/K B 136 32967.

[113] Neudeck, Exodus aus Vietnam (Anm. 57), S. 38, S. 58, S. 80f., S. 116.

[114] Vgl. etwa Ly My Cuong/Barbara Ming, Zeit der Heuschrecken. Die Geschichte eines Boatpeople-Kindes, Grevenbroich 2010.

[115] Olaf Beuchling, Vom Bootsflüchtling zum Bundesbürger. Migration, Integration und schulischer Erfolg in einer vietnamesischen Exilgemeinschaft, Münster 2003, S. 87, S. 109f.

[116] Bernhard Nauck/Birger Schnoor, Against all odds? Bildungserfolg in vietnamesischen und türkischen Familien in Deutschland, in: Kölner Zeitschrift für Soziologie und Sozialpsychologie 67 (2015), S. 633-657.

[117] Eva Marie Kogel/Marcel Leubecher, Erste syrische Flüchtlingsgruppe erreicht Hannover, in: Welt, 11.9.2013.

Nguồn bài:

ENGAGEMENT FÜR FLÜCHTLINGE – Die Aufnahme vietnamesischer »Boat People« in der Bundesrepublik

https://zeithistorische-forschungen.de/1-2017/id=5447

 

Về Tác giả:

Prof. Dr. Frank Bösch

Trung tâm Nghiên cứu Sử Hiện Đại
Am Neuen Markt 1
D-14467 Potsdam

Trách nhiệm / Công việc:

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Sử Hiện Đại; Professor về Lịch sử Đức và châu Âu thế kỷ 20. tại đại học Potsdam; Cùng xuất bản tạp chí “Nghiên cứu sử hiện đại” (Zeithistorische Forschungen/ Studies in Contemporary History)

Lãnh vực nghiên cứu:

  • Sử hiện đại
  • Lịch sử truyền thông
  • Lịch sử văn hóa chính trị và xã hôi (politische Kultur- und Sozialgeschichte)
  • Biến động toàn cầu vào thập niên 1970er- và 1980er

 

Ấn phẩm xuất bản quan trọng:

Die Adenauer-CDU. Gründung, Aufstieg und Krise einer Erfolgspartei (1945–1969), Stuttgart 2001

Das konservative Milieu. Vereinskultur und lokale Sammlungspolitik in ost- und westdeutschen Regionen (1900–1960), Göttingen 2002

Öffentliche Geheimnisse. Skandale, Politik und Medien in Deutschland und Großbritannien 1880–1914München 2009

(Hg., mit Constantin Goschler) Public History. Darstellungen des Nationalsozialismus jenseits der Geschichtswissenschaft,Frankfurt a.M. 2009

Mediengeschichte. Vom asiatischen Buchdruck zum Fernsehen, Frankfurt a.M. 2011; engl. Übers.: Media and Historical Change. Germany in International Perspective, 1400–2000, Oxford 2015

(Hg., mit Lucian Hölscher) Jenseits der Kirche. Die Öffnung religiöser Räume seit den 1950er Jahren, Göttingen 2013

(Hg., mit Peter Hoeres) Außenpolitik im Medienzeitalter. Vom späten 19. Jahrhundert bis zur Gegenwart, Göttingen 2013

(Hg., mit Rüdiger Graf) Historical Social Research/Historische Sozialforschung 39 (2014) H. 4: The Energy Crises of the 1970s. Anticipations and Reactions in the Industrialized World

(Hg.) Geteilte Geschichte. Ost- und Westdeutschland 1970–2000, Göttingen 2015

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s