Hoạt động cho người Tỵ nạn: Việc thu nhận “thuyền nhân” Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức (phần 1)

Tài liệu lịch sử của tạp chí “Nghiên Cứu Lịch Sử Hiện Đại” (Zeithistorische Forschungen)

https://zeithistorische-forschungen.de/1-2017/id=5447

Tác giả: Frank Bösch

Phỏng dịch: Phương Tôn

***

1. Chính phủ liên bang bị áp lực, đối lập thúc đẩy

2. Nhà báo đóng vai trò quan trọng trong cuộc cứu giúp

3. “Cap Anamur” và Hoạt động Xã hội Đoàn kết-Vietnam

4. Từ trại tị nạn đến thu nhận: Con đường chạy trốn và con đường hợp pháp

5. Giới hạn của sự sẵn sàng thu nhận

6. Tổng kết và viễn cảnh

 

TÓM TẮT (ABSTRACT)

Tại Cộng hòa Liên bang Đức vào cuối những năm 1970, đã mở ra những hoạt động giúp đỡ cho những người tị nạn từ Việt Nam. Trong khi cho đến lúc đó, Tây Đức hầu như không nhận bất kỳ người tị nạn nào có xuất xứ ngoài châu Âu, giờ đây hàng chục ngàn “thuyền nhân” đã tìm thấy sự che chở, bảo vệ như “những người tị nạn hạn ngạch” (Kontingentflüchtlinge), họ được cứu vớt trên đường vượt biển và được đưa vào các trại tị nạn ở Á châu rồi được đưa bằng máy bay sang Tây Đức. Bài tiểu luận phân tích vai trò của các Tổ chức Dân sự (TCDS), các đảng chính trị, truyền thông và bộ máy chính quyền. Ban đầu, đặc biệt là dưới áp lực của quần chúng và quốc tế, chính phủ Xã hộ Tự do đã thay đổi quan điểm để chuyển sang chấp nhận người tị nạn Đông Dương. Tuy nhiên sau đó, các hoạt động của TCDS và của chính phủ lại bổ sung cho nhau. Áp lực cộng đồng được tạo ra, đặc biệt do các chiến dịch truyền thông và từ các sáng kiến của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chủ trương mạnh mẽ tiếp nhận người tị nạn. Trong đó, một vai trò quan trọng là “Thuyền nhân” Việt Nam được xem có mối liên hệ mật thiết với lịch sử sau chiến tranh của Đức. Bài tiểu luận còn cho thấy các kỹ thuật tiếp nhận người tị nạn và các hình thức viện trợ nhân đạo mới đã xuất hiện như thế nào, có thể được hiểu tất cả là kết quả của sự thay đổi xã hội và bộ máy nhà nước. Tuy nhiên cuối cùng, việc thu nhận người tị nạn bị chậm lại và xem như bị chấm dứt do sự xuất hiện các tiếng nói bài ngoại vào đầu thập niên 1980.

***

Chú thích

Trong ba thập kỷ đầu tiên sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, chỉ có một vài người tị nạn có gốc ngoài châu Âu đến Cộng hòa Liên bang Đức. Điều này đã thay đổi kể từ 1978/79. Hình ảnh những chiếc thuyền vượt biển đầy ngập người ở Đông Nam Á giống với những hình ảnh hiện nay ở vùng Địa Trung Hải, đã thúc đẩy sự tham gia dưới nhiều hình thức những người trong các giới chính trị, truyền thông và xã hội. Chỉ trong vài năm, Cộng hòa Liên bang đã chào đón khoảng 30.000 người tị nạn từ Đông Nam Á, sau đó là các cuộc đoàn tụ gia đình. Những người này được phép vào Đức với tư cách là “những người tị nạn theo hạn ngạch” (Kontingentflüchtlinge) trong chương trình thu nhận không theo yêu cầu đòi hỏi về quy chế tị nạn và phần lớn các phí tổn được chính phủ chi trả. Trong lúc người di cư trước đây được coi là những “thợ khách” (Gastarbeiter) tạm thời, nay chính phủ lại tài trợ rộng rãi cho các chương trình hội nhập, vì dự tính những người này sẽ không quay trở lại quê hương của họ. Nhiều người Đức đã hỗ trợ bằng cách quyên góp và giúp đỡ tận tình những người tị nạn từ Đông Nam Á. Tuy nhiên, đồng thời, nỗi sợ hãi đối với người ngoại quốc và những “người tị nạn kinh tế” đã gia tăng trong phần lớn người dân Đức từ năm 1980 trở đi. Ở giai đoạn này, câu hỏi là Cộng hòa Liên bang sẽ mở cửa đến mức nào cho những người tị nạn xuất xứ ngoài châu Âu.

Bài tiểu luận này phân tích quan điểm bấy giờ khi phải đối mặt với một số lượng lớn người tị nạn đến bất ngờ, và theo quan điểm ngày nay, để có được động lực mạnh mẽ giúp đứng lên để giúp đỡ “thuyền nhân” (Boat People) Việt Nam. Xem xét vai trò của các Tổ chức Dân sự (TCDS -Zivilgesellschaft), bộ máy quan liêu chính quyền (staatliche Bürokratie), các đảng chính trị, các phương tiện truyền thông và cách họ tương tác với sự tiếp nhận cụ thể người tị nạn. Thứ nhất, cho thấy, ngay từ đầu, trên hết, dưới áp lực công luận đã khiến chính phủ Xã hội Tự do [Liên minh giữa đảng Dân chủ Xã hội-SPD và Dân chủ Tự do-FDP. Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo của Helmut Schimdt SPD (1918–2015) làm thủ tướng và Hans-Dietrich Genscher FDP (1927–2016) làm Bộ trưởng Ngoại giao. Chính phủ Liên minh Xã hôi Tự do kéo dài từ 16.12.1976 đến 4.11.1980 – Chú thích của người dịch] chấp nhận người tị nạn Đông Dương, rồi sau đó được các TCDS và chính phủ bổ sung thêm. Lập luận thứ hai là áp lực cộng đồng, đặc biệt xuất hiện nhờ vào các chiến dịch truyền thông và qua các sáng kiến của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU) ủng hộ mạnh mẽ việc thu nhận người tị nạn. Theo luận điểm thứ ba, một vai trò quan trọng từng được đưa ra là “Thuyền nhân” có mối liên hệ mật thiết với lịch sử sau chiến tranh của Đức – đặc biệt là việc trục xuất người Đức vào cuối Thế chiến thứ hai. Thứ tư, bài tiểu luận cho thấy các kỹ thuật tiếp nhận người tị nạn và các dạng mới về viện trợ nhân đạo đã xuất hiện như thế nào để có thể được hiểu là sự thay đổi TCDS và quan liêu cửa quyền.

“Đoàn kết với Việt Nam” (Vietnam-Solidarität) cho đến nay, cũng trong các nghiên cứu, có liên quan với phong trào “68”[1]. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có một vài nghiên cứu đề cập đến Mỹ và Đông Á đã hỗ trợ cho người Việt Nam (tỵ nạn) sau khi chiến tranh kết thúc ở đó (1975). Việc thu nhận “Thuyền nhân” của Liên bang Đức hầu như không được nghiên cứu[2]. Ngay cả những nghiên cứu lớn về chính sách người ngoại quốc của Đức hoặc lịch sử di cư cũng ít nhắc đến việc tiếp nhận người tị nạn từ Đông Dương[3]. Gần đây, có hai bài tiểu luận về cách tiếp cận ban đầu liên quan đến sự tham gia nhân đạo của Cap Anamur và sự cạnh tranh giữa Cap Anamur với Hội Hồng Thập Tự Đức (DRC), nhưng cũng nhắc ít hơn đến sự thu nhận người tị nạn[4]. Căn bản tiểu luận của tôi, một mặt dựa trên các hồ sơ lưu trữ của các bộ, đảng, tổ chức và chính quyền có liên quan (như các đại sứ quán ở Đông Dương, Bộ Ngoại giao, Thủ tướng, Bộ Nội vụ, Quốc hội Đức và các ủy ban của các đảng), mặt khác, gồm các tài liệu của các tổ chức cứu trợ (đặc biệt “Cap Anamur”), các nguồn truyền thông và các cuộc nói chuyện với các nhân chứng, bao gồm cả Rupert Neudeck[5], người sáng lập “Cap Anamur” đã qua đời vào tháng 5 năm 2016.

1. Chính phủ liên bang bị áp lực, đối lập thúc đẩy

Trong ba thập kỷ tồn tại đầu tiên, Cộng hòa Liên bang Đức hầu như không thu nhận bất kỳ người tị nạn có xuất xứ ngoài châu Âu nào. Luật tị nạn Tây Đức tự do trong thực tế thật khó khăn, hạn chế. Số lượng đơn xin tị nạn và người được nhận vẫn còn thấp. Đến năm 1979, chỉ nhận được tổng cộng 230.000 đơn xin tị nạn (ít hơn so với những năm đầu thập niên 1990). Chỉ có 57.000 người trong số đó được chấp thuận và dưới 15.000 người tị nạn được nhập tịch[6]. Thay vào đó, hàng triệu người tị nạn Đức đã đến Cộng hòa Liên bang: Đầu tiên là những người Đức từng bị xua đuổi (Vertriebenen) đến từ các lãnh thổ Đức trước đây ở hướng Đông, sau đó là những người từ CHDC Đức (Cộng Hòa Dân Chủ Đức – DDR) và ngày càng có nhiều người Hồi hương gốc Đức rời bỏ quê hương Cộng Sản (Aussiedler) từ miền Trung Đông Âu. Ngoài ra, Cộng hòa Liên bang hào phóng cho người tị nạn vào nước sau các cuộc nổi dậy tại Hungary năm 1956 và Prague năm 1968[7]. Thêm vào đó, họ đã chấp thuận vào những năm 1970, cho những nhóm nhỏ hơn người Chile và người Argentina chạy trốn khỏi các chế độ độc tài ở đó [Chile với nhà độc tài Augusto José Ramón Pinochet Ugarte nắm chính quyền từ 11.09.1973 sau một cuộc đảo chánh và Argentina với độc tài quân phiệt Junta từ 1976 đến 1983 – Chú thích của người dịch]. Các thảo luận nhân quyền đã thúc đẩy điều này cũng như sự cần thiết phải đánh bóng một nhà nước dân chủ ở cấp độ quốc tế[8].

Sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam và bị quân đội miền Bắc Cộng sản chiếm đóng vào năm 1975, tại Việt Nam đã xảy ra một làn sóng người chạy trốn đầu tiên ở Đông Dương. Chính phủ Liên bang đã đáp trả bằng các biện pháp cứu trợ thể hiện ít tình đoàn kết với người Việt Nam chạy trốn hơn là cho tình đoàn kết với Mỹ. Là nơi hiện đang tiếp nhận nhiều người tị nạn Việt Nam và kêu gọi Cộng hòa Liên bang hỗ trợ cho họ – “như một vấn đề đoàn kết” (as a matter of solidarity) theo như trong nội bộ nói cùng nhau[9]. Đó là đặc tính của Cộng hòa Liên bang, mặc dù ngay lập tức họ đã lập nên chương trình viện trợ tài chính hào phóng, nhưng hầu như không người tị nạn có xuất xứ ngoài châu Âu nào được thụ hưởng. Bộ trưởng Nội vụ đã phê chuẩn tiếp nhận 3.000 người tị nạn Nam Việt Nam, nhưng chỉ có 1.000 chổ được phân phối theo các bang và số người được chọn thực sự ít hơn đáng kể[10]. Vào tháng 11 năm 1978, khi những hình ảnh về “thuyền nhân” bị chết đuối xuất hiện trên toàn thế giới, mới huy động được các chính trị gia và người dân. Trong khi đó, Mỹ đã tiếp nhận 164.000 người tị nạn Đông Dương, Pháp 43.000 và Cộng hòa Liên bang, mặc dù đã công bố, chỉ 1.300 người[11].

Trên căn bản vì nghĩa vụ có tham dự trực tiếp quân sự tại Việt Nam, Mỹ và Pháp chắc chắn cảm thấy có trách nhiệm đặc biệt để phải giúp đỡ. Tuy nhiên, thái độ hạn chế của Chính phủ Liên bang là đáng chú ý. Một lá thư nội bộ từ bộ máy quan liêu cấp bộ năm 1978 đã nói rõ rằng, Cộng hòa Liên bang “không phù hợp để chấp nhận số lượng lớn người tị nạn” và hạn số được phê duyệt là “ngoài giới hạn tối đa” (äußerste Grenze)[12]. Các đại diện chính phủ Xã hội Tự do cũng chia sẻ quan điểm này. Ngay cả trong các cuộc đàm phán quốc tế với các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên Hiệp Quốc vào cuối những năm 1970, Thủ tướng Helmut Schmidt và Bộ trưởng Ngoại giao, Hans-Dietrich Genscher đã nhiều lần tuyên bố rằng Cộng hòa Liên bang Đức bị “quá tải” do nhận quá nhiều di dân từ các vùng lãnh thổ phía đông của Đức trước đây, những người xin tị nạn và những người nước ngoài khác để có thể thu nhận thêm người Việt Nam[13]. Họ chỉ ra rằng vào năm 1978, chỉ riêng 58.000 người gốc Đức và 33.000 người xin tị nạn khác đã đến Cộng hòa Liên bang. Cũng trong nội các và trong các bài phát biểu trước công chúng, chính phủ đã nêu bật những con số như vậy để ngăn chặn lượng người tị nạn tiếp đến[14]. Ngoài ra, họ còn tỏ vẻ bất an vì dù có lệnh cấm tuyển dụng “thợ khách” (năm 1973) [Giai đoạn chính thu nhận “thợ khách” gồm ngưới Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nhưng phần lớn là người Thổ, vào Cộng Hòa Liên Bang Đức xảy ra vào năm 1945 – Chú thích của người dịch], số người nước ngoài sống ở Cộng hòa Liên bang vào cuối những năm 1970 cũng vẫn tăng lên.

Tuy nhiên, các hình ảnh truyền thông quốc tế từ Đông Nam Á kể từ tháng 11 năm 1978 đã gây rung chuyển thái độ phòng thủ này. Những bức ảnh này tương tự như những bức ảnh mà sau này được lưu hành vào năm 2013 của những người tị nạn ở Địa Trung Hải: Những chiếc thuyền cũ kỹ đông đúc người không may bị chìm, hoặc những gia đình chen chúc trong các trại tỵ nạn. Số người tị nạn đã tăng lên đáng kể từ cuối năm 1978, đặc biệt là tại các trại ở Thái Lan, Singapore và Malaysia. Ước tính tổng cộng hơn 1,5 triệu người[15]. Nhiều người chạy trốn, trước hết từ Việt Nam vì đang bị cộng sản hóa, vì trại cải tạo hoặc nghèo đói, sau đó vì cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979 và nỗi sợ chiến tranh mới. Nhiều người tị nạn từ Việt Nam là người gốc Hoa, họ phải rời khỏi đất nước vì bị phân biệt chủng tộc và kinh tế nhiều hơn sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam. Đồng thời, vào năm 1979, cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam đã dẫn đến các nhóm người khác chạy trốn khỏi đây: Người dân sợ bị Khmer Đỏ trả thù sau khi chế độ sát nhân này sụp đổ, hoặc những người muốn thoát khỏi nạn đói nghèo và chiến tranh. Tuy nhiên, trong nhận thức của công chúng, người tị nạn chủ yếu được coi là người Việt Nam.

Người tỵ nạn Việt Nam trên bong tàu vận tải “Hải Hồng”, 22 tháng 11. 1978. Trong tài liệu lưu trữ của hãng tin hình ảnh “picture alliance” bức hình được ghi dưới tên “Vietnamese Syrians” (picture alliance/AP Photo/Jeff Robbins)

Tình trạng cực kỳ phức tạp, kể từ cuối năm 1978 những hình ảnh truyền thông được cô đọng thành những thông điệp đơn giản. Đặc biệt là những bức ảnh của con tàu “Hải Hồng” vào tháng 11 năm 1978, được các hãng thông tấn quốc tế chia sẻ, thúc đẩy các nỗ lực cứu trợ của chính phủ, truyền thông và các nhóm Hoạt động Xã hội trên toàn thế giới. Họ cho thấy hình ảnh một con tàu cũ kỹ với 2.500 người đang trôi nỗi, không được cung cấp thực phẩm, y tế trong nhiều tuần lễ và đã bị Malaysia từ chối cho cập cảng. Nhiều quốc gia đã phản ứng trực tiếp. Canada ngay lập tức đồng ý rước về vài trăm người từ “Hải Hồng” và nhận thêm hàng chục ngàn người khác, cuối cùng có 200.000 người được nhận vào[16]. Mỹ cũng gia tăng nhận người dù vốn đã hào phóng về việc nhận người tị nạn[17]. Ở Pháp, những người trí thức, bao gồm những người sống sót từ Gulag và Holocaust cũng như chính phủ dưới thời Giscard d’Estaing nhập cuộc, ủng hộ việc tiếp nhận người tị nạn “Hải Hồng” và lập chiến dịch cứu “thuyền nhân”[18]. Vương quốc Anh, mà trước đó chỉ nhận vài trăm người tị nạn, đã tăng số lượng lên 10.000 người vào năm 1979 và thành lập các trung tâm tiếp nhận[19]. Ngược lại, Chính phủ Liên bang Đức ban đầu chỉ cung cấp cho chương trình viện trợ tị nạn của Liên Hiệp Quốc một khoản đóng góp tài chính lớn cho việc chăm sóc những người có nhu cầu thuộc tàu “Hải Hồng”[20]. Như thường lệ, Cộng hòa Liên bang chỉ muốn giúp đỡ bằng tiền chứ không muốn thu nhận người.

Về sau, việc hàng chục ngàn người tị nạn đã được đón vào Đức bằng máy bay Lufthansa và của quân đội là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Liên minh CDU / CSU [Liên minh giữa Dân Chủ Thiên chúa giáo-CDU và Xã hội Thiên chúa giáo tại Bayern-CSU được thành lập vào năm 1949 – Chú thích của người dịch] đã đóng một vai trò quan trọng, chính sách tị nạn sau này của họ được diễn giải theo quan điểm này. Sau khi những bức ảnh của tàu “Hải Hồng” được công bố, khối nghị viên tại quốc hội (fraktion) của họ thúc đẩy Genscher, bộ trưởng Ngoại giao để đòi tăng gói tài chính cứu trợ cho người tị nạn và bảo đảm ưu đãi cho họ được hưởng quy chế tị nạn[21]. Vào ngày 24 tháng 11 năm 1978, Thủ tướng bang Niedersachsen, Ernst Albrecht (CDU) đã thực hiện một nỗ lực ngoạn mục (đối với Đức), sau khi ngồi xem hình ảnh con tàu “Hải Hồng” trên TV cùng gia đình thân thuộc, ông ra quyết định ngay lập tức, chấp nhận đón 1000 thuyền nhân Việt Nam vào bang Niedersachsen[22]. Ngoài những người tị nạn từ “Hải Hồng” nằm trong số đó, theo yêu cầu của Genscher, còn có 450 người đã được một vài tàu vận tải Đức cứu thoát cùng lúc trên biển. Bộ trưởng Nội vụ của Albrecht, Wilfried Hasselmann một người bảo thủ, thậm chí đã bay về Á châu cùng 19 nhà báo để cùng tham gia với việc vận chuyển người được nhận từ các trại tị nạn tạo nên hiệu quả truyền thông mạnh[23]. Khi đến Cộng hòa Liên bang Đức, những người tị nạn đã được chào đón long trọng và với sự hỗ trợ truyền thông lớn của Thủ tướng Albrecht và sau đó ông cũng tự thân hành đến thăm họ trong các trại chuyển tiếp.

 

Wilfried Hasselmann, bộ trưởng bộ Nội vụ bang Niedersachsen với nhóm người tị nạn Việt Nam đầu tiên thuộc tàu “Hải Hồng” tại phi trường Hannover-Langenhagen, 3. tháng 12. 1978 (Museum Friedland; Foto: Dieter Haaßengier)

 

Hoạt động của Dân Chủ Thiên Chúa Giáo: Thủ tướng bang Niedersachsen, Ernst Albrecht (phải) và bộ trưởng Nội vụ Wilfried Hasselmann (trái) đón tiếp người tị nạn Việt Nam tại Niedersachsen, 3. tháng 12. 1978 (picture alliance/AP Photo/Helmuth Lohmann)

Những trình diễn như vậy gửi một tín hiệu về sự đoàn kết vượt xa những bức ảnh selfie với người tị nạn hiện đang được tranh cãi của bà Angela Merkel. Hành động độc lập của Albrecht đã cho Chính phủ Liên bang, giới truyền thông và dân chúng thấy những gì có thể làm được. Bản thân Albrecht cho đến lúc đó không có mối liên hệ cá nhân nào với Đông Nam Á. Ông biện minh cho hành động của mình là từ tình thương, đức ái Kitô giáo[24]. Trong những năm sau đó, Albrecht vẫn là chính trị gia hàng đầu, hoạt động nhiều nhất cho sự tiếp nhận hào phóng dành cho người tị nạn Việt Nam. Các chính trị gia CDU khác có thái độ ban đầu tỏ ra kém rõ ràng hơn đối với người tị nạn. Trong quốc hội và qua báo chí, CDU yêu cầu chính phủ nhanh chóng thu nhận thêm nhiều người tị nạn Đông Dương và tăng hạn ngạch tiếp nhận người tị nạn ở các bang mà họ đang cầm quyền. Tương tự, các thành viên CDU kêu gọi Bộ trưởng Ngoại giao hỗ trợ ngoại giao và tài chính cho tàu cứu nạn Cap Anamur của Đức; những người khác kêu gọi viện trợ cho một chiến dịch cứu cấp của Pháp[25]. Chủ tịch quốc hội, Richard Stücklen (CSU) vào năm 1979 đã khẩn cầu xin thu nhận người tị nạn từ các tàu cứu nạn nước ngoài như “Île de Lumière” của Pháp[26]. Ở cấp độ châu Âu, những người bảo thủ, tự do và đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong Đảng Nhân dân châu Âu (European People’s Party – EPP) cũng kêu gọi cử những chiếc tàu vận tải ra khơi đến cứu người tị nạn[27].

Không dừng lại ở lời nói. Trên thực tế, các bang do CDU nắm quyền, ban đầu đã tiếp nhận nhiều “thuyền nhân” hơn. Trên hết, bang Niedersachsen do đảng Dân chủ Thiên chúa giáo CDU cầm quyền là bang “dài hơi” hào phóng thu nhận nhiều người Việt Nam tị nạn nhất. Bang Baden-Würtemberg do Lothar Späth (CDU) lãnh đạo đã tăng gấp đôi hạn ngạch được phân bổ nhận người tị nạn vào năm 1979, cấp tiền cho một tàu cứu trợ của DRK (Hồng Thập Tự Đức) và thành lập một văn phòng điều phối cho các nhóm hoạt động tư nhân và công cộng[28]. Tương tự như vậy, các bang Schleswig-Holstein, Rheinland Pfalz và Bayern do Liên minh CDU / CSU cầm quyền đã nhanh chóng đưa thêm số người được thu nhận trên hạn ngạch như đã thỏa thuận. Các thành phố do CDU cầm quyền như Frankfurt am Main dưới thời thị trưởng Walter Wallmann đã quyết định, vào đầu năm 1979, đưa ra hạn ngạch riêng, tiếp nhận 250 “thuyền nhân”[29]. Đảng SPD (Dân chủ Xã hội) tỏ ra thận trọng hơn. Trong số các bang do SPD cầm quyền, ban đầu chỉ có bang Hessen chấp nhận người tị nạn trên hạn ngạch, sau đó là bang Nordrhein-Westfalen dưới thời Julian Rau. Các thành viên SPD tại quốc hội phàn nàn rằng những người tị nạn Việt Nam đang đến rất nhanh, trong khi 500 người tị nạn từ chế độ độc tài quân sự ở Argentina đã đến chậm hơn vì phải chờ đợi[30]. Những người tị nạn được ưa thích vì do phù hợp về ý thức hệ.

“Thuyền nhân” được sự ủng hộ của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đi kèm với các hành động đoàn kết trong giới của họ. Hội sinh viên Dân chủ Thiên chúa giáo (RCDS) đã tổ chức một chiến dịch gây quỹ “Giúp đỡ người Việt Nam” vào năm 1979, và Hội Dân chủ Thiên chúa giáo trẻ (Junge Union – JU) vận động những chiến dịch giúp nhà ở, tìm việc làm, tìm kiếm gia đình bảo trợ cho người tị nạn Việt Nam và bán gạo để gây quỹ. Ngoài ra, JU dưới thời chủ tịch Matthias Wissmann, yêu cầu tăng gấp năm lần số người được nhận lên 50.000 và lập một “cầu không vận” với tài chánh từ quyên góp[31]. Sinh hoạt chính trị và các hoạt động xã hội đã chan lẩn, hòa hợp cùng nhau, đặc biệt là tại “văn phòng Việt Nam e.V.” (Vietnam-Büro e.V.), một hội đoàn do Elmar Pieroth và Matthias Wissmann, dân biểu của CDU thành lập vào tháng 4 năm 1979. Hiệp hội đã thu thập quyên góp, cứu giúp y tế và được xem đã thành công lớn về việc giúp tạo công ăn việc làm cho người tị nạn Việt Nam[32]. Những hoạt động như vậy không tìm thấy ở môi trường đảng Dân chủ Xã hội. Ngoài ra, khi nhìn vào các biên bản và tuyên bố của Đảng Xanh (der Grünen) cho thấy, không có dấu hiệu nào chỉ rằng họ đang lưu tâm về vấn đề thu nhận “thuyền nhân” và sự hội nhập của người tị nạn[33].

Có nhiều nguyên nhân để đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, trước đây không bao giờ tán thành việc tiếp nhận người tị nạn xuất xứ ngoài châu Âu, giờ đây lại rất ủng hộ người “di cư cưỡng bức” (Zwangsmigration). Điểm quyết định đầu tiên là người Việt Nam chạy trốn khỏi một chế độ cộng sản. Dân chủ Thiên chúa giáo lên án về “các lệnh nổ súng chống lại những người tị nạn trên biển hoặc trên đất liền”[34], đây là hành động có liên quan đến việc trốn thoát khỏi Cộng Hòa Dân Chủ Đức (DDR). Hình ảnh những chiếc thuyền đầy kín người, các trại tị nạn có trẻ em và phụ nữ bị hãm hiếp cũng nhắc nhở nhiều cho người theo đảng Dân chủ Thiên chúa giáo về việc người Đức bị trục xuất khỏi các lãnh thổ phía đông của Đức từ năm 1945. Ngay từ năm 1975, một số người theo đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đã kêu gọi giúp đỡ người Việt Nam: “Người Đức chúng ta hiểu hơn ai hết ý nghĩa của số phận người tị nạn”, theo lời của Karl Carstens nguyên chủ tịch khối CDU/ CSU (Fraktionsvorsitzende) tại quốc hội và từ đó cho rằng “lời kêu gọi giúp đỡ cho những người đau khổ ở Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang cho đến nay có thể được lắng nghe”[35]. Năm 1979, Helmut Kohl, chủ tịch khối CDU tại quốc hội cũng đòi hạn ngạch nhận người tị nạn chiếu theo kinh nghiệm trốn chạy của người Đức trước đây[36]

Trong cuộc tranh luận năm 1979, phát ngôn viên của những người Đức bị xua đuổi ra khỏi đất nước (Vertriebenensprecher) của CDU / CSU như Herbert Hupka và Herbert Czaja đã tố cáo tình hình ở Việt Nam và kêu gọi chính phủ Liên bang “phải lên án việc người Việt Nam bị xua đuổi này mạnh mẽ cũng giống như khi lên án việc xua đuổi hàng triệu người Đức ra khỏi nhà của họ vào năm 1945/46” (theo đòi hỏi của Hupka)[37]. Thêm vào đó, CDU / CSU có thể tự đặt mình như là người hối lỗi về mặt đạo đức nhân quyền qua vấn đề “thuyền nhân”, sau khi việc đoàn kết với (Bắc) Việt Nam đã trở thành một vấn đề quan trọng đối với phong trào sinh viên và sau đó họ trở nên tả khuynh. Và rồi đảng Dân chủ Xã hội đã tự dành cho mình quyền mở ra những cuộc tranh luận về nhân quyền chống lại Nam Phi và các nước Mỹ Latinh. SPD và cánh tả cho rằng, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chỉ đoàn kết với một phía[38]. Nói chung, hoạt động của Dân chủ Thiên chúa giáo tương ứng với cải cách của CDU trong những năm 1970, mà hiện nay thường liên quan đến các hình thức hành động của phe cánh tả. Chúng bao gồm các cuộc tranh luận về chương trình của nội bộ đảng, việc mở rộng thành viên cơ sở tích cực và huy động lực lượng quần chúng. Ngoài ra, đảng này đã cố gắng chiếm giành lại các chủ đề và tranh luận công khai, những gì mà phe cánh tả đang thống trị[39]. Cuối cùng, điều quan trọng là người Việt Nam và người Đông Á được coi là cần cù và có học thức tương đối. Tuy nhiên, đối với những người tị nạn từ Châu Phi hoặc Afghanistan, không có được sự đoàn kết hoặc tiếp nhận nào được phát triển, ngay cả khi họ cũng chạy trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản và dù các phương tiện truyền thông riêng lẻ cũng đưa ra hình ảnh của các nạn nhân.

Chính phủ liên bang đã bị thúc đẩy không chỉ riêng từ phía đối lập và các bang riêng lẻ, mà còn từ các liên minh quốc tế bạn. Do đó, vào cuối năm 1978, Ngoại trưởng Hoa Kỳ một lần nữa kêu gọi chính phủ liên bang cho phép nhiều người Việt Nam vào Đức hơn nữa[40]. Ngoài ra, Liên Hiệp Quốc cũng kêu gọi gia tăng mạnh hơn con số người tị nạn được thu nhận vào Cộng hòa Liên bang. Ngay trong một cuộc họp tại Geneva vào ngày 11 tháng 12 năm 1978, theo lời mời của Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn (UNHCR), đã tìm cách tăng hạn ngạch nhận người tị nạn. Trong các cuộc thảo luận với 34 phái đoàn chính phủ, bao gồm cả Việt Nam, mức độ thu nhận tương đối thấp của Cộng hòa Liên bang đã trở nên rõ ràng trên phạm vi quốc tế[41]

Xung lực thúc đẩy đặc biệt là hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Đông Dương vào hai ngày 20-21 tháng 7 năm 1979 đã diễn ra tại Geneva nhằm đạt thêm số lượng người được thu nhận. Trước đó, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (UNO) Kurt Waldheim gửi đến Cộng hòa Liên bang yêu cầu, nâng cao hạn ngạch thu nhận ít nhất 10.000 người tị nạn. Các viên chức quan liêu của chính phủ Tây Đức cố gắng tìm cách để ngăn chặn điều này và ghi rõ trong các tài liệu để chuẩn bị hội nghị với nhiều tham chiếu cho thấy, Đức hiện đang có nhiều người gốc Đức và người xin tị nạn, nên tối đa chỉ dành cho 4.000 chổ[42]. Tuy nhiên, trong hội nghị, UNO đã thành công để tăng con số đòi hỏi từ 125.000 (tháng Năm, 1979) lên 260.000 người. Trong bối cảnh này, Chính phủ Liên bang đã đồng ý thu nhận tổng số 10.000 người tị nạn và hứa sẽ tăng viện trợ nhân đạo lên 32 triệu Đức Mã-DM[43]. Ngược lại, Mỹ chấp nhận nhận mỗi tháng 14.000 người tị nạn từ Đông Dương. Việt Nam đã thực sự hứa hẹn, trong thời gian ngắn trước đó, với UNHCR, tất cả mọi người được phép rời khỏi đất nước nếu không phải là những người đang chịu nghĩa vụ quân sự, tội phạm, “những người giữ bí mật an ninh hoặc làm việc tại các vị trí quan trọng hiện không thể thay thế được”[44]. Những lời hứa hẹn này không được thực hiện để rồi các cuộc chạy trốn bất hợp pháp tiếp tục tăng. Bằng phương tiện hợp pháp trong hai năm tiếp sau đó, chỉ có duy nhất khoảng 400 người Việt đến Cộng hòa Liên bang theo chương trình Đoàn tụ Gia đình[45]. Hiệp ước quốc tế qua đó, không thể ngăn chận được những cuộc liều mình nguy hiểm phần lớn bằng đường biển.

2. Nhà báo đóng vai trò quan trọng trong cuộc cứu nạn

Các chính trị gia và các hoạt động cứu giúp đầu tiên thường xuyên đi cùng với các nhà báo, những nhà báo này sau đó đi độc lập đến các trại tị nạn. Các tường trình với hình ảnh rõ ràng của họ theo truyền thống tham gia vào chính trị của báo chí trong cuộc chiến tranh Việt Nam và Biafra [nội chiến Nigeria từ 1967 đến 1970 giữa người theo Thiên chúa giáo ở miền Nam và người theo Hồi giáo ở phía Bắc – Chú thích của người dịch], tìm cách vận động các chính trị gia và người dân để giúp đỡ người tị nạn[46]. Các nhiếp ảnh gia của các hảng thông tấn thực hiện những bức ảnh đầu tiên của “Hải Hồng” gây ảnh hưởng mạnh là những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp như Eddie Adams, người đã chụp những bức ảnh mang tính biểu tượng trong chiến tranh Việt Nam, hay Alain Dejean, người miêu tả gần như toàn bộ cuộc cách mạng của Khomeini ở Iran. Ảnh hóa (Visualisierung) những con tàu bị đắm đặc biệt phù hợp với ngôn ngữ hình ảnh (Bildsprache) vượt lên tính cách đảng phái. Những người tị nạn trên biển dường như là những người vô quốc tịch và vô biên giới và do đó họ bị tách ra khỏi nền tảng ý thức hệ của cuộc chiến tranh Việt Nam và Campuchia. Thực tế có nhiều người tị nạn là trẻ em nên đã dấy lên nhu cầu hành động phi đảng phái. Thuật ngữ “thuyền nhân” nhấn mạnh đến việc ảnh hóa không lời (Dekontextualisierung) này, ở đây không thể phân biệt rõ, liệu họ là những người bị Cộng Sản truy đuổi hay là do các con buôn người Tàu-Việt hoặc do Khmer đỏ. Danh hiệu “thuyền nhân” tách phân ra khỏi các thuật ngữ ngày càng tiêu cực như “người tị nạn”, hoặc “người nước ngoài” và cho thấy motiv chạy trốn[47].

Các nhà báo đã đồng hành cùng các hoạt động cứu nạn và quảng bá bằng những hình ảnh và báo cáo đầy ấn tượng về các hoạt động của “Cap Anamur”.(từ: stern, 16.10.1980,Tr.. 20-29, ở đây Tr. 22f. Foto: Klaus Meyer-Andersen)

Đáng chú ý là sự tham gia hoạt động cộng đồng công dân tuyệt vời của chính các nhà báo. Đặc biệt là các cộng tác viên của tạp chí “ZEIT”. Lúc đầu, tờ tuần báo ở Hamburg, giống như các phương tiện truyền thông khác, đã đưa tin mang tính “đoàn kết” về sự khốn khổ trên thuyền và trong các trại tị nạn. Tiếp đến, biên tập viên Josef Joffe đã đi vào trại trên đảo Pulau Bidong của Malaysia, nơi chứa đầy ắp 40.000 người và sau đó gửi báo cáo chi tiết tới Thủ tướng Liên bang Schmidt để thúc dục ông can thiệp. Ông ta ra đi “như một phóng viên, nhưng trở về lại là một đảng viên (Parteigänger)”[48].

Tiếp sau đó, “ZEIT” [trụ sở đầu nảo của tạp chí đóng tại thành phố cảng Hamburg – Chú thích của người dịch] đã phát triển sáng kiến của riêng mình để, theo cách riêng, đưa được 250 người tị nạn sang Cộng hòa Liên bang ngoài hạn ngạch thu nhận của Đức. Thành phố Hamburg ngay lập tức hứa nhận bổ sung thêm, nếu tờ báo quyên góp được để đảm nhận tài chánh cho các khóa học tiếng Đức và người chăm sóc. Dưới tiêu đề “Giúp đỡ người tị nạn”, Marion Gräfin Dönhoff bà chủ báo đã vận động cực kỳ thành công cho hoạt động này. Ở đây, một lần nữa cho thấy có liên quan đến việc xua đuổi người Đức trước đây[49]. Chỉ trong hai tháng đầu tiên, “ZEIT” đã quyên góp được gần 2,2 triệu DM, số tiền này được họ đã sử dụng cho các chi phí như vé máy bay, thuốc men và một bệnh viện cứu khẩn ở Việt Nam, cho người giúp đỡ, cho các thiết bị ban đầu ở Hamburg và tăng tiền trợ cấp xã hội[50]. Cùng với các cộng tác viên của tờ báo và nhân viên Hồng Thập Tự, “ZEIT” cuối cùng đã đưa 274 người đến Đức bằng một chiếc máy bay của quân đội và một chiếc máy bay chuyên chở hành khách tới Hamburg và tài trợ cho nhân viên xã hội cho những nhóm người tị nạn khác[51]. “ZEIT” qua đó tạo ra các sự kiện và giữ độc quyền tường trình.

Qua đó, công ty truyền thông đã tổ chức và bằng tiền quyên góp đã trả tiền cho các nhiệm vụ chính trị, những công việc thực ra thuộc nhà nước phải đảm nhiệm. Đồng thời cũng đã thúc đẩy các chính trị gia hành động tương tự. Điều này chỉ có thể đạt được qua sự hợp tác giữa các phương tiện truyền thông, các TCDS, bộ máy hành chánh của thành phố và bộ Ngoại giao, nơi tổ chức xuất nhập cảnh. Qua các chiến dịch truyền thông, hoạt động của các TCDS và sự tham gia của cộng đồng đã tăng lên. Các công ty và thị trưởng đã cung cấp việc làm cho người Việt Nam sau sự kiện này, công nhân và nhạc sĩ tặng tiền thu nhập hàng ngày và nhiều gia đình đã nhận trẻ làm con nuôi. Ngoài việc quyên góp quần áo, còn có những hoạt động từ thiện, và “ZEIT” báo cáo rằng, những người Đức bị xua đuổi hiện đang mời người Việt Nam đến ăn uống[52]. Ở các thành phố khác, các bài tường trình của các phương tiện truyền thông cũng dẫn đến những phản ứng tương tự. Sau khi tờ “Kölner Stadtanzeiger” báo cáo về 34 người tị nạn Đông Dương vừa mới đến thành phố, đã có ngay ngoài nhiều khoản quyên góp bằng tiền và hiện vật, 44 đơn xin nhận con nuôi, 26 lời mời tài trợ, 35 lời mời làm việc và 25 giới thiệu cho thuê nhà[53].

Những điều đó cho thấy, các bộ phận của xã hội đã thể hiện một nền văn hóa chào đón trong khi lại ít thấy hơn ở Chính phủ Liên bang. Ngoài sự tương đồng với việc người Đức bị xua đuổi và mối đe dọa của cộng sản, cùng lúc còn có chương trình phát hình của Đức về loạt phim Mỹ “Holocaust” vào tháng 1 năm 1979 đã đóng một vai trò trong việc này. Những hình ảnh các nạn nhân đầy cảm xúc giúp đặt lại đề tài giải quyết vấn đề viện trợ đã một lần bị bỏ qua. Trên bình diện quốc tế, Holocaust bấy giờ đã trở thành một biện luận chính trị mang tính lịch sử trong việc giúp đỡ người tị nạn Đông Dương. Đã có những lời nói về “Người Do Thái ở phương Đông”, “Người Do Thái ở Châu Á”, “Tiêu diệt hoàn toàn”[54]. Một nữ sinh trung học 15 tuổi đã viết một lá thư cho chính phủ: “Sự khốn khổ của người tị nạn Việt Nam giống như Holocaust. […] Không ai mở miệng trong thời đại Hitler và nếu mở miệng, người đó đã bị giết bằng hơi ngạt. Không ai có thể giúp họ. Nhưng bây giờ người ta phải giúp đỡ”[55]. Các nghị viên CDU của “Văn phòng Việt Nam” chắc chắn đã sử dụng các số liệu phóng đại: “Ở yên, không làm gì khiến chúng ta đồng lõa với một Holocaust mới, bởi vì trong lúc này, ước tính 2.000 người mỗi ngày bị chết đuối”[56]. Hành động cho “thuyền nhân” xem như là sự đền bù cho những vụ giết người (bấy giờ được thảo luận đồng thời) Do Thái tại châu Âu trong chế độ Đức quốc xã. Đặc biệt là ở Pháp, cũng có nhiều người sống sót sau thảm sát Holocaust, cũng đang hoạt động cho người tị nạn. Nhà hoạt động hàng đầu Bernard Kouchner, xuất thân từ một gia đình người Do Thái gốc Đức và Joelle Eisenberg, một phụ nữ Do Thái đã trốn thoát Đức quốc xã, đã giúp đỡ ở Việt Nam với tư cách là một bác sĩ[57].

Tạp chí “Der Spiegel” đòi hỏi sự giúp đỡ quyết liệt hơn cho người tị nạn Việt Nam: “Họ không có đất để đến nữa” (từ: Spiegel, 25.6.1979, S. 116 [Foto], S. 124 [Zitat])
3. “Cap Anamur” và Hoạt động Xã hội Đòan kết-Việt Nam

Sự giúp đỡ cho “thuyền nhân”, theo một nghĩa nào đó, là một sự đảo ngược của tình đoàn kết Việt Nam theo tả phái trong thập niên 1960. Các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, như chúng ta biết, đã chính trị hóa phong trào sinh viên và thiết lập tình đoàn kết với các nạn nhân của chiến tranh do Hoa Kỳ dẫn dắt, vượt xa phong trào “68”. Tuy nhiên, với chiến thắng của miền Bắc Cộng sản, sự quan tâm của cánh tả dành cho Việt Nam đã giảm khi giấc mơ của cuộc cách mạng tan tành trước thực tế của một nhà nước đậm dấu ấn tham nhũng, trại tù và nghèo đói. Làn sóng người tị nạn buộc cánh tả phải đối đầu với một Việt Nam thực sự. Những người đứng đầu phong trào phản chiến của Hoa Kỳ đã có những phản ứng khác nhau: Một bức thư ngỏ của nữ ca sĩ Joan Baez đã tố cáo các vi phạm nhân quyền ở Việt Nam do vấn đề người tị nạn, đã không được nhiều “đồng chí” một thời của bà hưởng ứng, và Jane Fonda còn lên án Joan Baez là người của CIA[58]. Ngược lại, đã có sự tham gia rộng rãi ở Pháp, nơi nhiều trí thức như Michel Foucault và Jean-Paul Sartre cũng như những người cánh tả như Daniel Cohn-Bendit và André Glucksmann ủng hộ các biện pháp cứu trợ dựa theo các bức ảnh của “Hải Hồng”[59]. Cùng với một vài chính trị gia riêng lẻ, họ ủng hộ ủy ban “Un bateau pour le Vietnam” (một con tàu cho Vietnam), ra khơi để cứu người tị nạn và lo lắng săn sóc với các bác sĩ tình nguyện. Chỉ có duy nhất đảng Cộng sản tránh không tham gia.

Sáng kiến quan trọng nhất của Đức là do nhà báo Rupert Neudeck, biên tập viên của đài phát thanh Cologne, lập nên hội “Một con tàu cho Việt Nam” (A ship for Vietnam), là một bản sao trực tiếp từ chiến dịch hành động của Pháp và thực sự được coi là một dự án châu Âu. Neudeck cũng thành công trong việc thu nhận được vô số khoản quyên góp nhỏ và sự hỗ trợ rộng rãi trong quần chúng để thuê một con tàu vận tải lớn rồi cải biến phù hợp để ra khơi cứu giúp người tị nạn. Đây là con tàu Cap Anamur nổi tiếng. Cho đến năm 1982, “Cap Anamur” đã cứu được 9.507 “thuyền nhân” trên biển, đa số những người này sau đó được đưa vào Cộng hòa Liên bang. Hơn 888 người đã được cứu vào năm 1986 (với con tàu kế tiếp “Cap Anamur II”[60]. Khoảng 35.000 người cũng được các bác sĩ và y tá tình nguyện chăm sóc y tế trên tàu.

Đáng kể, Neudeck (1939-2016) không xuất thân từ phong trào “68” [Phong trào sinh viên Tây Đức vào những năm 1960 là một phong trào chính trị xã hội cánh tả ở Cộng hòa Liên bang Đức và Tây Berlin. Nó được phát triển song song với các cuộc biểu tình của sinh viên ở Mỹ và Tây Âu – Chú thích của người dịch]. Bị gián đoạn việc học vào những năm cuối thập niên 1950 và nhận bằng tiến sĩ Triết học năm 1972 với luận án “Đạo đức chính trị với Jean-Paul Sartre và Albert Camus”, ông không hoạt động trong phong trào chống chiến tranh hoặc các nhóm chính trị hoạt động tích cực. Thay vào đó, ông là một nhà báo đậm phong cách Công giáo, bị xúc động mạnh với những hình ảnh truyền thông về những người tị nạn chết trên biển. Thực tế là bản thân ông đã phải chạy trốn cùng gia đình từ Danzig khi mới 6 tuổi và suýt nữa thì đắm mình theo chiếc tàu “Wilhelm Gustloff” [Tàu Wilhelm Gustloff là một tàu du lịch của tổ chức Quốc xã Đức “Kraft durch Freude”, được sử dụng trong đệ nhị thế chiến như một con tàu bệnh viện, vận chuyển quân đội và nơi trú ngụ của Hải quân Đức quốc xã. Tàu bị tàu ngầm Liên Xô S-13 dùng thủy lôi bắn chìm ngoài khơi bờ biển Pommern – Chú thích của người dịch], những điều đó đã thúc đẩy ông quyết định tham gia tích cực vào các vấn đề tị nạn[61].

Sự đoàn kết qua “Một con tàu cho Việt Nam” có khác biệt rõ rệt với các nhóm cánh tả “Thế giới thứ ba” thời bấy giờ. Đầu tiên, nó có một nền tảng phi đảng phái. Trong số những người ủng hộ gây hiệu quả truyền thông không chỉ có nhiều trí thức cánh tả như Heinrich Böll, Alfred Biolek, Dieter Hildebrandt hay Rudi Dutschke, mà còn cả các chính trị gia và nhà báo Dân chủ Thiên chúa giáo như Norbert Blüm, Richard Stücklen, Franz Alt. Ngay cả cũng không có một sự cách biệt rõ ràng với chính trị truyền thống. Thay vào đó, điểm nỗi bật là sự bỏ qua những hậu ý chính trị mà chỉ dành cho “tình nhân loại triệt để” (radikalen Humanität – Neudeck), nhằm thúc đẩy hành động để cứu giúp cuộc sống của con người[62].

Thứ hai, “Một con tàu cho Việt Nam” là một tổ chức với bộ máy điều hành “gọn nhẹ”. Nó không dựa trên các nhóm cơ bản trong các thành phố đại học, cũng không có một bộ máy chuyên nghiệp như Greenpeace. Nó chỉ hành động trong phòng khách của cặp vợ chồng Neudeck trong một ngôi nhà dãy tại Troisdorf gần Cologne / Bonn. Neudeck thường một mình nhanh chóng đưa ra quyết định, do đó chớm nảy sinh bất đồng với các bộ phận trong hội đồng quản trị. Neudeck thường có khuynh hướng chống lại hệ thống quan liêu, nên đã đi quá xa đến mức ông chỉ lên kế hoạch hành động một mình (một cách tự nguyện) ngay cả sau giờ làm việc, một mình tranh cãi với các chính trị gia hoặc khi tuyển chọn bác sĩ[63].

Thứ ba, tổ chức từ thiện nhỏ này đã neo sâu rộng trong xã hội. Nó sử dụng các phương tiện truyền thông của nền văn hóa đại chúng cho mục đích của mình và qua đó thúc đẩy được sự tham gia của quần chúng. Như, những quả bóng đá với chữ ký của các cầu thủ của tất cả các hội bóng chuyên nghiệp hạng Liên bang được bán đấu giá lấy tiền cho “Cap Anamur”. Các nhạc sĩ như Udo Jürgens đã tổ chức các buổi hòa nhạc cho “Cap Anamur” trên truyền hình, gánh xiếc Roncalli cho trẻ em tị nạn người Việt Nam lên hát, và hãng nhạc EMI [từng một thời là một trong bốn Major-Labels lớn nhất thế giới. Từ 2011 phần lớn các bộ phận của EMI được Universal Music Group mua lại – Chú thích của người dịch] đã phát hành một đĩa nhạc với các sao nhạc pop của Đức như Heino, Roy Black và Howard Carpendale, mỗi đĩa nhạc bán ra được dành 2DM cho “Cap Anamur”. Các hành động vì thế gieo sâu rộng rãi trong xã hội tiêu dùng rộng lớn hơn so với các nhóm Thế giới thứ ba ngồi ngập ngụa trong các căn phòng đầy khói thuốc. Do đó, họ đã đại diện cho một xu hướng đang nổi lên, cùng lúc với phong trào chống chế độ phân biệt chủng tộc (Apartheid) của phương Tây[65].

Trợ giúp người tị nạn và văn hóa đại chúng: Đĩa nhạc từ thiện “Schlager Rendezvous”

Thứ tư, hợp tác chặt chẽ với các phương tiện thông tin đại chúng là rất quan trọng cho sự thành công của “Cap Anamur. Bác sĩ cứu khẩn Đức e.V.” (Cap Anamur. Deutsche Not-Ärzte e.V.), tên hiệp hội mới, được nhanh chóng đổi tên từ “Một con tàu cho Việt Nam” (Ein Schiff für Vietnam). Là một nhà báo, Neudeck biết cách sử dụng các phương tiện truyền thông thật logic. Ngay từ cuộc họp báo đầu tiên, ông đã tổ chức cùng với Heinrich Böll, để tạo sự chú ý. Các nhà báo đã có mặt trên hầu hết các chuyến tàu “Cap Anamur” đi cứu nạn, và các bác sĩ tình nguyện trên tàu cũng đã báo cáo về cho những tờ báo địa phương của họ. Những người tị nạn được cứu mặc áo phông (T-shirt) với hàng chữ “Cap Anamur”, như một hình ảnh chứng minh cho các nhà tài trợ[66].

Bước đột phá về sự quyên góp là do chương trình truyền hình tạp chí “Report” trên đài ARD của Franz Alt vào ngày 24 tháng 7 năm 1979: Sau khi một phóng sự thật chi tiết về hoạt động còn khá xa lạ của “Một con tàu cho Việt Nam”, ông đã đưa ra – dù chưa có sự chấp thuận trước đó của vị giám đốc chương trình – một tài khoản quyên góp. Chỉ trong một thời gian ngắn, tài khoản nhận được khoảng 2,2 triệu DM, để lần đầu tiên con tàu được ra khơi hoạt động[67]. Ngoài ra, trong những năm tiếp theo, Franz Alt vẫn là một nhà quảng bá công cộng quan trọng, ví dụ như với các bài báo và quyên góp trên tờ báo “BILD”. Các nhà xuất bản báo chí như Gruner + Jahr hoặc Springer (trong “Hörzu”) cũng đồng ý cung cấp quảng cáo miễn phí trong một khoảng thời gian dài. Ở đó, có bửc ảnh của một đứa bé gây xúc động: “Cứ mỗi phút, một người tị nạn từ Việt Nam bị chết. […] Hàng trăm ngàn trẻ em, phụ nữ và nam giới đã bị chết đuối hoặc bị chết đói”[68]. Vào đầu tháng 11 năm 1979, tổ chức từ thiện nhận được một số tiền lớn bất ngờ 6,8 triệu DM[69]. “Phước tiền” (Geldsegen) làm cho các hoạt động cứu trợ của “Cap Anamur” được kéo dài hơn. Từ năm 1980, hiệp hội cũng đã giúp đỡ các khu vực khác ở Châu Á và Châu Phi – và đến ngày nay giúp trong các khu vực khủng hoảng, do khủng bố, trốn chạy và nạn đói gây nên.

Các hoạt động cứu nạn này đã gây tranh cãi trong môi trường cánh tả. Một vài trí thức cánh tả từng phản đối hành động của Mỹ ở Việt Nam, đã bác bỏ. Nhà văn Peter Weiss kịch liệt phản đối về “sự phỉ báng dành cho chính phủ Việt Nam” và biện minh cho tình trạng tại đó bằng cách nói: “Để bảo vệ cuộc sống của 50 triệu người, hàng chục ngàn người gây nguy hiểm cho quốc gia phải bị giam giữ”[70]. Ngay cả nhà thần học Helmut Gollwitzer, người đã tham gia chống chiến tranh Việt Nam, tương đối hóa tình hình và cho rằng đó là cuộc chạy trốn “của giới thượng lưu và thương nhân người Hoa”[71]. Trong khi tờ “taz” ủng hộ hoạt động của “Cap Anamur”, thì tạp chí cánh tả “konkret” đã lên tiếng: “Nhiều người trong số các thuyền nhân là những kẻ buôn lậu, ma cô và cộng tác viên của Mỹ lấy tiền mua vé để đổi lấy bến bờ mới”[72]. konkret” dùng đúng gần như từng chữ, theo kiểu SED [Sozialistische Einheitspartei Deutschlands – Đảng Xã hội Thống nhất Đức hay nói ngắn gọn theo cách người Việt là Đảng Cộng Sản Đông Đức – Chú thích của người dịch] đã sử dụng trên tờ “Neuen Deutschland“[73]. Heinrich Böll, người hoạt động cho người tị nạn, với ý nghĩa hoạt động nhân đạo vượt trên đảng phái, phản bác điều này, cho rằng: “Tôi cũng sẽ cứu một tên ma cô bị chết đuối. […] Thậm chí tôi cũng có thể kéo Eichmann, tên giết người hàng loạt lên khỏi mặt nước”[74]. [Otto Adolf Eichmann từng là sỹ quan mật vụ SS – Đức quốc xã, kẻ cùng chịu trách nhiệm cho 6 triệu người bị giết chết trên toàn Âu châu – Chú thích của người dịch]

Đồng thời, các hoạt động cứu nạn này cũng khác biệt rõ ràng với các hoạt động của các tổ chức cứu trợ đã vững vàng như Hội Hồng Thập Tự Đức (DRC). Vì vậy đã dẫn đến các chạm trán lớn. Một mặt, DRC đã chống lại các hội nhỏ được thành lập một cách tự phát như “Tàu cho Việt Nam”, được đặc trưng bởi “các hoạt động không đủ tiêu chuẩn”, “báo cáo không rõ ràng” và “thiếu sẵn sàng phối hợp” và thậm chí đồng chịu trách nhiệm về dòng người tị nạn, theo lời chủ tịch của DRC[75]. Ngược lại, Neudeck cho rằng, DRK là một “tổ chức tham lam và quan liêu”, mặc dù được sự ủng hộ mạnh của chính phủ nhưng lại không tham gia vào bất kỳ nỗ lực cứu nạn thực sự nào[76]. Bởi vì con tàu “Flora” của DRK do nhà nước tài trợ, cũng đang hoạt động ở Biển Đông nhưng tự giới hạn trong các chuyến đi cung cấp lương thực và trợ giúp y tế theo chọn lọc. “Cap Anamur” ngược lại, đã giải cứu một cách có hệ thống những người tị nạn trên mặt biển, đôi khi thậm chí tìm kiếm họ bằng trực thăng.

Cap Anamur đã hành động mà không có sự trợ giúp của chính phủ và hợp pháp hóa hoạt động của họ với sứ mệnh của nhà tài trợ. Tuy nhiên, họ cũng phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính phủ qua việc thu nhận và cấp nhập cảnh cho người tị nạn. Lúc đầu, mối quan hệ của họ với bộ máy quan liêu của chính phủ vẫn còn mang tính hợp tác, sau đó ngày càng đối đầu với nhau. Khi “Cap Anamur” ra khơi dưới lá cờ Liên bang Đức, Cộng hòa Liên bang, trên nguyên tắc có nghĩa vụ phải chấp nhận những người tị nạn bị đắm tàu được “Cap Anamur” vớt. Tương ứng, “Cap Anamur” phải liên tục gửi báo cáo cho Bộ Ngoại giao về con số người trên tàu sẽ bay tới Cộng hòa Liên bang. Neudeck đã phát động chiến dịch cứu trợ của mình mà không có bất kỳ kiến ​​thức nào trước đó và tỏ ra khá thực dụng khi lách tránh các quy tắc quan liêu. Ngay khi tàu khởi hành từ Nhật Bản, ông đã phá vỡ các quy định pháp lý để rồi bị giữ lại tại Singapore[77]. Ngoài ra, các khiếu nại từ các nước láng giềng chồng chất trong các Tòa đại sứ. Singapore và Malaysia cuối cùng đã từ chối cấp giấy phép cho Cap Anamur cập cảng và đổ lỗi cho tàu cứu nạn tạo cho ngày càng nhiều người chạy trốn khỏi Việt Nam. Điều này, và đặc biệt là một chuyến chở gạo cứu trợ được Cap Anamur tài trợ đến Việt Nam, dẫn đến căng thẳng ngoại giao, khi các nước láng giềng ASEAN đánh giá các hành động này là sự giúp đỡ chính thức của Tây Đức cho Việt Nam[78].

Bộ Ngoại giao (AA) đã có nhiều cuộc đàm đạo căng thẳng với Neudeck[79]. Tuy nhiên, đầu tiên, một khi có sự trợ giúp của AA , người tị nạn mới được tiếp nhận, đặc biệt là Genscher (Bộ trưởng ngoại giao) từ lâu đã đồng tình với “Cap Anamur” – có lẽ vì sợ phản ứng tiêu cựu của báo chí. AA quy định các thủ tục và các chuyến bay đưa “Thuyền nhân” vào Đức và trong gần ba năm đã gia tăng dần dần số chổ dành cho người tị nạn trên các tỉnh, thành phố. Dù căng thẳng nhưng người ta có thể nói về một sự kết hợp trợ giúp giữa hệ thống hành chánh quan liêu và sự tham gia của xã hội công dân.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s