Võ Thị Điềm Đạm – Hương Chanh (chương 9, 10, 11, 12)

Four Young Ladies – Tranh Hồ Thành Đức

Chương chín

Tháng mười, một chin bảy lăm

Thảo Nhiên chở Kim ra bến xe Ngã Bảy khi trời còn mờ mờ hơi sương tháng chín ẩm thấp. Đang ngồi nhấp nhi ly cà phê sữa nóng thơm trong quán nhỏ phía bên kia đường, Đông chạy lại khi thấy chiếc xe Yamaha của Thảo Nhiên rề rề gần mấy xe đi Bảo Lộc, Đà Lạt. Không kịp nói với Thảo Nhiên một lời, Đông hối:

– Lẹ đi Kim, lên dành chỗ đi sớm, kịp xe về cùng ngày.

– Đi liền hả? Giọng Kim hồi hộp.

Đông nhất định đi với Kim khi Kim ngỏ ý muốn nhờ Đông chạy cho mình giấy đi đường lên Định Quán. Kim giấu ông Ba Hòa. Lấy lý do ngủ lại nhà Thảo Nhiên để theo xuống Bến Tre thăm quê ngoại của Thảo Nhiên. Đông chu đáo ra bến xe để xếp hàng từ khi cả thành phố còn đang mê ngủ nên mua được vé chuyến nhất. Xe lăn bánh ra xa lộ, qua ngã tư Thủ Đức, cả Đông và Kim đều im lặng theo đuổi ý tưởng riêng tư. Cùng nỗi lòng lo lo, cũng nỗi thắc mắc, cùng cảm nhận sự liều lĩnh không lường nhưng không ai dám nói ra, không biết bắt đầu như thế nào.

Xe ghé Hố Nai, Đông mua một chục bánh gai, đưa Kim, chọc:

– Ăn đi, còn có sức mà đi tìm.

Giọng Kim buồn buồn:

– Tìm gì đây Đông?

– Ờ, Đông cũng không biết mình sẽ tìm gì. Mình cứ thực hiện như Kim đã dự tính, dầu gì thì mình cũng đi cho đến nơi đến chốn mới biết là mình sẽ tìm gì sau đó. Đông tán đồng ý định của Kim, phải làm cái gì đó trước khi có quyết định dứt khoát.

– Quyết định dứt khoát? Dứt khoát cái gì? Đông có hiểu lầm Kim không?

– Chứ Kim tìm đến nơi anh Hải mất tích để làm gì, không phải là để kiểm chứng những tin mù mờ được thâu lượm từ mấy tháng nay? Không phải để không còn chờ đợi.

– Đến bây giờ thì Kim không biết là mình chờ đợi chuyện gì. Đợi anh Hải sẽ trở về? Vô lý quá! Đợi có người cho tin? Tin gì? Nhưng sao trong thâm tâm, Kim không tin là anh Hải đã mất, một linh cảm lạ lùng lắm Đông. Nhưng nếu anh Hải không chết trong đám tàn quân chạy vô rừng chiều hôm Đinh Quán bị thất thủ, anh Hải không trở về, thì anh Hải hiện ở đâu? Đông có nhận thấy sự mâu thuẫn của Kim không?

– Kim sợ, Kim không thật với mình, Kim không dám nghĩ rằng anh Hải đã mất cho nên Kim gọi đó là linh cảm.

– Thế Đông, Đông hy vọng gì trong chuyến đi này?

– Đông muốn mình sẽ kiểm chứng những dữ kiện. Trong thâm tâm, Kim đừng giận Đông nghen, Đông mong có ai đó đã nhìn thấy tận mắt rằng đám tàn quân không còn ai sống sót, ai đó chỉ cho mình nấm mộ. Chẳng thà để Kim biết chắc là anh Hải đã mất, đau thật đấy, nhưng Kim còn cả một tương lai dài trước mắt.

– Hừm… tương lai… ha… ha… tương lai đã mất học, tương lai sẽ theo chị Phương dấn thân ra chợ trời cho nếm mùi đời. Tương lai, Kim muốn thả nó trôi lềnh bềnh, tới đâu thì tới, không có chí phấn đấu Đông ơi. Đông coi, nếu Kim tiếp tục đi học, ra trường thì làm sao Kim có thể làm việc chung với tụi cán bộ từ rừng, từ Bắc, tụi ba-mươi. Nội nghĩ đến những ngày mới… mới… mới đi học lại, ngày bữa nghe giảng chính trị, ngày bữa tụng thơ Bác, tụng thơ đồng chí Tố Hữu, đồng chí Xuân Diệu… Kim…

– Xuỵt! Nhỏ miệng chút cho tui nhờ.

Buổi trưa, cảnh chợ vắng hoe, chỉ còn chơ vơ vài căn sạp được dựng lên bằng những phản gỗ thô sơ xiêu vẹo . Xa hơn nữa, những hàng tiệm cũng là nhà ở, cửa chỉ mở một nửa, người ra người vô thưa thớt. Toàn sinh hoạt như ráng gượng lại nhưng còn nhiều ngập ngừng lo sợ. Đông và Kim tìm đến quận đường Định Quán bây giờ là quận ủy. Trong trạm gác trước cổng, hai người thanh niên ngồi tán gẩu nhưng ánh mắt dõi theo đôi bạn trẻ đang đứng phía bên kia đường, chỉ chỏ.

Đông giải thích:

– Theo như lời Kim kể thì cánh đồng bắp này là chắc bãi đậu trực thăng ngày xưa. Con đường lộ chính là đây. Không biết đồng bào từ hướng nào chạy tập trung về đường lộ. Hướng về Sài Gòn là đây. Mình cứ đi dọc đường lộ chính, tự suy nghiễm hướng tháo chạy của tàn quân… hi… hi… “ngụy”.

– Chuyện gì cũng cười được hết há.

– Chớ Kim biểu Đông khóc hả?

– Không cười không có nghĩa là phải khóc.

– Cãi với Kim mỏi miệng lắm. Thôi, ghé vô đây uống nước đi cái đã. Hồi sáng giờ, mấy cái bánh gai làm khô cả miệng. Sẵn uống nước, mình thử dò hỏi xem sao.

Kim và Đông kéo cái ghế đẩu thấp ở quán nước nằm hơi thụt sâu khỏi đường lộ, dưới gốc cây bơ cao lá to dài xanh mướt. Quậy quậy ly đá chanh, nhìn dì bán quán trông có vẻ ít nói, Đông làm bộ hỏi bâng quơ, làm bộ như chỉ để hỏi cho có chuyện:

– Dì bán ở đây chắc trước giải phóng?

– Không.

– Tụi cháu đi nãy giờ mới tìm được quán nước. Ở đây coi bộ vắng vẻ hơn trước hả dì?

– Ờ.

– Đường đi Bảo Lộc còn bao xa vậy dì?

– Muốn đón xe đò thì ra kia đón, chừng hơn tiếng đồng hồ. Hai cháu không phải người ở đây?

– Dạ không. Dì cho con hỏi thăm chút. Con có người anh bị mất tích trong ngày Định Quán… ngày… giải phóng Định Quán…

– Dì mới lên đây bày bán sống tạm. Cháu hỏi chú Lương kìa.

Nói xong, dì quay phía người đàn ông đang nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế bố, miệng lập bập điếu thuốc lá dưới tàn cây hơi khuất khỏi đường xe chạy, gọi to:

– Chú Lương ơi! Vô đây, có người hỏi thăm chút.

Rồi quay sang Đông và Kim, dì nói:

– Chú Lương là lính ở đây hồi trước, chắc chú biết.

– Dì làm cho chú Lương ly nước chanh.

Four Young Ladies – Tranh Hồ Thành Đức

Người đàn ông quơ tay lấy cây nạng gỗ, chống đứng dậy một cách khó khăn, lại ngồi lên cái ghế Đông kéo mời. Dì bán nước đặt ly nước chanh trước mặt ông Lương. Đông lễ phép ra dấu mời. Liếm đôi môi khô, gương mặt người đàn ông như được thêm chút sinh khí nhờ vị đường ngọt. Ông nhìn Kim, nhìn Đông, hỏi:

– Cô cậu muốn hỏi gì?

Dì bán nước trả lời thay Đông:

– Chú em đi tìm tin tức người anh bị mất tích ngày Định Quán giải phóng, chú trước là lính, chắc chú biết.

– Ờ, tui là lính Địa Phương Quân nhưng không đóng ngay đây. Tôi đóng trên Túc Trưng, quê tui. Giải phóng xong, tui theo vợ tui về đây tìm đường sống. Nhưng anh của chú em là lính gì?

– Dạ, Sư Đoàn 18 Bộ Binh.

– Vậy tôi biết. Có nghe vài người bạn kể là… để coi, lúc đó Túc Trưng chưa mất. Chừng mất Định Quán thì coi như liên lộ 20 bị cắt, Túc Trưng cô thế. Loay hoay không biết tháo chạy đường nào cho tới chừng gần tới ngày Sài Gòn mất, trung đội xã tui đụng với tụi du kích. Tui bị thương nhẹ thôi, vậy mà vì không thuốc men, nó làm độc, tưởng phải cưa chân rồi đó chớ. À, Sư Đoàn 18 Bộ Binh kéo về yểm trợ mấy ngày trời nhưng chịu không nổi, rút lui. Nghe nói còn một đám tàn quân của Sư Đoàn 18 không chịu hàng, chạy vô rừng kia kìa. Nhưng thảm lắm, rốt cục không còn ai. Nếu có sống sót hôm đó thì cũng không qua được. Tụi… quân bộ đội tràn vô đông lắm… không tha một ai… không tha một ai.

Người đàn ông lắc lắc đầu, liếc nhìn phía quận đường ngày xưa, liếc nhìn hai gương mặt trẻ vẫn còn mang dáng dấp thư sinh ngày xưa. Ông thở dài, miệng lẩm bẩm, quơ cái nạng, chỉ hướng cánh rừng xa xa phía sau lưng. Kim dõi mắt nhìn theo.

Nắng giữa ngày hanh hanh thế mà cả khu rừng sâu phía trong như tối hẳn lại, cái tối âm u rợn người. Đông hồi hộp không kém, có cảm tưởng như mình thật sự đi tìm tin tức người thân của chính mình, ráng lắng nghe mấy tiếng lẩm bẩm của ông Lương, nhưng chịu thua, không hiểu được.

Kim im lặng, để mặc Đông hỏi chuyện:

– Không ai tìm được xác sao chú?

– Có. Nghe nói tụi… mấy thằng… chú bộ đội sáng hôm sau trở vô kiểm soát, thâu lượm súng ống, chôn chung một hố, tuốt trong rừng đó. Theo vợ về đây sinh sống, tôi nghe kể, tôi có tìm vô tuốt trong đó thắp cho nén nhang. Tội lắm, vài gia đình lên đây tìm, không dấu vết, không biết đâu là mồ mả con cháu mình, xin xã cho đem tất cả về nghĩa trang ma chay mà xã không cho phép. Tội lắm… mấy người làm rừng lâu lâu lén thắp nhang chớ không dám cúng kiến gì hết. Tui không hiểu tại sao lại cấm gia đình thân nhân quật mả lên để đem đi chôn một chỗ đàng hoàng hơn. Tôi không hiểu, không hiểu, chuyện gì cũng cấm hết.

Đông hạ thấp giọng:

– Không có dấu vết gì sao chú, không ai tìm được tấm thẻ bài nào sao chú, không ai tìm được cái bóp hay giấy tờ chi đó sao chú?

– Không nghe nói. Tui chắc là mấy chú du kích, bộ đội lúc ấy chẳng thiết tha gì tới ba cái thứ đó, cũng không nghĩ là có ngày thân nhân sẽ đi tìm xác người thân, chắc lục lấy được gì thì lấy, còn bao nhiêu là chôn theo luôn. Có mấy thân nhân xin quật mả lên để tìm… ít ra thì tấm thẻ bài cũng còn… cũng còn có gì mà bám vô… mà thờ cúng… mà hy vọng… nhưng không được phép… cái gì cũng không được phép hết.

Giọng Kim nóng nảy:

– Chú chỉ đường tìm vô rừng được không chú.

– Hơi xa, mà lại không nằm trên đường người ta lên rừng. Cô cậu người Sài Gòn? Chỉ có nước ở lại đây, chờ sáng mai tôi dẫn đi. Mà ở lại đây không được đâu, cô cậu coi bộ không quen ai ở đây hết. Người lạ ở lại đây không được đâu. Hay là mình đi liền bây giờ, may ra còn kịp trở lại kiếm xe từ Phương Lâm, Đà lạt về.

Chống cây nạng gỗ không được vững chắc mấy, người đàn ông khập khễnh cố đi theo bước chân náo nức của hai người trẻ. Ông không dám dừng bước nghỉ, sợ làm mất thì giờ. Thở hổn hển, mặt tái xanh, ông nhìn Đông, ngập ngừng hỏi:

– Cậu có mang theo cái gì ăn không? Từ sáng giờ, không ai đem xe lại sửa, tôi chưa có cái gì vô bụng hết.

Đông vội vã lục trong túi vải đeo bên hông, lôi ra mấy cái bánh gai còn lại. Người đàn ông không chịu dừng bước, ra dấu biểu Đông lột lớp lá khô nâu đen. Ông vừa ăn ngấu nghiến, vừa đi, vừa nhìn quanh quất như sợ có người theo dõi. Không nói không rằng, đôi giày sandal lết bết bùn đỏ, Kim cắm cúi đi, đi như có ai dẫn đường phía trước, đi như có ai kêu gọi từ rừng sâu.

Nấm mộ tập thể không cao hơn mặt đất bao nhiêu nhưng được đánh dấu bằng cây thánh giá gỗ. Cái chén sành không có một cọng nhang, nước mưa từ hôm qua còn đọng trong lòng chén. Đông đọc mấy chữ: Chết tháng ba năm 1975, được khắc trên cây thánh giá, quay nhìn Kim.

Kim ngồi chồm hỗm, bàn tay mân mê cái chén sành, chắt nước từ lòng chén, ấn mạnh cái chén xuống đất cho vững, không nói không rằng. Đông lắc đầu, kéo tay người đàn ông, ra dấu biểu ông đừng hỏi, đi ra xa, để mình Kim ngồi đó. Lòng buồn buồn nhưng không một dấu hiệu thương tiếc khổ đau, Kim nhìn nấm mộ, Kim không nhìn thấy màu cỏ xanh rậm chung quanh, không thấy hàng chữ được khắc trên cây thánh giá.

Ngước mặt, nhìn sâu hơn vô rừng, tìm kiếm. Rừng âm u. Rừng lặng im. Rừng tối đen thăm thẳm. Rừng chất chứa biết bao điều bí hiểm. Rừng kêu gọi. Rừng thở dài. Kim lắc đầu, đứng dậy, xoay lưng đi ngược trở ra hướng đường lộ. Đông và ông Lương lẳng lặng theo sau.

Trên chuyến xe đò Minh Trung chật cứng người, đứng sát nhau, chen chân giữa hai hàng ghế, Đông muốn ôm vai người bạn gái, ước ao người bạn gái dựa vào vai mình mà khóc. Nhưng không. Kim im lặng. Ánh mắt dõi theo hàng cao su dài thẳng tắp phía ngoài xe. Xe qua khỏi ngã ba Dầu Dây, khỏi rừng cao su ngút mắt. Bất chợt, Kim quay lại, nhìn Đông, nói, giọng thật bình thản:

– Kim có linh cảm anh Hải không nằm ở đó. Nấm mộ không cho Kim một cảm giác nào hết. Hoàn toàn không. Hoàn toàn dửng dưng. Anh Hải không nằm ở đó.

Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười

Cuối thu, một chín bảy lăm

– Mở cửa, mở cửa!

Tiếng kêu không rõ lắm từ ngoài đường hẻm, ngoài cánh cổng gỗ thấp đánh thức bà Ba Hòa. Hoảng hốt, trong bóng tối lờ mờ, bà quơ tay, lay mạnh cánh tay chồng. Ngay khi ông Ba Hòa vừa tỉnh giấc, cả hai đều nhận rõ tiếp kêu dục dã hơn, không phải ngoài hẻm mà ngay sát bên cửa sổ:

– Mở cửa, mở cửa!

Một giọng khác:

– Đừng đá cửa, đèn sáng là họ thức dậy rồi.

Lo sợ cho số mạng cánh cửa, chân quơ tìm đôi dép dưới gầm giường, ông Ba Hòa hấp tấp trả lời:

– Tôi mở liền đây.

Phương và Kim tốc mền, chân trần, chạy nhanh xuống nhà. Không hẹn, cả hai dừng lại ngay ở hai bậc thang cuối, há hốc miệng trước quang cảnh rợn người. Ông bà Ba Hòa vừa ngồi xuống sofa gỗ không nệm và rộng đủ cho ba người, xoay lưng nhanh, nhìn về hướng cầu thang gỗ trong khi hai thanh niên cỡ mười chín-hai mươi chĩa họng súng thẳng vào ông bà. Theo ánh nhìn của hai vợ chồng ông Ba Hòa, hai thanh niên cũng ngước mặt, nhìn. Ngớ mặt trước cảnh tượng hai cô gái trẻ trong cánh áo ngủ phong phanh giương đôi mắt nâu đen nhìn mình, hai thanh niên như quên hẵn công tác đêm nay. Mặc dù áo ngủ được may bằng vải cotton, hoa nho nhỏ, không mỏng lắm nhưng hình ảnh thiếu nữ trẻ trong cánh áo ngủ dài vừa tới đầu gối, rộng cổ, sát nách, đủ để gây một ấn tượng xốc nơi hai thanh niên cả đời chưa từng xem phim, chưa từng đọc một tạp chí, ngay cả trong thời điểm khẩn trương như đêm nay.

Bằng linh cảm con gái, Phương và Kim nhận thức tức thời ánh mắt ngớ ngẩn của hai anh chàng thanh niên trẻ này. Với giọng ngọt ngào, chân bước xuống bậc cầu thang cuối, đi về hướng sofa, Phương hỏi:

– Các anh cho biết chuyện gì vậy?

Nhanh trí, Kim bước theo, cũng ngọt ngào, cũng mềm dịu, đổ dầu thêm:

– Gia đình tôi có điều gì không đúng với cách mạng hả?

Kim tiến lại gần hơn, đứng sát bên chị mình, như vừa muốn chứng tỏ sư đồng minh của mình, như vừa muốn tìm chỗ dựa, giọng mềm hơn nữa:

– Hai anh làm ơn đừng chỉa súng vô ba má tôi.

Kim thọc hai tay vô hai túi áo lớn hình tròn bên hông áo ngủ, dấu sự run sợ đã bắt đầu chuyền khắp người. Phương tiếp liền theo:

– Hai anh ngồi xuống đi nhé. Các anh dùng cà phê đen hay sữa?

Phương giơ cao hai cánh tay trần, hất mái tóc dài hơi rối nằm hờ hững trên vai, ra phía sau lưng, dáng điệu thật nữ tính, nói tiếp:

– Hai anh làm ơn cho biết gia đình tôi đã làm điều gì sai trái, chúng tôi sửa đổi ngay thôi.

Phương chấp hai tay phía sau lưng để dấu những ngón tay run lên vì sự giận dữ đang nung nấu trong đầu khi Phương nhận ra sự nhún nhường đã vượt quá xa, gần như hèn nhát của mình. Trong khi đó, ông bà Ba Hòa không nói được một lời vì mãi mở to mắt theo dõi hành động khác thường của hai cô con gái. Cũng bắng linh cảm phái nữ, bà Ba Hòa hiểu nhanh màn kịch này, bà nhấn mạnh chân mình lên chân chồng. Nhưng, hai người thanh niên trẻ chỉ mua một nửa sự ngọt mềm của màn kịch này, không hẹn, cả hai như thức tỉnh, đeo súng lên vai. Trong khi ông Ba Hòa chưa kịp hiểu ra ý ngầm cái nhấn chân của vợ, tiếng anh thanh niên coi bộ trẻ nhất vang lên, rõ ràng nhưng hơi rồ rồ bể giọng và ráng ra vẻ nghiêm trọng như muốn kéo tất cả trở lại hiện thực:

– Cách mạng tịch thâu tất cả sách báo.

Chữ ”tịch thâu” được phát ra từ của miệng người bạn đánh thức anh chàng thanh niên lớn tuổi hơn ra khỏi hình ảnh hai người thiếu nữ trẻ đẹp với mái tóc dài lơ phơ và phơi bày thân hình chỉ được che dấu bởi một lớp áo cánh, kéo anh ta trở lại với công tác khẩn cấp đêm nay. Anh ta lên giọng, nghiêm trọng không thua gì bạn mình:

– Tịch thâu tất cả sách báo trong nhà.

Bây giờ, mái tóc hơi rối buông lơi xuống tới eo lưng của Phương, nụ cười Kim tươi như hoa cúc vàng ngày Tết, đôi chân trần lên tới đầu gối biến mất trong đầu chàng thanh niên trẻ. Cậu di chuyển mũi súng về phía ông Ba Hòa, qua phía hai người con gái, ra lệnh:

– Đem hết sách ra đây.

– Tất cả? Giọng Phương nhũng nước mắt khi Phương nhận ra tầm quan trọng vấn đề và màn kịch yểu điệu dành cho hai người thanh niên đáng tuổi em và chưa bao giờ nằm trong tầm mắt nhìn ngang của mình, hoàn toàn thất bại.

– Các anh tịch thâu sách chi vậy? Nước mắt cũng bắt đần chan đầy trong giọng nói lo âu của Kim.

– Hết tất cả! Một cậu thanh niên trả lời và hỏi tiếp:

– Sách đâu?

Bây giờ ông Ba Hòa mới lên tiếng, hỏi:

– Tất cả các loại sách?

– Hết tất cả! Sách đâu?

Cả hai cùng trả lời, cùng giọng điệu mất kiên nhẫn, cùng mức độ bực bội. Hai cậu không chờ trả lời, đeo quai súng lên vai, đi thẳng lại hai tủ đứng cao quá đầu hai cậu, nằm dọc tường. Cửa tủ không đóng nên chỉ cần kéo nhẹ nhưng sự bực bội dồn vào bốn bàn tay, bốn cánh cửa mở bậc tung, đánh mạnh trở ngược vào nhau.

– Đem bị lại đây! Giọng một cậu la to.

Không dằn được cơn giận đang nung nung trong đầu, Phương trả lời sẳng giọng:

– Nhà tui không có bị có giỏ gì hết, nếu…

– Có… có… để thím lấy cho. Bà Ba Hòa ngắt lời Phương, nghiêm khắc nhìn con gái, bà hỏi tiếp:

– Các cháu cần bao nhiêu cái bị? Không chờ trả lời, bà Ba Hòa đi nhanh xuống bếp, giựt vội cái bao bố Hai Cao vừa từ bếp đem lên trong một tốc độ hỏa tiễn.

Như để lầy lại khoảng thời gian bị đánh mất vì sự ngơ ngẩn mãi nhìn của mình trước hai thiếu nữ trẻ hầu như không bận quần áo, hai cậu ùa nhanh kệ sách này sang kệ sách khác. Sách rơi đổ dồn, rơi vất vải trên nền gạch bông, trên divan. Sự đổ vỡ, tiếng sách rơi như luồng khí kích động cánh tay quơ kéo mạnh bạo hơn và giọng nói trịch thượng hơn:

– ĐM, bỏ vô bao! ĐM, đứng đó ngó hả?

Ông Ba Hòa lượm hai quyển sách dầy bìa cứng, toàn màu đen có chữ mạ vàng, cầm trên tay, đưa phía trước, cố giữ giọng bình tĩnh:

– Đây là kinh Phật…

– Tịch thâu hết. Tiếng cậu trẻ nhất hét to: – Hết tất cả đều là sách ngụy, ĐM, tịch thâu hết sách ngụy. Nếu nhà này còn chứa sách ngụy là nhà tù cách mạng có dư chỗ cho mấy người.

Ráng giữa giọng ôn hòa mặc dù tất cả luồng máu đã chạy ngược lên đầu, lên mặt, ông Ba Hòa hỏi:

– Cách mạng tịch thâu sách chi vậy cháu?

– Đốt.

Một cậu xoay mặt về phía ông Ba Hòa, trả lời thách thức.

– ĐM, chuyện này không quan kệ gì đến mấy người.

Cậu khác trả lời một cách khó chịu vì bị đặt câu hỏi, một điều ít ai làm từ khi cậu thoát ly gia đinh để được mang băng đỏ ở cánh tay, được phát khẩu súng dài và cảm thấy quan trọng trong ánh mắt của mọi người. Nhận thức được tầm thảm hại của sự việc, Phương nhớm chân định chạy lên cầu thang. Cậu thanh niên trẻ nhất hét to:

– ĐM, đứng yên!

Quét tầm nhìn quanh phòng khách, cậu ra lệnh:

– Tất cả phải đứng đây.

Cậu nói tiếp, với bạn:

– Tao lên gác.

Cậu chỉ Hai Cao, biểu:

– Đem bao theo tui.

Phương bật khóc, cố lách mình chạy lên cầu thang trước cậu thanh niên này. Hoảng hốt khi tưởng đến những hậu quả có thể xẩy đến cho gia đình mà bà Ba Hòa đã được nghe kể về những trường hợp chống lại với cách mạng mà những cậu này là đại diện, bà nhào tới, chụp được cánh tay Phương. Bà Ba Hòa cắn môi giữ cho tiếng khóc không bật ra ngoài cổ họng, ráng nuốt cục nghẹn trong cổ để những giọt nước mắt không lây các con. Trước mắt bà, Loan, Hoàng Út đứng dính chùm nhau ở một-hai bậc thang, nước mắt lăn dài trên gương mặt hoảng hốt, trong khi ông Ba Hòa cố giữ Kim lại. Quanh bà, tiếng nưng nức cố dằn xuống, tiếng chân dẫm thình thịch trên nền gác, và giọng ông Ba Hòa nghiêm khắc nhưng nghe sao nghèn nghẹn:

– Phương, Kim, ngồi xuống! Chuyện này để ba má thu xếp.

Chữ ”thu xếp” đập vào phần đầu đang rối tung, đánh thức bà Ba Hòa. Bà phóng ánh mắt nghiêm nghị, sự nghiêm nghị bà rất ít khi dùng đến nhưng thật sắc bén và hữu hiệu đối với Phương và Kim ngay lúc này. Cả hai riu ríu ngồi xuống, không một lời phản đối. Bà Tư Hòa đi nhanh vào phòng ngủ nằm kế ngang phòng khách có cửa sổ nhìn ra mấy chậu hoa. Không đầy hai phút, trong khi ông Ba Hòa chưa kịp hiểu vì sao vợ mình bỗng nhiên biến mất thì bà đã trở ngược ra phòng khách. Bà đi nhanh đến gần cậu thanh niên đang lúi cúi lượm sách trên divan. Bà phụ cậu lượm sách để dồn vô bao bố. Đến gần cậu hơn chút nữa, nắm tay cậu, không cần nhìn thẳng vào mặt cậu, bà nói nhỏ nhẹ:

– Cả nhà sẽ giúp các cháu bỏ sách vô bao. Sáng mai các cháu trở lại, chỉ việc khiêng đi thôi.

Chất kim khí lành lạnh trong tay cậu thanh niên, đầu cậu ước lượng sức nặng của vật kim loại trong tay. Hình như sự suy đoán không làm cậu không an lòng lắm, cậu nhìn nhanh xuống bàn tay hơi hé mở. Không nói không rằng, cậu đi lên cậu thang, lên vừa đúng lúc cái đầu của cậu nhô lên khỏi nền gỗ để bạn mình nhận ra, cậu kêu:

– Sang, đi mày!

– Sao vậy? Trên đây ĐM còn nhiều sách lắm.

– Mình đi. Cậu thanh niên nhắc lại trong khi cậu bước lên thêm vài bậc thang, giơ bàn tay xòe rộng cho bạn mình xem.

Sự việc diễn tiến nhanh chóng và trơn tru nhưng cậu trẻ nhất coi bộ không thỏa mãn. Cậu chỉ Hai Cao, trong khi Hai Cao nhanh tay quăng một số sách sâu vô gầm giường của Phương và Kim thay vì bỏ dồn vô bao bố, nhưng cậu ta làm lơ, nói.

– Đem cái bao này xuống.

Mỗi cậu một bao sách, kéo ra cửa. Cậu lớn tuổi ngừng lại, nói:

– Bỏ hết sách ngoại quốc vô bao, sẳn sàng, sáng mai là tịch thâu hết, hết sách ngụy, hết thứ đồ quốc cấm đó.

Bà Ba Hòa trả lời giả lả:

– Được mà, thím sẽ bỏ hết vô bao, các cháu chỉ việc lại tịch thâu thôi.

Sự việc xảy ra không quá mười lăm phút nhưng đủ để đạp đổ tất cả những quyển sách mà gia đình đã gầy dựng từ bao nhiêu năm, đủ khả năng để chặt chín trái tim ra từng mảnh, từng mảnh nhỏ. Ngay khi hai người thanh niên khuất khỏi cánh cửa, không ai bảo ai, mọi người thi nhau lượm những quyển sách nằm rơi rải khắp nơi, bắt đầu xếp trở lại lên tủ sách. Nhưng, giọng ông Ba Hòa rõ mồn một:

– Đừng dẹp. Mình xếp tất cả sách vô từng bị nhỏ, vô cặp táp, vô giỏ đi chợ. Mình sẽ đem sách dấu ở một nơi khác. Chừa báo, tạp chí, sách giáo khoa của những năm trước để tụi lại có mà tịch thâu. Má bây lanh trí.

Bà Ba Hoà chẳng màng tới lời khen của chồng, bà hỏi, giọng lo lắng:

– Mình định đem sách dấu ở đâu?

– Mình chở theo xe đạp, xe honda lại nhà bà nội, dấu ở đó. Bà nội già, không ai để ý. Bây lẹ lên! Ngày mai, ăn sáng xong, Kim và Loan chạy xe PC, Phượng và Hoàng chạy xe honda, ba đạp xe đạp.

Đôi mắt Út mở to, giọng hồi hộp:

– Còn Út? Út làm gì?

– Ha… ha… Út cặp vài quyển sách hình chạy theo anh chị. Hoàng chọc em. Cậu bé cảm thấy mình lớn thêm năm tuổi vì được phân công trong một công tác thật là quan trọng này.

Út chạy lại má, miệng mếu máo: ”Má…” Phương chận Út lại ẵm lên tay, an ủi:

– Út coi chừng sách, Út nhớ đếm cho kỹ là mình đem đi dấu được mấy bịch nha.

Kim nhìn má, ngần ngừ, hỏi:

– Hồi nãy má đưa thằng đó cái gì vậy?

– Chiếc nhẫn.

Bà Ba Hòa trả lời như không có gì đáng nói đến.

– Chiếc nhẫn nào, má?

Bà Ba Hòa nhún vai, trả lời:

– Chiếc có hột cẩm thạch…

– Nhưng đó là nhẫn…

Bà Ba Hòa ngắt lời Kim:

– Thì có sao đâu?

Nhưng giọng bà trở ra hơi lưu luyến:

– Má nhắm mắt lấy đại, có kịp suy nghĩ gì đâu.

Trong tí tách, giọng bà lại hơi buồn buồn:

– Sách… sách mình bao nhiêu năm…

– Thôi, đừng xếp nữa. Ông Ba Hòa ngắt lời vợ

– Sao vậy?

Đám con cùng hỏi, như đang nghe chuyện ma trong đem tối bỗng ai đó bật đèn sáng lên làm mọi hồi hộp tan nhanh.

Ngồi xuống bên tách trà Hai Cao vừa để lên bàn, ông Ba Hòa chậm rãi nói:

– Ba suy nghĩ, ba đắn đo. Sách là để đọc, điều mình đọc nằm trong đầu mình, thấm trong tâm mình, không ai lấy được, không ai tịch thâu được. Sách mắc tiền, sách quí giá, sách đã theo gia đình mình bao nhiêu năm nay, sách là một thành viên trong gia đình mình. Nhưng… sách cũng chỉ là vật thể…

– Nhưng… Phương ngắt lời ba.

Không màng đến sự phản đối của Phương, ông tiếp tục:

– Mình không thể đổi sự an toàn của bản thân cho vật thể. Ba không lường được những gì sẽ xẩy ra cho các con trên đường đem sách đi dấu. Ngoài đường, ngoài xóm… không biết đâu mà lường vì ba không biết đây là chiến dịch từng địa phương hay toàn nước. Mình xếp sách trở lại tủ. Nếu sáng mai tụi nó lại thì mình để tụi nó tịch thâu, không phản đối, không đút lót gì hết. Ba nghĩ đến cách mạng văn hóa bên Tàu. Gần mười năm rồi mà vẫn chưa nguôi. Ba nghĩ đến sự đẵm máu, sự tù tội, sự rùng bắt mà cuộc cách mạng văn hóa đã và vẫn tiếp tục giáng lên đầu người dân Trung Hoa. Không được, mình không thể lấy mạng sống đổi với sách. Các con đi ngủ đi.

Quả bong bóng căng đầy niềm hăng hái và sự hấp dẫn bị đâm thủng, đám con thở dài trong khi người mẹ thở ra nhẹ nhàng và lẩm bẩm trong miệng: ”Lạy Trời, đừng để tụi nó đừng trở lại.” Nhắm chừng các con đã lấy lại giấc ngủ vô tư tuổi trẻ, ông Ba Hòa nói với vợ: ”Anh soạn tìm một số sách quí, ít thôi. Ngày mai, tự anh chở sách lại má nếu tụi nó không trở lại sớm và nếu ngoài xóm yên ổn. Mình đừng lo, anh đi xe đạp, ít ai để ý.”

Bữa ăn sáng sớm hơn thường lệ vì sự căng thẳng khuấy động làm giấc ngủ không muốn kéo dài hơn như mọi ngày, dù bị ngắt đoạn giữa đêm. Mặc dù phần xôi đậu xanh trong chén của mỗi người không vun đầy như nửa năm trước, Phương và Kim không thiết và sạch những hột nếp mền ở đáy chén, rủ nhau ra hẻm xem xét sự tình. Câu hỏi ” Đây là chiếc dịch toàn quốc, toàn Sài Gòn, toàn quận mười hay chỉ ở phường Bà Hạt này, hay chỉ cho căn nhà này, được thảo luận sôi nổi, được tưởng tượng qua đủ mọi tình huống theo cái mềm dẻo của nếp trắng và vị bùi bùi của những hột đậu xanh đã được ngâm qua đêm bằng nước sôi.

Bốn-năm thanh niên đứng dựa thành một chiếc xe nhà binh đậu ở đầu hẻm. Trong thùng xe, sách chồng lên sách, từng đống, từng bao, nhỏ có lớn có, không chút thứ tự. Và từ đầu hẻm bên kia, từ những con hẻm phụ, thêm bảy-tám thanh niên thiếu nữ, với mẫu số chung là vai đeo khẩu súng dài và tay mang băng đỏ đậm, người vai vác bao, kẻ tay kéo bị, cùng hướng về phía xe nhà binh. Đi chung nhau, vừa đi, cô cậu vừa chuyện trò rôm rả, nét mặt hớn hở như sau một cuộc săn bắn thành công lớn.

Trong khi đó, Phương và Kim đúng chung với những người khác trong xóm, chứng kiến chiến trận của những thanh niên thiếu nữ tuổi trên dưới hai mươi. Ánh mắt chứng nhân đổi nhau giữa sự giận dữ, lo âu, hãi sợ, hoang mang và buồn bã. Một người đàn ông lấy hết can đảm, hỏi to:

– Cô cậu đem sách đi đâu?

Giọng trả lời khinh khỉnh:

– Đốt

– Tiên sư chúng mày! Người đan ông đứng gần Kim buột miệng chưởi thề, chỉ đủ cho chính ông ta và vài người gần đó nghe.

– Thứ khốn nạn! Kim đệm thêm.

Một khác hỏi tiếp:

– Đốt ở đâu?

– Ở trụ sở phường.

– Chừng nào?

– Tối này, lại coi bà con.

– ĐM, coi thằng cha mày! Người đàn ông chưởi lần nữa.

– Tổ cha cái thứ hạ cấp! Kim đệm thêm.

Người đàn ông quay nhìn Kim.

– Ha… ha… ha… Cả ông ấy và Kim cùng cười to, cười cho những lời chưởi thề thật sự chỉ là cho nhau vì không dám to giọng, cười như đề tự an ủi trước sự việc đau lòng. Phương quay phắt, nhìn Kim, nhìn người đàn ông, ánh mắt khó chịu, hỏi:

– Vui lắm sao mà cười?

– Ha… ha… tụi nó vào nhà hai cô? Người đàn ông hỏi.

– Có bị tha đâu, còn nhà anh? Kim trả lời.

– Cùng số phận. Tụi nó tịch thâu… ĐM… lấy hết… thật sự… xin lỗi hai cô… Thật sự, tôi chỉ muốn nhào dựt lại, tới đâu thì tới.

– Tụi nó vô tất cả trong xóm mình hả anh? Phương kỏi.

– Tôi không nghĩ vậy. Làm sao mà tụi nó làm kịp cùng lúc. Tôi nghi tụi nó có sẵn danh sách, tấn công chính xác, hữu hiệu. Coi bộ tụi nó thật sự có kế hoạch đâu ra đó, tụi nó nghiên cứu từng nhà, chấm nhà nào có nhiều sách báo, bất ngờ đánh ập nửa đêm, mình trở tay không kịp. Kỳ này tụi nó thật sự thắng.

Bụi tro li ti theo làn khói mờ mờ trộn lẫn tiếng trẻ con reo hò thúc dục bước chân Phương và Kim. Trong sân trước của một căn nhà bị chính quyền cách mạng tịch thâu làm trụ sở phường vì chủ nhà đã chạy ra nước ngoài, bảy-tám thanh niên thiếu nữ được miệng người dân gọi là Việt Cộng Ba Mươi, người đứng kể ngồi, quanh một đống sách, tranh tài nhau xem ai quăng sách chính xác vô đám lửa đang cháy các xa chừng mươi mét. Một đám con nít quay quanh đám lửa, dùng cây khều khều cho mấy quyển sách dầy cháy giòn hơn, và vỗ tay reo hò mỗi khi có quyển sách được quăng đúng ngay giữa đám lửa, làm khói bụi tung cao. Mười-mười hai người lớn đứng chụm nhum một góc vườn, im lặng nhìn. Phương và Kim tự xếp mình cùng hoàn cảnh với những người này nên nhập chung vô.

Đám lửa không lớn lắm và số người đi xem không nhiều như Phương và Kim tưởng tượng trước khi đến nơi. Có vẻ như đám thanh niên Việt Cộng Ba Mươi có chủ ý muốn kéo dài quang cảnh đốt sách này nên họ quăng lai rai từng quyển một vào đám lửa đang có khoảng bảy-tám quyển cháy lở dở. Những trang sách cuốn cong, ánh lửa nhảy múa hăng say hơn và rồi trở thành một khối trắng gần như trong suốt. Và rồi. Môt cơn gió nhẹ thổi qua, khối tro trắng trong ấy tan nhanh, lẫn trong làn gió, hòa trong làn khói đục, bay lờ mờ lên cao, lên cao nữa, tìm kiềm linh hồn người chị người anh, đi vào miền vĩnh hằng. Chữ, câu, đoạn nằm lại, trở thành tro bụi, trở về với thiên nhiên.

Bấm chặt bốn ngón tay vào lòng bàn tay, ngón tay cái bấm bao bên ngoài, chặt hơn nữa để giữ nỗi giận dữ pha với nỗi niềm hoang mang trong lòng, Phương nói, giọng ngậm đầy nước mắt:

– Về, Kim.

– Vui quá mà sao hai cô định về?

Một người đàn ông đứng kế bên tự lúc nào mà hai chị em không lưu ý tới. Phương quay nhìn, té ra là người đàn ông chưởi thề liên tục hồi sáng sớm. Phương cáu kỉnh, hỏi:

– Vui?

Kim bồi thêm:

– Hồi sáng, Kim nghe anh chưởi thề liên hồi khi tụi nó mời mình lại coi đốt sách, vậy mà anh cũng đến à.

-Ha… ha… Người đàn ông cười to. – Ha… ha… tiệc… tiệc lớn… khói với tro. Tôi thật sự hy vọng tụi này có được một buổi tiệc lớn.

– Hả? Ánh mắt Phương long lanh nỗi bực tức pha chút tò mò, nhìn người đàn ông, chờ một giải thích êm tai hơn.

– Thật sự, tin đồn đáng tin là hai phần ba số sách tụi nó tịch thâu được đã đi đường khác, đang nằm ở một chỗ khác.

– Hả?

– Coi bộ hai cô không biết tụi Cách Mạng Ba Mươi này lắm.

Phương bỉm môi trả lời:

– Tụi nó không đáng là hạt bụi trong đầu Phương, nói chi là quen với biết. Nhưng… hồi nãy anh ”thật sự” muốn tụi này có được một buổi tiệc, ý là sao?

– Thật sự là như vầy… he… he… money money money, must be funny… Người đàn ông cất giọng hát, hơi thấp.

– Suỵt… một tiếng ngoại ngữ là cửa tù rộng mở đó nghen anh bạn.

Kim đưa ngón tay lên miệng, nhắc chừng. Phương reo nhỏ:

– A… Phương hiểu rồi.

– Yes… Người đàn ông nháy mắt với Phương, hát tiếp: ”Money money money, alway sunny…” Đúng không nào?

Muốn tỏ vẻ ta đây cũng hiểu chuyện, Kim hỏi:

– Bộ tụi nó đem sách bán lại cho tiệm sách hả? Tiệm sách bị đóng cửa lâu rồi mà.

– Trời ạ! Người đàn ông giơ tay ôm đầu, tỏ vẻ bất lực trước một câu hỏi quá thông minh.

– Cô này đang sống ở đâu vậy?

Ông ta lắc đầu, nói tiếp:

– Thật sự là như vầy, nếu một ngày đẹp trời nào đó, cô đi chợ, không cần là chợ Bà Hạt này, chợ Bà Chiểu hay chợ Bà Nào cũng được, hàng của cô được gói bằng vài trang sách của cô. Hay đó chớ?

Người đàn ông nhẻo một nụ cười méo mó.

– Được phép vậy sao? Ánh mắt nâu đen mở to, Kim hỏi.

– Trời ơi là Trời! Người đàn ông lắc đầu lia lịa trong khi Phương cười khoái chí vì dáng điệu hề của ông ta. Ông tiếp:

– Điệu này là cô phải qua một khóa cải tạo để học về cái xã hội mới tanh này. Cô nghĩ có luật có lệ ở cái đất nước thời này hả? Đúng… đúng có chớ… nhưng mà luật rừng… ha… ha… bởi vì luật ở nước này được làm ra bởi những người đã từng sống trong rừng… ha… ha…nên được gọi là luật rừng…

– Suỵt…

– Không tốt sao? Phương hỏi ông ấy.

– Tốt? Cô muốn nói tốt cái gì?

– Sách để đọc, nghĩ lỹ đi.

– À há… hiểu rồi… tốt thật sự. Đó chính là điều tôi thật sự muốn nói từ lúc đầu… money money money, must be funny… sách của mình càng được đem đi bán nhiều thì càng có nhiều người được đọc, đọc trong bếp, đọc trong cầu tiêu, đâu cũng được, miẽn sao là có người đọc. Đáng an ủi lắm chớ.

– Phương hy vọng nhiều người dấu được sách. Giọng Phương buồn buồn. Người đàn ông gật đầu:

– Tôi cũng hy vọng như vậy. Khó mà tiến hành chiếc dịch đốt sách này cùng lúc trên toàn quốc. Tin xấu đi nhanh.

– Thôi, về. Kim không chịu nỗi cảnh này lâu hơn.

***

– Cái ông Thật Sự này coi bộ không khờ lắm đâu, Kim há.

Phương phê bình một câu trước khi hai chị em thiếp ngủ.

***

Ông bà Ba Hòa mua miếng đất ở bên ngoài Phú Lâm, trên đường ra Long An, với chút vườn sau nhà. Phía trước bà Ba Hòa mở một tiệm tạp hóa nhỏ mong kiếm sống an phận qua ngày và tiêu dần số gia tài dành dụm từ bao năm nay. Kim và Phương theo bạn rủ ra buôn bán, mỗi ngày đạp xe đạp từ Phú Lâm vô Sài Gòn, gần mười cây số, chạy mối thuốc tây.

Môi trường buôn bán thuốc tây thường là những chị con công chức cao cấp, vợ sĩ quan đi học tập. Hoàn cảnh kinh tế đổi chiều, các chị, các cô bung ra tìm lối sống cho mình, cho gia đình mình. Các chị không còn là con mèo nằm ngủ dài trên sô pha chờ được vuốt ve, nũng nịu rút người trong vòng tay chồng. Các chị xông xáo ngoài đời, đánh hơi tìm đường sống cho gia đình mình, bươn chải nắng mưa chăm chút nuôi chồng tù tội.

Buôn thuốc tây đòi hỏi chút vốn, chút kiến thức, không lam lũ nên thích hợp với những người thiếu nữ cả đời sống dưới sự chở che của cha mẹ, chồng. Kim quen với mấy chị có chồng đi học tập, kể chuyện thăm nuôi chồng, kể nỗi uất ức nhục nhã của mấy ông chồng.

Rồi lại thấy mấy chị chắt chiu dành dụm cho chuyến thăm nuôi tới, than thở, buồn lo trong nỗi háo hức chỉ được nhìn thấy chồng mười lăm, hai mươi phút ngắn ngủi. Kim chỉ biết nuốt nỗi buồn tủi và thầm nhủ:

Mấy chị có chồng, có người yêu để thăm nuôi, để lo lắng buồn rầu, để kể lể nhớ nhung, để gom góp dành để. Còn em, ước chi em cũng được chắt chiu từng đồng từng gói thuốc lá, được các chị rủ nhau tìm kiếm xe đò đi chung, được đi thăm nuôi anh, được ngủ bờ ngủ bụi chờ giờ gặp mặt anh. Em không có ai hết. Em tìm kiếm, em hỏi thăm. Em nhờ các chị nhắn trong trại tù tin em tìm kiếm anh, không một trả lời. Không một nơi bám víu. Gia đình anh Trí di tản từ hôm hai mươi sáu tháng tư, em mất anh từ đó. Từ ngày ba má dọn về Phú Lâm, em lên xuống thường xuyên căn nhà ở hẻm Trần Quốc Toản này, em cho chủ nhà địa chỉ mới, để hy vọng một tin báo. Vô âm tích! Ba thương em, ba ra Phan Thiết, ba tìm lên Phú Long, không ai dám nói chuyện lâu với ba, không ai dám nói về một trung úy “ngụy”. Người ta không cho phép ba tìm thăm một người lính ”ngụy! Vô vọng! Em tìm lên Định Quán, ngồi trước nấm mộ chung, lắng chờ, không một lời kêu gọi. Một linh cảm cho em thấy là anh không nằm đó, em không nghe anh gọi: “Chó Nâu” Nhưng có phải em đã mất anh? Phải thế không Hải? Em mất anh bằng cách nào hở Hải? Anh kể nhà anh ở làng Phú Long, xa biển lắm. Nhà anh mái ngói đỏ, trước nhà là cây me già to lớn, nơi nghỉ mát cho những người đi chợ về trong những ngày gay gắt nắng mùa khô. Trước nhà là sân gạch rộng để phơi lúa. Bên cạnh chái nhà bếp là cây khế ngọt, có một cành trái ngọt đậm đà hơn những trái ở những cành khác, anh hứa sẽ biểu ở nhà dành cành khế đó cho em. Anh kể anh đạp xe mỗi ngày đi học trường Phan Bội Châu, trưa về đạp xe qua mấy ruộng muối trắng cao, bụng đói cào. Anh hứa mai mốt anh dẫn em về Phú Long, cho em thưởng thức món bánh hỏi lòng heo, cho em quen mùi mắm nêm mắm ruốt. Anh kể anh là con út trong một gia đình sáu người con. Những người con trai trong họ nhà anh ai cũng mang chữ Ngọc là chữ lót… Em mất anh rồi, Trần Ngọc Hải. Em không biết khóc nữa. Nữ thần Thượng Ngàn không phù hộ cho anh nữa rồi.

Good and Evil – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười một

Tháng tám, một chín bảy mươi chín

Không chịu nổi cuộc sống bưng bít, nhất nhất đều bị kiểm tra, mọi suy tư con người đều bị điều khiển theo một hướng cố định, và nhất là nhìn thấy tương lai càng ngày đổ xuống nhanh theo con dốc bùn lầy, vợ chồng Tâm-Hạnh và Phương tìm đường vượt biên cả hai năm nay. Không bị tù là coi như may mắn. Trắng tay trở về, công việc làm không còn, hai vợ chồng Tâm-Hạnh chạy hàng thuốc tây để dành dụm cho chuyến vượt biên kế, rồi kế tiếp, cứ thế, bốn chuyến lận đận.

Hai con, Thùy Linh và Thùy Trang theo ba mẹ nay nằm bãi Vũng Tàu, mai nằm bãi ngay tại bến Chương Dương từ khi mới hai và một tuổi. Mỗi lần trở về trắng tay là mỗi lần phải ở nhờ nhà ông bà Thành Đạt, ba mẹ Tâm, là mỗi lần ngửa tay mượn tiền ông bà làm vốn, gầy dựng vốn mới, tìm đường mới. Hai năm biết bao gian lao, Tâm và Hạnh quyết tâm đeo đuổi như không còn đường quay trở lại với cuộc sống lặng thinh cúi đầu nữa.

Phương lại càng quyết liệt. Mỗi ngày qua đi là mỗi lần Phương tưởng như mình không thể cúi đầu tiếp tục cách sống nhắm mắt, bịt tai, câm miệng thêm một ngày nào nữa. Không thể kéo dài thêm ngày nữa. Từ khi trường Đại Học Văn Khoa bị tiếp thu và bị đổi tên, chương trình học xáo trộn, Phương nghe lời ông Ba Hòa, ráng tiếp tục, nhưng không ngậm miệng được. Bữa cơm gia đình ngày nào Phương cũng có chuyện kể về đám sinh viên trở mặt trơ tráo, về giờ giảng như lời đọc một bài văn ca tụng, giọng kề khi mỉa mai, lúc hằn hộc

Được vài tháng, Phương không chịu nổi những giờ học biến thành giờ phê bình kiểm thảo, giờ chửi bới, giờ nói theo, giờ tranh dành được lên chức cảm-tình-đoàn… Cùng lúc với Kim nghỉ học trường Sư Phạm, Phương bỏ ngang, không chút luyến tiếc và ông bà Ba Hòa cũng không còn muốn khuyên răn, không muốn la rày hai cô con gái. Ông bà không nhìn thấy tương lai con cái trên đường học vấn. Ông bất lực khi nhìn sự già dặn đến nhanh trong lối nghĩ suy của các con vì phải bỏ học nửa chừng để xông xáo ngoài đời, kiếm miếng sống cho gia đình. Kim cũng mong tìm đường vượt biên như hai chị, nhưng gia đình không có khả năng. Phương được ưu tiên đi trước mở đường cho các em.

Bây giờ mới trót lọt, trơn tru một cách không ngờ. Chuyến đi như giọt mưa long lanh nhỏ rơi trên tòa lá sen rộng lớn đầy tình thương, giọt nước trôi nhanh xuống vùng trũng bình an, không một gợn gió làm giọt nước chòng chành chực rơi xuống ao sâu.

Vừa ra hải phận là được tàu Cap Anamur vớt! Một tuần sau, ông bà Ba Hòa nhận được điện tín của Phương. Ngay lúc đó ông bà Thành Đạt cũng vội vã qua nhà ông bà Ba Hòa để báo tin mừng là đã nhận được điện tín của vợ chồng Tâm-Hạnh, hai cháu Thùy Linh và Thùy Trang mạnh khỏe. Tất cả hiện đang tạm trú tại Đức để chờ đi định cư ở Mỹ với hy vọng tiếp tục ngành nghề của mình. Gia đình Tâm có người cậu đã đi du học ở Mỹ từ năm 1971 và đang định cư tại Boston. Phương cũng xin đi Mỹ cùng với anh chị Tâm-Hạnh. Ông bà Ba Hòa vui thật sự, niềm vui dấu kín đè nén không làm giảm được không khí rộn ràng trong những bữa cơm gia đình, những hôm nhận được hình của hai cô cháu ngoại má phúng phính hồng với cái áo len dầy.

Ánh sáng tương lai dường như hé mở cho gia đình ông bà Ba Hòa sau bốn năm đằng đẵng, tưởng đã phải chấp nhận cúi đầu mà sống. Bây giờ Kim là chị lớn trong gia đình. Kim chững chạc, thùy mị hơn bốn năm về trước. Mối tình với Hải, sự tranh đua trong buôn bán đã làm Kim thành một thiếu nữ theo đúng tuổi của mình, có thể già dặn hơn so với những người bạn trai cùng lứa sống nhởn nhơ qua ngày, không một dự tính cho tương lai.

Đôi lúc Kim tự cười mình và nói thầm với Hải khi đứng trước tấm gương lớn tủ áo ngày xưa Kim thường chu môi chỉ chỏ vô, tự mắng những khi Kim làm Hải buồn: «Bây giờ đừng có chê em là con nít nữa nhá, không biết anh có còn yêu cô Kim này không nhỉ. Cô Kim biết tính toán hơn thua, cô Kim biết tránh biết né, biết dùng cái nhu mì yểu điệu làm vũ khí lừa gạt tụi công an. Anh nhớ không, ngày xưa Kim ghét nhất những ai lợi dụng tình yêu của người khác cho mình để đạt được điều này chuyện nọ. Thế mà cô Kim đã như thế đó anh Hải ạ! May là em dừng chân kịp thời, không để lại sự oán hận nơi Cảnh, em đã ráng tìm cách đền bù trả ơn. Nhưng đó cũng là một vết tì trong lương tâm, phải không anh? Có quá nhiều đổi thay Hải ơi! Có quá nhiều mất mát, anh ơi! Tâm hồn con người bị nhiễm dơ hồi nào không ai hay biết đó anh Hải. Nếp nghĩ suy của con người đổi hướng hồi nào không ai hay đó anh Hải. Con Chó Nâu của anh bây giờ không còn nằm lười mỗi buổi trưa chờ nghe tiếng mở cổng nhè nhẹ, không còn hỉnh mũi đánh hơi người lính có còn trở về. Con Chó Nâu biết lục lọi, biết gầm gừ với những biến chuyển chung quanh mình, biết chợp cơ hội, biết thả mồi. Anh có còn thương con Chó Nâu này không? Em nói thế chứ tận cùng trong thâm tâm con Chó Nâu, Chó Nâu vẫn mềm như ngày xưa anh yêu, những ngày Chó Nâu yêu anh thắt lòng. Chó Nâu chỉ biết nuốt ngược giòng nước mắt tủi thân trong những ngày tình cờ đi ngang trường Sư Phạm, tình cờ thấy từng đám hoa quỳnh đàn khô nhỏ tung bay cuốn theo cơn gió xuân ở đường Cộng Hoà, Thành Thái. Và rồi đêm về để mặc cho giòng nước mắt tự do lặng lẽ trôi trên gương mặt nâu hồng rám nắng trời, nng đời, lịm người vì thương nhớ, tủi thân.”

***

Kim quyết định tìm đường vượt biên, đường Phan Thiết. Kim gắn bó với Phan Thiết. Mối thâm tình cùng Phan thiết đã khiến Kim biết thưởng thức món mì Quảng ở đường Lê Văn Duyệt chủ quán người Phan Thiết, đã khiến Kim thích món ốc hương chấm nước mắm gừng đặt sệt ở Ngã Sáu Phù Đổng Thiên Vương…. Trong số những người buôn bán thuốc tây, cứ hễ nghe ai đó nói giọng cưng cứng, Kim nhận ra ngay đó là giọng Phan Thiết, rồi lân la làm quen. Một chị cùng buôn thuốc tây với Kim rủ Kim vượt biên.

Chuyến đầu tiên, Kim, Loan và Hoàng được đưa vô một căn nhà cuối đường Nguyễn Hoàng, gần cầu Sở Muối để chờ được bốc đi. Bản chất thật lòng với mọi người của Kim rất hợp với những người lớn tuổi, nhất là người lớn tuổi chân thật. Chỉ ở nhà bác Hai Tiếp được vài tiếng đồng hồ là bác thương, bác đối xử ba chị em Kim như con cháu.

Đang mùa cá nục, bác Hai Tiếp kho một nồi cá thơm cay đãi mấy chị em Kim và hai người khách nữa cũng từ Sài Gòn. Người Phan Thiết kho cá nục ngộ lắm. Họ ngắt cái đầu, nhúng đầu cá vô một tô muối trộn ớt, tỏi, tiêu, đường, rồi nhét đầu cá vô bụng con cá nục tươi xanh. Chỉ kho vừa chín.

Lúc ăn, bác gái chỉ cách ăn cá nục kho. Dẻ miếng cá ngay lưng, dầy thịt béo ngậy ăn trước vì phần đó chưa mgấm nhiều gia vị. Sau đó là ăn tiếp các phần khác, đến cái đầu cá trong bụng thì nhai luôn cả xương. Cái đầu cá thấm ớt tỏi cay xé miệng, cay điếng tới mang tai, làm lùng bùng màng tang, béo béo vị xương mềm.

Chị em Kim mê món cá nục kho của Phan Thiết quá, bảo nhau: «Nếu đi chuyến này không được, mình nhờ bác gái kho dùm mình một soong đem về cho ba má thưởng thức. Ở Sài Gòn chưa bao giờ mình đưọc ăn cá kho tươi xanh, ngon ngọt như thế này cả, toàn là cá hấp giỏ. Bây giờ mình mới có diễm phúc được thưởng thức cá biển tươi xanh cứng.»

Ngày hôm sau, bác Hai Tiếp lại đãi một món cá nục: cá nục hấp. Lần này, Kim xuống bếp phụ với bác gái. Bác chỉ Kim cách làm cá. Dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ, bấm mạnh cái mang là rút được hết mang cá, bụng cá, rửa sạch, gọn gàng, nhanh chóng. Những con cá nục to bằng cườm tay, tươi xanh, còn nhơn nhớt cứng. Bác làm một tô nước mắm cay, một rổ lớn gồm nhiều loại rau sống, bánh tráng mè đen đầy hơn bánh tráng dẻo của Sài Gòn nhưng mỏng hơn bánh tráng để nướng. Mọi người ngồi quanh bàn ăn, trước mặt mỗi người một cái dĩa. Bác hấp cá nục trong một cái rế gát lên soong nước sôi. Hấp chừng năm phút là được một đợt cá chín. Bác để cả cái rế lên một cái dĩa bàn, rồi mạnh ai nấy dẻ cá sắp lên cái bánh tráng mới nhúng nước, rau sống, bún, cuốn thành một cuốn to tướng, chấm vô chén nước mắm cay nồng.

Tính Kim ăn nhỏ nhẹ, nay phải cầm cả cuốn bánh tráng to tướng mà ăn, Kim lúng túng, cắn từng miếng nhỏ. Bác gái phải dục Kim ăn nhanh để cá trong cuốn bánh không bị nguội. Bác còn dặn là phải xếp cá cho nhiều, cho dầy cả cuốn, đừng xếp nhiều bún, mất cái vị thơm béo của cá nục hấp. Bác canh chừng khi thấy rế cá trên bàn gần hết là bác hấp tiếp một rế nữa. Thịt cá bùi bùi béo béo, rau sống thanh thanh ngòn ngọt, nước mắm chanh cay, bánh tráng deo dẻo, tất cả mùi vị quyện một lúc theo từng cái nhai ngấu nghiến, nuốt, nhai, không một lời chuyện trò, ăn hoài không chán. Hai mươi phút sau, bụng người nào người nấy căng cứng chỉ toàn là cá, rau sống và bánh tráng.

Buổi chiều, bác Hai Tiếp gái đi chợ về, hớn hở vì mua được một rổ cá mai. Bác biểu mùa này chợ toàn là cá nục, có được rổ cá mai là may mắn lắm. Bác sẽ làm món gỏi cá mai đặc biệt của Phan Thiết. Chưa bao giờ Kim được trong thấy tận mắt con cá mai. Cá to dài bằng ngón tay con gái, màu trắng trong dưới lớp vẩy sáng long lanh, đôi mắt đen xinh xắn, nhơn nhớt tươi cứng.

Chỉ nhìn cách bác Hai Tiếp làm cá là Kim và Loan phụ được ngay. Phải làm theo thứ tự. Đánh vẩy, cắt đầu, cắt đuôi, cắt bụng, rửa sạch. Đánh đánh cho rổ cá ráo nước. Bắt đầu dùng ngón tay cái đẩy nhẹ đường xương sống, lấy cả mảnh xương sống ra, từng con. Ngâm cá trong nước phèn chừng nửa tiếng, xả nước lạnh, xả nước phèn, xả nước phèn ba lần. Bấy giờ thịt cá hầu như chín cứng, trắng đục. Thịt ba rọi luộc chín, cắt mỏng, dài. Rau húng cắt nhuyễn. Hành sống cắt từng lát mỏng thật mỏng. Tất cả được trộn nhẹ nhàng trong một thau mủ, phải trộn cẩn thận nhẹ tay để cá không bị nát. Đậu phọng rang vàng thơm, giã nhuyễn, để đó chờ tô nước mắm pha rất đặc biệt khác hẳn cách pha nước mắm của người Sài Gòn.

Cái cối ớt đỏ với tỏi được giã nhuyễn trộn với đường cát, nước mắm phải là nước mắm ngon, trộn vào, thành một hỗn hợp sền sệt đỏ hồng. Bốn trái chuối sứ chín mùi được nghiền nát như tô bột gạo Bích Chi Kim thường pha cho người già trẻ em mỗi buổi sáng. Trộn chuối vô cối nước mắm, trộn tất cả thành một hỗn hợp nâu đỏ tươi sền sệt vì không pha nước. Trộn nước mắm vào thau cá, cuối cùng là đậu phọng vàng thơm. Bánh tráng phải nướng tại nhà mới thơm, dòn.

Kim tập nướng bánh tráng. Lửa than nóng, tay cầm một thanh tre dẹp dài chừng bốn mươi centimet, tay trở bánh tráng. Phải trở nhanh và vừa trở vừa xoay đều, vừa ép ép thanh tre cho bánh tráng không bị cong. Màu vàng ửng trong lớp mè đen tiến dần, tiến dần theo chiều xoay, cho đến khi cả cái bánh tráng ửng vàng, Kim để nhanh cái bánh tráng lên mặt lò than nóng để nướng phần chính giữa, trở qua mặt bên kia, nhanh tay. Nhìn lớp bánh tráng dòn thơm Kim vừa nướng xong nằm thẳng thớp trên cái sàng thưa, không một chỗ cháy đen, bác Hai Tiếp cười khen: “Con này coi bộ làm dâu Phan Thiết được đây.” Mắt Kim rưng rưng, cúi mặt, dơ cánh tay chùi mồ hôi nhỏ giọt trên trán, chùi những giọt nước mắt chợt tuôn ra. Loan liếc nhanh về phía chị, cũng cúi đầu lặng thinh.

Bún Phan Thiết cũng khác với bún Sài Gòn. Cọng bún không nằm tơi lẫn lộn mà được xếp thành từng lọn dài, gọi là con bún, trắng au, nằm ngay ngắn trên lớp lá chuối xanh mướt. Gắp một con bún là coi như đầy chén. Bác Hai Tiếp nấu thêm một nồi nước lèo, gồm nước luộc miếng thịt ba rọi, vài miếng xương. Bác vớt xương ra, nêm hành ngò, nước mắm, đậy nắp giữ nóng. Người Phan Thiết không thích dùng bột ngọt khi nấu canh hay nước lèo và rất kén nước nắm. Dùng nước nắm thì khỏi dùng bột ngọt, vừa ngon ngọt, vừa bổ, đó là bí quyết người nội trợ Phan Thiết.

Bữa ăn dọn ra, mỗi người một cái chén, một cái muỗng, một đôi đũa. Bẻ miếng bánh tráng dầy mè dòn thơm, gắp một đũa gỏi để lên bánh tráng, đưa vào miệng đã ứa nước miếng vì màu sắc vì mùi thơm, nhai ngấu nghiến. Cái dòn dòn của bánh tráng, cái xừng xực của thịt cá vừa chín mà không cần nấu, cái béo ngọt của miếng thịt ba rọi, cái cay cay của ớt đỏ quyện với rau thơm, cái ngòn ngọt vị chuối, cái thơm thơm đậu phọng rang, ăn hoài không biết chán. Ăn được vài miếng gỏi với bánh tráng, bác Hai Tiếp nhắc ăn bún. Dẻ con bún, gắp một miếng bỏ vô chén, chan nước lèo, thêm vài gắp gỏi. Tô gỏi nước như thay đổi nhịp nhai, để chuẩn bị những gắp gỏi khô sau đó và cũng để no bụng. Cứ thế, cho đến khi bụng căng cứng. Cách ăn uống của người Phan Thiết sang lắm, chỉ toàn rau tươi, cá tươi, ít bún, ít cơm.

Ngày thứ ba, bác gái nấu canh cá nục với lá me chua. Cũng những con cá tươi cứng, to bằng cườm tay. Nhưng lần này, bác gái cắt làm hai, nấu canh chua chỉ có lá me non, không giá, không bạc hà… và dĩ nhiên không bột ngọt. Nước mắm sống phải là loại ngon, dầm ớt hiểm cay xé lưỡi được chia ra làm ba dĩa. Tô canh múc ra, bác gắp mấy khúc cá trắng tươi xếp lên dĩa nước mắm dầm ớt. Dẻ miếng cá, nhúng chút nước mắm cay, ăn với cơm trắng dẻo. Cái béo bùi của con cá nục bây giờ mới thực sự làm cho người thưởng thức nhận ra toàn vẹn, khác hẳn với những loại cá khác. Đến khi chén cơm còn chừng phân nửa thì chan nước canh chỉ có lá me non. Nước canh chua chua ngọt ngọt thanh thanh, lá me non ngọt ngọt chua chua thanh thanh, bữa cơm đơn giản ngon thơm thanh thoát làm trán toát mồi hôi hột cho những ai chưa quen ăn cay. Với chị em Kim, đây là món canh chua nhớ đời, canh chua lá me non nấu với cá nục tươi.

Bác Hai Tiếp biểu cá nục là loại cá sống theo đàn, vớt một mớ lưới lên là khoanh ghe đầy nhóc. Nước mắm nổi tiếng của Phan Thiết được làm bởi loại cá nục này đây. Mùa này cũng là mùa bận rộn nhất của các nhà hàm hộ làm nước mắm. Cá nục được mang bán ngoài chợ chỉ là một phần rất nhỏ so với số cá từng chiếc ghe đem về mỗi ngày ở bến Cồn Chà, ở Thanh Hải, Ba Làng… Khi những giọt mưa bắt đầu rơi xuống, làm cho những đám ruộng khô nứt nẻ cựa mình, bốc hơi khí làm trẻ con nóng cảm, làm người già trở bịnh thì chợ Phan Thiết bán đầy cá nục. Lúc bấy giờ, cá nục đầu mùa chỉ là những con cá li ti to bằng ngón tay, cũng được kho tỏi ớt cay nồng, được nấu canh măng chua, được nấu canh chua lá me non… nhưng lúc đó là nhai luôn xương, luôn cái đầu mềm béo. Những món ăn biển được gắn liền với Phan Thiết là cá nục kho, ốc hương luộc chấm nước mắm gừng đặc sệt, chả cá ảo hấp…

Bác Hai Tiếp muốn đãi chị em Kim những món ăn Phan Thiết như một hối hả, sợ không còn dịp khác. Buổi trưa, bác còn nấu chè đậu ván. Kim và Nga ngồi phụ bác gái tách vỏ từng hạt đậu ván vàng óng ánh, nở mập đều bằng đầu ngón tay út sau một đêm ngâm trong nước giếng trong. Chén chè nước hơi vàng vàng màu đường, trong vắt, những hạt đậu ván mùi mùi thơm lừng nằm lỏng chỏng dưới đáy chén. Chén chè ngọt thanh, ăn hoài không biết no, không biết chán.

Bác gái thấy mấy chị em Kim mê món ăn Phan Thiết, biểu:

– Mấy bữa nay ăn cá nhiều rồi, nếu chiều nay chưa đi thì để mai bác trai xách xe chạy lên Phú Long mua bánh hỏi lòng heo ăn với mắm nêm cho mấy con ăn biết mùi.

Kim giật mình, giọng hơi run run, hỏi:

– Phú Long ở đâu vậy bác?

– Đây, ra trước cửa nhà là đón xe lam, hướng này xuống chợ, hướng này lên Phú Long, xe lam chạy một hơi, đến trạm cuối là tới chợ Phú Long.

Kim đánh bạo, hỏi:

– Ngày mai bác cho con theo xe đi Phú Long với bác được không?

Bác trai ngồi uống trà gần đó nói:

– Không được đâu, tướng tá mấy đứa bây nhìn là biết dân Sài Gòn liền. Có bận áo bà ba, có bận quần đen, nhưng mở miệng ra là người ta biết giọng Sài Gòn. Mấy bữa nay bác không cho ra đường là vậy. Lên Phú Long chi vậy, có mấy cái nhà leo teo, có gì đâu mà coi.

Cơm nước xong xuôi, mọi người tìm chỗ ngủ trưa. Kim lẻn ra đường, đón chuyến xe lam theo hướng bác Hai Tiếp chỉ. Kim chờ không tới năm phút là có xe. Chiếc xe lam xình xịch nhả khói đen bò qua khỏi cái cầu dài là lên đến chợ Phú Long. Buổi trưa, chợ vắng hoe, hình như chợ chỉ họp buổi sáng. Mấy căn nhà nằm dọc chợ cũng đóng hờ cửa nghỉ trưa.

Kim đi lòng vòng. Từ đường chính là những con đường nhỏ dẫn đến vườn tược trồng cây ăn trái xanh um. Kim lần đi vô những con đường hai bên là vườn nhà, dẫn đến những đám ruộng nhỏ, đất đã ươn ướt, đang chờ mùa cấy. Những căn nhà mái ngói với vườn tược mát rượi chung quanh. Cây điệp ta trổ bông cam đỏ vàng nho nhỏ bằng đầu ngón tay út, dàn bông bụp trước nhà với vài bụp bông đỏ tươi ẩn núp sau màu lá xanh đậm, cây mận xanh trái kết từng chùm coi bộ còn chát ngắt, cây me lá nhỏ li ti màu xanh mạ che phủ khoảng vườn rộng. Chung quanh im lìm trong giấc ngủ trưa được đệm bằng tiếng dế đập cánh rít cao xa xa đâu đó.

Đi sâu chút nữa, một căn nhà mái ngói đỏ có sân gạch rộng để phơi lúa. Trước nhà là cây me già, thân to phải cỡ bốn người dang tay ôm mới được, tàn lá cây me to tỏa rộng như chờ đợi những người chân mỏi mệt, đặt gánh xuống, tay cầm cái nón phe phẩy quạt, nghỉ chân trong những buổi trưa nắng đi chợ về. Lá me xanh non, dơ tay vuốt một tụm bỏ vô miệng nhai, chua thanh.

Bên hông nhà là cây khế đang trổ những chùm hoa tim tím mơn mởn như màu áo cô gái dậy thì nằm chen kẽ với những cụm lá xanh tươi kết với nhau trông như những quả khế còn xanh, phải nhìn kỹ lắm mới nhận ra. Lời Hải kể ” Trước sân gạch rộng lớn nhà anh là cây me già to tướng, trái me dài dẹp, để làm mứt me mỗi ngày tết. Cây me này là nơi nghỉ mát của những người chợ trưa về. Có cái này anh biết em thích nhất, đó là cây khế ngọt bên hông nhà. Cây khế này lạ lắm, có nhiều cành, nhưng một cành chỉa gần mái nhà thì trái không lớn bằng những trái ở cành kia nhưng ngọt lạ lùng, ngọt hơn những trái khế khác cùng cây. Giống như đám con cùng cha mẹ, cùng một lối giáo dục ở gia đình cũng như ở học đường nhưng có đứa này đứa kia, tính tình không ai giống ai. Khi nào anh đưa em về thăm nhà, anh chỉ cho em cành khế ngọt lịm này, anh dặn ở nhà để dành cành này cho em nha!”

Tim Kim đập, những mạch máu tưởng chừng như vỡ toang dưới lớp da, Kim nắm chặt tay, mạnh dạn đi vô sân. Nhà vắng tanh, phía sau nhà, dưới bóng mát cây xoài già, một người đàn ông đội cái nón lá đã cũ ngồi trên cái ghế có tay dựa.

Kim đi nhẹ nhẹ đến, người đàn ông như không nghe tiếng chân Kim, hình như đang ngủ gà ngủ gật, hai tay thả thỏng. Đôi vai gầy thỉnh thoảng nhích lên theo nhịp thở chậm, sâu. Đến gần, Kim mới thấy hai ống chân nhỏ xíu dưới lớp vải quần màu xám.

Nhìn dáng người đàn ông ngồi, nhìn đôi chân ốm nhỏ nằm ẩn sau lớp vải quần màu xám, dáng ngồi chịu đựng câm nín, lòng Kim thắt lại, từng mũi kim châm khắp tim Kim, nhói đau. Một lời hát bỗng vang lên trong đầu Kim: Anh trở về dang dở đời em. Chưa bao giờ Kim nghĩ đến câu đó mặc dù cả bài hát đã từng làm Kim thổn thức ngây người trong thời gian đầu năm bảy mươi lăm, không dám hát, không dám nghe.

Hít một hơi thở dài, giữ hơi thật lâu trong lồng ngực như để ngăn cái ngây ngây trong sóng mũi, như để ngăn dòng nước mắt cay cay chực rơi, Kim cắn môi, cố giữ bình tĩnh, đánh bạo lại gần, cuối đầu gần người đàn ông, thưa:

– Thưa anh! Không có tiếng trả lời.

Kim thưa lần nữa:

– Thưa chú!

Người đàn ông giựt mình ngước đầu nhìn Kim. Gương mặt già nua hốc hác, ánh mắt sâu như vô thần nhìn Kim, nói giọng khàn khàn khó nghe:

– Con Tư đó hả, rót cho ba ly nước, cho ba ngồi chút nữa rồi khiêng ba vô.

Kim chùng lòng muốn khóc, «Mình đang làm gì đây? Tìm anh Hải à! Biết hỏi gì đây! Trần Ngọc Hải ngày xưa học trường trung học Phan Bội Châu chăng? Trần Ngọc Hải ngày xưa là trung úy trung đoàn…, Sư Đoàn 18 Bộ Binh chăng?».

Cảm nhận vài ánh mắt tò mò từ ngôi vườn kế bên, Kim hoảng hốt nhớ đến lời bác trai căn dặn: «Tụi bây không được đi ra ngoài. Tướng tá tụi bây, cái giọng Sài Gòn nhão nhẹt của tụi bây, dầu có bận quần đen áo bà ba cũng làm cho người ta nghi là dân Sài Gòn ra đây vượt biên. Tụi công an bắt về đồn hỏi tra là chết cả đám, cả tụi bây, cả nhà này luôn. Chú cho tụi bây ở nhờ là vì chủ ghe hứa cho thằng Toàn thằng An được đi theo.»

Nhớ đến lần ba mình bị hạch hỏi, bị giữ lại một cách ngang ngược, tưởng bị bắt, Kim vội vã đi ngược về hướng chợ, đón xe lam về nhà chú thím Hai Tiếp.

Bến xe lam buổi trưa vắng hoe. Bác tài xế phải chờ thêm khách hàng. Kim thâu nhỏ người, ngồi cô đơn tận phía trong băng ghế. Nỗi lo sợ, nỗi bâng khuâng về hình ảnh người đàn ông với đôi chân nhỏ nằm như mất dạng dưới tấm khăn đắp màu nâu cũ kỹ. Nước mắt Kim rơi lả chả, hình ảnh ngôi nhà mái ngói đỏ với sân gạch lớn phía trước, với cây me tàn lá tỏa rộng làm bóng mát cho những người bộ hành trong những trưa nắng bỏng hiện trở lại mờ hồ như lời anh Hải kể ngày xưa.

Lặng người, Kim lắc đầu: Không! Nếu anh còn sống, trở về quê, anh không thể nào bỏ lơ không một tin tức gì cho em, anh Hải của em không như thế. Anh biết em chờ, em mong. Anh biết Con Chó Nâu của anh nằm quặp đuôi, nghễnh mũi ngóng tìm màu xanh lính rừng, lắng nghe tiếng mở cổng nhè nhẹ sợ phá giấc ngủ trưa của mọi người trong nhà. Bốn năm rồi, lớp sương ngăn cách ngày càng dầy đặc, để rồi đôi lúc em thoang thoáng tự nhận ra rằng nỗi mong chờ, niềm hy vọng hình như càng lúc càng mong manh theo thời gian, nó làm em lo cho chính em, anh Hải ạ!

Vài người khách lần lượt lên xe, chất mằn mặn trên môi Kim đã khô. Kim cúi đầu, dơ tay áo lén chùi sạch vết tèm nhem còn trên má.

Trên đường từ Phú Long về lại thành phố Phan Thiết, chiếc xe lam hì hục lên dốc cầu, nổ bình bịch xuống dốc, từ từ Kim lấy lại nỗi bình an, ngắm nhìn quang cảnh hai bên đường. Phía bên phải là ruộng lúa, những cánh đồng đất chưa đủ ướt, chia từng mảnh nhỏ, không một hình dạng nhất định, miếng lớn miếng to không đồng đều, nằm kiên nhẫn chờ nhà nông tiếp tục gieo mạ cho mùa lúa chính khi những cơn mưa lớn liên tiếp mới đủ sức làm mềm đất, chẳng bao lâu nữa.

Nhớ lời Hải kể: Cái lạ lùng của vùng này là bên đường phía bên trái lại là vùng nước mặn với những ruộng muối hình vuông, chữ nhật. Vào mùa khô, mùa làm muối. Nước biển được đưa vào ruộng bằng những con mương dẫn từ làng Phú Hài, Thanh Hải, nằm yên phơi mình dưới ánh nắng gay gắt mùa khô. Sau chừng một tuần, nước bốc hơi, để lại một lớp muối trắng. Lớp muối trắng này được cào, dồn lại thành từng đống cao trắng nuột nà lóng lánh dưới ánh nắng, như những kim tự tháp nhỏ ở miền Ai Cập. Những ruộng muối đã làm tăng thêm cơn khát của anh học sinh trường Phan Bội Châu trên con đường đạp xe về nhà trong những buổi trưa nắng chang chang. Bây giờ là bắt đầu mùa mưa, những mẫu ruộng muối nằm chơ vơ như để nghỉ ngơi dưỡng sức cho mùa khô năm tới.

Chuyến này nằm Phan Thiết bốn ngày mà ghe không ra được. Chị em Kim phải trở về Sài Gòn, chờ chuyến sau.

Những chuyến đi vượt biên từ Phan Thiết thường theo một công thức nhất định. Ghe được trang bị như đi đánh cá thường ngày, với số dầu nhớt, thức ăn, nước uống cho một ngày, đúng theo mức cho phép của công an hải phòng. Khi ra khơi, đêm đó, ghe sẽ tấp vào một chỗ đã được hẹn trước để đón khách, lấy xăng dầu, lương thực. Khách đi thường là gia đình chủ ghe, gia đình tài công. Những người do nhóm tổ chức móc nối thường thì từ Sài Gòn, được “nằm” chờ ở một nơi nào đó trong thành phố. Nếu ghe ra được với một người trong nhóm tổ chức, coi như chuyến đi thành công năm mươi phần trăm. Vì không ai tin ai, nếu tài công ghe biết được nơi dấu xăng dầu lương thực thì có thể ghe sẽ lấy dầu và “tẩu” một mình. Người nhà của chủ ghe đã giữ một số vàng đặt trước, nếu ghe bị công an hải phòng chận bắt, coi như nhóm tổ chức thất bại, mang nợ với những người khách đã đặt trước một nửa.

Những bãi chờ ở Phan Thiết dần dần trở nên rất nguy hiểm cho khách từ phươg xa vì thị xã Phan Thiết quá nhỏ. Từ năm 1976, người dân Phan Thiết rất nhạy cảm với chuyện vượt biên. Một nhóm người lạ mặt xuất hiện, nói giọng miền Nam, rất dễ kêu gọi sự nghi ngờ của công an, khơi dậy óc tò mò của những cả người dân bình thường, tạo cơ hội cho những người muốn đi “hôi”, cho nên dễ bị bể. Những người đang nằm chờ rải rác trong thành phố sẽ được đưa đến bãi chiều hôm đó để chờ đến đêm tối thì ghe đến đón. Không một người khách nào biết bãi đang chứa xăng dầu, lương thực nằm ở đâu. Những năm sau này, những chuyến vượt biên từ Phan Thiết phải dùng bãi Vũng Tàu, nhưng phần thất bại rất cao vì ghe phải nằm chờ lâu ngoài khơi, vì ghe taxi không tìm được ghe cái ngoài biển trời mênh mông.

Harbor – Tranh Hồ Thành Đức

Chương mười hai

Tháng hai, một chin tám mươi mốt

Chuyến thứ hai, ba chị em Kim được người hướng dẫn chuẩn bị cho hai giỏ lưới gồm chuối, nhang đèn, bánh trái nằm ngổn ngang lộ liễu như muốn bảo mọi người: “Nhìn đây, chúng tôi đi cúng mả.” Chưa vào tới thành phố, người dẫn đường kêu bác tài xế:

– Bác cho chị em tui xuống cổng chữ Y.

Lúc đó cũng gần xế chiều. Bốn người chia nhau làm hai nhóm. Xách giỏ làm như đi cúng mả ở một nghĩa địa có tên là Bình Tú. Đi ngang qua một cái chợ nhóm buổi chiều, không sạp không tiệm, chỉ những hàng gánh bày bán trên mặt đất. Vài người bâng quơ nhìn chị em Kim đã chia làm hai nhóm, đi lững thững ra hướng bờ biển. Cách chợ chừng một cây số là một nghĩa địa. Nối nghĩa địa và bờ biển là một vườn nhỏ đang trồng khoai. Rẫy này là do một người trong nhóm tổ chức vượt biên mua, giả dạng làm rẫy để dùng căn cứ chôn dầu, chôn thức ăn và cũng là nơi tạm trốn cho những người khách sẽ đi chung chuyến. Cứ mỗi ngày đi làm rẫy, người tổ chức mang theo một can dầu chừng vài lít xăng, một ít gạo, một ít đường, muối… đào chôn trữ trong rẫy, ngày này qua ngày kia, cả tháng trời. Những người khách đã đưa tiền trước để người trong ban tổ chức mua dầu, hải bàn, thức ăn và những dụng cụ cần thiết cho chuyến vượt biên.

Chuyến này do một số thanh niên thực sự muốn trốn chứ không có chủ tâm làm ăn kiếm tiền như nhiều tổ chức trước. Đi bằng cách này thì rẻ nhưng nếu không thành công thì kể như mất luôn, một sự đánh liều, như canh bài, tố rồi là không đường rút.

Và nơi đây cũng là điểm hẹn để tối ghe lại đón, chiếc ghe đang đánh cá như thường lệ ngoài khơi. Bốn người giả bộ đi cúng, đi thẳng đến một cái mả, làm như đã biết trước, bày nhang đèn, bánh trái, chuối ra lạy cúng để thừa dịp chui vào một rậm nào gần đó ẩn mình chờ đêm xuống.

Đang lạy cúng, Loan lại gần Kim, nói nhỏ:

– Có hai tên bộ đội đứng trên đồi đất đỏ nhìn tụi mình.

Hoàng xuỵt:

– Em thấy nãy giờ. Đừng nhìn tụi nó, cứ tiếp tục cúng, chờ xem sao.

Loan hỏi, giọng hơi run run:

– Lỡ tụi nó đi xuống thì làm sao?

Hoàng là em Loan nhưng có vẻ già dặn, hiểu biết chuyện ngoài đường hơn Loan, trấn tĩnh chị:

– Để ý, nếu tụi nó bắt đầu đi xuống về hướng mình thì mình băng qua cái rẫy này đi trở lại cổng chữ Y rồi đón xe về Sài Gòn liền. Đón bất kỳ loại xe nào cũng được. Giấc chiều không có xe đò từ Phan Thiết về Sài Gòn, chỉ có xe hàng từ miền Trung vô. Đón xe đến Rừng Lá, Gia Ray, Long Khánh, Dầu Dây, Hố Nai, Biên Hòa, Thủ Đức gì cũng được, miễn sao thoát khỏi địa phận Phan Thiết là an toàn. Từ đó tìm đường về Sài Gòn sau. Phan Thiết là thành phố vượt biên nổi tiếng, tụi công an đa nghi hơn, nhạy cảm hơn, cảnh giác hơn.

Nhận thấy lời Hoàng rất hợp lý, Kim lặng thinh, Kim cầu ông nội: «Ông nội thương tụi con, phù hộ cho tụi con , che mắt tụi bộ đội, ám tâm tụi nó cho nó đừng nghi ngờ.» Kim cầu tiếp: « Anh Hải, nếu anh đã chết, anh linh thiêng phù hộ cho em cho Loan và Hoàng, bịt mắt, mờ tâm tụi bộ đội.» Rồi Kim cầu cô hồn : «Xin ông bà chú bác phù hộ cho các con tai qua nạn khỏi, che mắt bịt tai tụi bộ đội để tụi nó đừng nghi ngờ. Nếu chuyến này đi trót lọt, con sẽ xin má ra đây cúng một con heo quay, cúng vàng bạc và cúng cầu siêu bà con cô bác» Kim có một niềm tin vô bờ là Phan Thiết thương Kim, Phan Thiết sẽ bảo vệ chị em Kim, bởi Kim đã từng yêu quí Phan Thiết, gắn bó với Phan Thiết từ ngày Kim gắn bó với Hải.

Hai tên bộ đội quay lưng đi xuống, mất dạng phía sau ngọn đồi đất đỏ. Nhìn trước nhìn sau, không thấy ai , người dẫn đường đẩy Loan và Hoàng vô một lùm cây, Kim vô một lùm cây gần đó, dặn ngồi chờ đến tối thì có ghe đến kêu. Khoảng khắc chờ đợi bít bùng co gối giữa đất trời rộng thênh thang, giữa tiếng sóng đập vô bờ, tiếng người về chợ. Vừa nghẹt thở vì lo âu vừa tò mò với những diễn biến nơi vùng đất lạ.

Ngồi được một lát thì nghe tiếng nói cười đi từ bờ biển lên nghĩa địa. Hai tên bộ đội từ bờ biển, đi ngược lên, nhắm hướng nghĩa địa, đi theo đường mòn nơi Kim núp trong bụi rậm gần đó. Kim mặc cái áo màu nâu chấm trắng của dì Chín bắt Kim mặc từ Sài Gòn, cái quần đen xoa mềm kèm theo cái nón lá cũ kỹ như người đi buôn theo xe hàng. Kim nín thở khi hai người bộ đội đi ngang mấy bụi cây chị em Kim đang núp. Kim nhắm mắt, không dám nhìn theo vì Kim nghĩ nếu mình nhìn theo lưng hai người này, theo phản xạ tự nhiên, hai tên đó sẽ quay lại nhìn.

Hai tên bộ đội đi thẳng đến mấy cái mả vừa được cúng. Hai người lượm ôm chuối, bánh trái, rồi thẳng đường đi lên đồn canh ở ngọn đồi đất đỏ. Kim nghĩ, chắc hai tên bộ đội hồi nãy, thấy có người cúng, có mồi ăn, tìm xuống đồi bằng lối bên kia đồi, rồi dọc theo hướng chợ, dọc bờ biển, đi ngược lên nghĩa địa để lấy thức ăn cúng. Được thức ăn, hai tên bộ đội nói cười vui vẻ, thẳng hướng trước mặt, về đồn trên ngọn đồi đất đỏ. Hai người không nghĩ ra là mấy người cúng hồi nãy biến đâu mất, cũng không thấy họ đi về ngược chiều, bởi chỉ có một con đường duy nhất để về chợ là con đường đi dọc bờ biển.

Thức ăn được cúng cho cô hồn, lòng tham ăn của hai tên bộ đội đã làm tăm tối trí óc suy diễn của họ.

Tối hai mươi chín, bầu trời đen nghịt. Hai bụi rậm gần nhau, nhưng Kim không cách chi nhìn được Loan và Hoàng. Kim kêu thì thầm:

– Loan! Hoàng!

– Chị Kim, sao lâu quá.

– Ráng chờ đi!

Một lát, Kim lại kêu:

– Loan! Hoàng!

– Chị Kim, em sợ quá!

Tiếng Loan gần khóc. Kim trấn an:

– Chờ chút nữa coi. Chừng mờ mờ sáng, nếu ghe không đến đón thì mạnh đứa nào đứa nấy lo thoát ra đường lộ, đón xe về Sài Gòn ngay. Đừng đi chung nhau. Nhưng nhớ ngó chừng nhau.

Chờ đến hơn nửa đêm thì có tiếng người kêu từ bờ biển:

– Chị Kim, chị Kim.

Kim kêu hai em, cả ba chạy ra hướng bờ biển, lội lỉnh bỉnh theo người đi trước, ra ngoài. Lúc đó Kim mới biết là có nhiều người nữa cũng núp rải rác trong cái rẫy sát bờ biển. Nhiều người xách từng can dầu, giỏ thức ăn, thùng nước, chạy gấp rút xuống biển. Mấy chiếc thúng to đường kính hơn một mét, đưa người, thức ăn, xăng dầu ra một chiếc ghe đậu không xa bờ biển mấy.

Tất cả diễn ra trong vòng chừng mười phút là tàu quay mũi, hướng ra hải phận quốc tế. Biển Phan Thiết tháng tư hiền hòa, lặng như tờ. Biển Phan Thiết bảo vệ chị em Kim, đưa chị em Kim ra đến hải phận quốc tế trong ngày hôm sau. Kim khấn thầm: « Biển Phan Thiết của quê hương anh, thương em, chiều chuộng em như ngày xưa anh thương em, anh chiều chuộng em, bảo bọc em. Em cám ơn biển»

Ngày thứ hai, Kim khám phá ra từ hôm qua là người tài công của bọn Kim không biết đọc hải bàn, anh ấy chỉ biết xem hướng sao, như những người đánh cá khác. Chỉ biết chạy đưa tàu ra đến hải phận. Kim thấy anh ấy cầm cái hải bàn, để hướng mũi tên chỉ về người anh là Kim hiểu ngay. Kim bắt đầu tính toán theo khả năng địa lý nghèo nàn nhưng vững vàng hơn những người khác trên tàu mà Kim đã nhận ra sau qua lần bàn bạc với họ về hướng đi cho tàu khi tàu ra khỏi hải phận.

Thật sự, Kim cũng không chắc là tàu đã ra khỏi hải phận chưa, anh tài công bảo thế thì tin thế, không ai biết được vị trí của chiếc tàu đang nắm số mạng của mười tám thanh niên trẻ này.

Kim cố gắng thuyết phục anh tài công:

– Nếu anh chắc chắn là tàu mình đã ra khỏi hải phận thì có hai cách chạy, một là nhắm hướng đông để đến Philippine hay chạy hướng đông nam xuống Indonesia.

Ngoài miệng thì nói cứng với anh tài công như thế chứ thật ra trong bụng Kim cũng không chắc là mình đúng hoàn toàn hay không, miễn sao anh đừng cho tàu chạy về hướng bắc hay hướng tây. Anh thuận theo lời Kim, cho tàu chạy theo hướng đông nam. Kim thầm suy diễn: Mong sao tàu đã chạy đủ xa ra khơi để khi theo hướng Nam bọc xa Côn Đảo và không lọt vào khu vực nhiều hải tặc Thái Lan như những chuyến đi vượt biên từ Sài Gòn, từ miền Nam. Đó là ưu điểm của những chuyến vượt biên khởi hành từ Phan Thiết trở ra Trung.

Qua ngày hôm sau, một chiếc tàu hiện ra phía bên hông. Anh tài công làm gan, hướng mũi tàu, chạy chận ngang chiếc tàu khổng lồ này. Chiếc tàu lớn hoảng hốt né qua bên phải, ngừng lại. Người trên tàu nói vọng xuống:

– Các anh chị muốn gì?

Kinh nghiệm theo lời kể của những người đi hụt trước về, có người bị tàu Liên Sô kéo ngược về Hải Phòng, bị giao cho nhà nước, bị ở tù oan uổng khi đã ra được tới hải phận quốc tế. Kim là người duy nhất trên tàu biết nói chập chững tiếng Anh, nói vọng lên:

– Chúng tôi trên đường theo hướng đi Philippine. Nhưng tàu này từ nước nào? Tàu đang đi đến đâu?

– Tàu từ Liên Sô, vừa rời Hải Phòng đang trên đường đến Singapore. Các anh chị cần gì?

Khả năng tiếng Anh của Kim đến đó chừng như đã hết. Học đọc, học viết thì nhiều, nhưng khả năng nói và nghe thì chập chững như vừa học lớp vỡ lòng. Kim suy tính, tàu này trên đường đi Singapore, như vậy không sợ bị kéo về Hải Phòng. Có hy vọng! Thấy Kim lúng túng tìm cách trả lời, trên tàu thả một sợi dây thừng xuống, ra hiệu cho Kim buộc sợi dây vào người. Không kịp đắn đo suy nghĩ, Kim buộc sợi dây vào bụng, hai tay nắm chặt sợi dây thừng to bằng cổ tay, để cho họ cẩn thận kéo Kim lên tàu.

Đứng trên cao nhìn xuống chiếc tàu nhỏ lúc nhúc những gương mặt lo âu đang ngước nhìn từ phía dưới, gương mặt Loan mở to mắt đứng chấp chặt hai bàn tay dưới cằm, gương mặt Hoàng mím môi hoảng hốt… Kim cũng chưa hoàn hồn để nhận ra sự liều mạng của mình. Kim cần sự hướng dẫn của họ vì Kim biết chắc là tàu mình đang lạc hướng, anh tài công chỉ biết nhìn hướng sao. Và bây giờ, tàu đã ra quá xa vùng biển anh thường đi đánh cá, anh lúng túng tìm hướng, Kim đã nhận ra khi anh nói chuyện với mình.

Kim bắt đầu bập bẹ, dùng thêm tay để nói chuyện với người đàn ông râu quai nón, da nâu đỏ ửng màu nắng, chắc là thuyền trưởng:

– Anh chị cần gì?

– Các anh đưa chúng tôi lên tàu, cho chúng tôi theo đến Singapore được không?

– Không được.

– Thế các anh chỉ hướng cho chúng tôi được không?

Người thuyền trưởng vẽ vô tay Kim hướng tây nam, …độ, và nói:

– Anh chị theo tàu này chừng vài tiếng đồng hồ khi tàu chúng tôi mất dạng thì anh chị theo hướng tôi vẽ trên tay cô. Anh chị cần gì nữa không?

– Dạ! Nước, thức ăn, thuốc men.

Kim tham lam, ra dấu xin một cái hải bàn. Nhưng ông thuyền trưởng lắc đầu, bắt tay Kim, ra hiệu cho thủy thủ thả Kim xuống trở lại chiếc tàu chòng chành nhỏ bé phía dưới. Cảnh tượng như sợi dây con nít cột con trùng thả xuống ao nước. Sợi dây thừng thắt hờ quanh bụng, Kim bặm môi gồng tay nắm chặt dây cứng. Trong khi những người thanh niên trên tàu đỡ Kim, tháo dây thừng ngang bụng Kim, dìu Kim ngồi xuống lòng nghe, Kim vẫn chưa hoàn hồn, chưa ý thức được việc mình đã làm. Mọi người cười nói hăng say, mừng rỡ đón nhận mấy thùng nước, bánh mì, mấy hộp sữa ngọt được thả từ trên tàu xuống liên tục, quên Kim và Loan đang ngồi nắm tay nhau, lấy lại tinh thần.

Đến khi mất hút bóng chiếc tàu Liên Sô to lớn nhân đạo kia, Kim mới hoàn hồn, nghĩ đến cái nguy hiểm khi nãy, nếu họ bắt mình theo tàu, rồi trả cho chính quyền Hà Nội. Nhưng tự trong thâm tâm Kim, lòng tin tưởng vào con người đã thúc đẩy Kim hành động không nghĩ suy. Lòng tin tưởng vào bản chất nhân đạo của con người chưa phản bội Kim sau những năm lăn lộn mua bán thuốc tây.

Và cũng do hành động liều mình này nên mọi người trên tàu bắt đầu quí trọng Kim dầu chị em Kim không quen một ai trong số mười lăm thanh niên trên chiếc tàu định mệnh này.

Tàu lênh đênh trên mặt biển được năm ngày, nước uống thức ăn vẫn còn nhưng với bản tính biết phòng xa của đa số người nữ, Kim bắt đầu nghĩ đến vấn đề chia nước uống phần ăn có chừng mực. Trên tàu toàn là thanh niên từ mười tám đến ba mươi tuổi nên ai nấy đều khỏe ăn khỏe uống và khỏe bàn tán, khỏe cười đùa.

Không khí trên chiếc tàu vượt biên long đong giữa biển trời mà tưởng chừng như đang đi du ngoạn. Trời tháng tư nắng khô gay gắt, bầu trời trong thanh không một đám mây đe dọa, dường như chẳng ai biết sợ hiểm nguy. Nghe Kim yêu cầu phải uống nước chừng mực, ăn theo phần chia, mọi người lúc đầu cười, cho là Kim lo xa. Nhưng thấy Kim giận, cố giải thích, chừng đó vợ chồng anh tài công mới lên tiếng khuyên mọi người nghe theo lời Kim.

Không biết bao nhiêu chiếc tàu đã làm ngơ trước những cánh tay kêu gọi. Đến nỗi mấy người thanh niên trên tàu cử Kim, Loan và chị Nương vợ anh tài công là ba người nữ duy nhất trên tàu đứng ở mũi tàu, dưới cơn nắng tháng tư chói chang nóng rát, dùng những người thiếu nữ yếu ớt để kêu gọi lòng nhân đạo. Kim, Loan và Nương, không nghĩ đến điều đó, chỉ biết làm mọi cách để được tàu vớt là làm.

Đến gần chiều, máy tàu bị trục trặc, phải ngừng chạy, thế mà mấy cậu thanh niên lợi dụng cơ hội, vẫn vô tư nhảy xuống biển bơi lội đùa giỡn. Kim cũng muốn nhảy xuống biển tắm, cũng muốn vui đùa, nếu là năm năm về trước.

Một chiếc tàu to lớn đang lù lù tiến dần đến trong sự ngạc nhiên của mọi người, tàu Vanessa, chiếc tàu chở dầu hỏa. Tàu ngừng, mọi người nhìn nhau, mấy cậu thanh niên đang tắm cũng vội lên ghe. Hầu như ai cũng không tin vào điều đang xảy ra. Cho đến khi người thủy thủ trên tàu bắt loa, nói với xuống:

– Các anh chị có muốn lên tàu không?

Mặc dù đã tuyệt vọng vì không chiếc tàu nào chịu ngừng, nước cũng gần cạn, bánh mì đen cũng đã khô cứng, Kim vẫn cẩn thận hỏi:

– Tàu các anh từ nước nào và đang đi đâu?

– Tàu của Norway, chúng tôi trên đường đến Singapore.

– Xin các ông làm ơn cho chúng tôi theo.

Trên tầu thả một chiếc thang dây, bọn Kim, mười tám thanh niên trẻ cẩn thận leo lên boong tàu. Lần lượt, nhường nhau. Ai ai trong bọn cũng tưởng như trong mơ, chưa nhận thức được rõ ràng cái may mắn của mình. Trong nỗi vui mừng bỡ ngỡ, tất cả đứng bao quanh, hơi xa xa ông thuyền trưởng, chờ. Không ai đoán được những diễn biến tiếp nối, muốn đến gần, rồi lại sờ sợ. Khi ông hỏi có ai biết nói tiếng Anh không thì một người thanh niên tên Hanh trong nhóm, người được một trong những anh tổ chức cho đi theo trong giờ phút cuối, “đi hôi”, nhanh nhẹn bước ra khi Kim dơ ngón tay trỏ ngang mặt, còn chần chờ. Anh xung phong ra làm thông dịch trong ánh mắt ngạc nhiên vô độ của anh chị em cùng tàu.

Ngày đầu tiên khi chận trước mũi tàu Liên Sô khiến tàu này phải ngừng, Hanh biết tiếng Anh, nhưng cũng biết đây là tàu Liên Sô khi anh nhanh mắt nhìn những dòng chữ bên hông tàu, anh không hở môi, để mặc Kim một mình đối phó với tình thế. Và bây giờ!!!??? Cái vui, cái may mắn đã làm mọi người quên ngay sự trốn lánh này của Hanh trong mấy ngày qua và cũng không nhìn thấy cái dáng vẻ xun xoe quanh chân ông thuyền trưởng, không ai để ý đến vẻ mặt hớn hở đầy nhiệt tình khi thông dịch của Hanh. Hèn nhát và nịnh hót bao giờ cũng đi chung với nhau.

Đứng trên bong tàu cao, nhìn chiếc tàu bé nhỏ đang bị đốt, trôi lềnh bềnh như chiếc lá cuối thu rách nát trên dòng sông bao la, Kim bâng khuâng dõi mắt theo vệt đen nhỏ long đong trong lòng biển, từ từ mất dạng. Tự nhiên Kim thấy thương con tàu đã gắn bó với mình năm ngày nay và thắc mắc tại sao họ phải đốt chiếc tàu mong manh đó, sao không để tàu lênh đênh theo sóng biển, biết đâu là chiếc phao cho những ai đó đang chơi vơi vô vọng trong lòng biển mênh mông.

Kim, Loan và chị Nương được phân cho riêng một phòng tắm. Từ cái quần soa đen, cái áo bà ba nâu có những chấm trắng dì Chín bắt Kim phải mặc ngày ba chị em ra bến xe Lê Hồng Phong để đón xe đò đi Phan Thiết, chảy ra một lớp nước đen đục khi Kim tháo bỏ trên nền phòng tắm bóng loáng. Kim rợn người. Cả ba ngồi thật lâu, thật lâu dưới vòi nước nóng, kỳ cọ, tẩy gội, lặng thinh hưởng niềm hạnh phúc vô bờ không tưởng.

Xúng xính trong cái áo dài rộng, cái jupe thòng thượt gần chấm đất, Kim và Loan được người thủy thủ dẫn vào phòng ăn rộng thênh thang. Quanh bàn thức ăn, ai nấy cười vui hớn hở, nhìn nhau, chọc nhau vì bộ áo quần dị hợm của nhau, chỉ chỏ, bàn tán các món ăn dị hợm được chưng bày khéo mắt trên những dĩa bàn lớn, trong những cái tô rộng miệng…

Một người nhón tay ngần ngại gắp miếng thịt kho trong nước sốt màu nâu xền xệt, bỏ vô miệng nhai nhai, gật đầu, thế là cả bọn xúm lại múc món thịt kho hầm lạ lùng này. Những người anh hùng là những người dám cả gan nếm trước một món ăn, mở màn cho anh em trong nhóm. Thấy cả bọn làm nhiều màn nhăn mũi, hít hít một cách vô tư, không màng chi đến những ánh mắt theo dõi kín đáo cảm thông của những người làm bếp, một người đàn ông đeo tấm tạp dề màu trắng, cao nghêu, dáng người mảnh dẻ, điệu bộ uyển chuyển như đàn bà, bước ra, dơ ngón tay chỏ, ngoắc ngoắc Hanh, nói nho nhỏ vào tai Hanh. Thế là Hanh vừa cười, vừa đập nhẹ vai người làm bếp, thật thân mật, gật đầu, thỉnh thoảng phóng tia mắt về phía Kim đang đứng cách xa lúi cúi bên những dĩa thức ăn.

Không một đối đáp. Hanh giải thích thật thông suốt từng món ăn như anh đã từng thưởng thức từ kiếp trước. Đến một dĩa bàn sâu đáy được để gần những món khác ở cuối bàn, Hanh chỉ khối hình chữ nhật dài cỡ bốn mươi centimet, rộng và cao cỡ mười lăm centimet, màu vàng ngà ngà như cục xà bông khổng lồ, lớp trên màu nâu tươi cũng giống như màu lớp nước nắm chung quanh khối xà bông này.

Hanh nói:

– Món này ăn với cá chiên, nhớ chan nước sốt.

Có tiếng phản đối, giọng đùa nghịch không hậu ý:

– Cá chiên mà ăn với nước sốt màu nâu thấy mà ớn, đúng là Tây! Phải là nước nắm nhĩ dầm ớt hiểm mới đúng điệu.

– Ờ há! Không thấy chút nước mắm nào hết.

Hanh nghiêm nghị giải thích:

– Ở châu Âu người ta cấm ăn nước mắm.

Đã quen với những cấm đoán còn vô lý gấp mấy trăm lần trong năm năm nay nơi quê nhà nên lời tuyên bố này của Hanh không gây một phản đối, không tạo một thắc mắc. Vài người thử ăn cá chiên mặn với miếng xà bông ngọt ngọt, nước sốt thơm mùi đường cháy, rồi lại chê: “Tụi Tây ăn uống kỳ cục!” Kim nháy mắt với Loan, lặng im.

Hanh đang ở trong phòng với vài người thanh niên khác và vợ chồng anh tài công cũng đã đi ngủ. Trên boong, mấy người thủ thủy bao quanh hai cô gái duy nhất, lân la hỏi chuyện, tiếng được tiếng không, tay chân múa may, tiếng cười dòn dã vô tư vang ngân trong đêm tối dưới bầu trời mây bắt đầu vần vũ.

Ai đó đề nghị Kim và Loan hát một bài hát Việt Nam. Chưa kịp chuẩn bị, một người đi lên, nói nhỏ vào tai anh thủy thủ trong bộ quần áo thường dân cũng đang múa tay nói chuyện với bọn Kim. Ánh mắt những người thủy thủ liếc nhanh ra đêm tối cùng tận, nhìn những gương mặt trẻ lung linh cười đùa, nghiêm giọng, anh yêu cầu mọi người về phòng ngay. Anh giải thích là hồi trưa, khi khám phá ra chiếc ghe đang ngưng máy từ đàng xa, thuyền trưởng biết được tối nay sẽ có cơn bão lớn nên ông không nỡ để chiếc tàu bé nhỏ mong manh này chắc chắn sẽ bị nhận chìm trong cơn giận dữ của biển cả.

Ông gọi điện về chính phủ Na Uy để xin đưa những thuyền nhân lên tàu. Luật của Cao Ủy Quốc Tế lúc bấy giờ là tàu nước nào cho thuyền nhân lánh nạn lên tàu thì nước đó sẽ chịu trách nhiệm nhận những người tị nạn này. Ông phải tranh đấu rất lâu với chính phủ Na Uy để được phép cứu những người trên chiếc ghe mỏng manh chết máy thả trôi lềnh bềnh trên mặt biển xanh miết lặng yên, lớp sóng đang ngấm ngầm sôi sục dưới lòng sâu.

Số mạng đã an bài cho mười tám người thanh niên này. Nước Na Uy sẽ là quê hương thứ hai của họ mặc dù họ không biết nước Na Uy nằm ở đâu trên bản đồ. Kim và một số người trên tàu chỉ học trong giờ địa lý là Na Uy nằm ở miền bắc cực, có người Eskimo, có gấu tuyết, sáu tháng mùa hè, sáu tháng mùa đông, thế thôi!

Nhớ ra, Kim hỏi mấy người thủy thủ đang giúp bọn Kim dọn dẹp chỗ ngủ:

– Nước Norway có theo Cộng Sản không?

Những người thủy thủ phá cười to trước câu hỏi ngây ngô đó, lắc đầu lia lịa.

HƯƠNG CHANH CHƯƠNG 1 – CHƯƠNG 2  – CHƯƠNG 3 – CHƯƠNG 4 – CHƯƠNG 5 – CHƯƠNG 6 – CHƯƠNG 7 CHƯƠNG 8

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s