Võ Thị Điềm Đạm – Hương Chanh (chương 8)

Fan Dancing – Tranh Hồ Thành Đức

Tháng chín một chín bảy lăm

Dần dần, hầu hết lính Việt Nam Cộng Hòa đều trở về gia đình, ngay cả những thương binh, vì tất cả các bệnh viện đều được lệnh đuổi thương binh Việt Nam Cộng Hòa để dành giường cho thương binh của quân đội cách mạng. Ba người con của ông Năm Hoàng, ở bên kia hẻm là sĩ quan, đã trở về đông đủ. Con trai của ông Năm Lý, bạn ông Ba Hòa, cùng một số sĩ quan vùng IV chiến thuật chống lại lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, cố cầm cự được một tuần, thì nay cũng trở về trong cay đắng và phẫn uất.

Nhìn những người đàn ông trông bộ áo quần dân sự, ra vô con hẻm với dáng vẻ như cố thu nhỏ, không muốn ai để ý đến mình, chịu đựng, ông Ba Hòa buồn buồn khi nghĩ đến Hải, đến chất lính trong người thanh niên ông quí mến. Hải vẫn biệt tăm.

Sau ba tuần học tập tại địa phương, tất cả sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa nhận lệnh trình diện, đem theo thứ ăn và vật dụng cá nhân để tiếp tục lớp họ cải tạo trong hai tuần nữa. Trường Lê Văn Duyệt ở Gia Định là địa điểm trình diện cho những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hiện đang sống tại Sài Gòn. Như toàn dân miền nam, các sĩ Việt Nam Cộng Hòa nghĩ rằng sau hai tuần học tập cải tạo này, mọi người sẽ được bắt đầu cuộc sống dân sự và cuộc chiến 20 năm sẽ đi dần vào quên lãng. Họ trình diện. Nhưng, hai tuần tiếp theo, một tháng, bốn tháng…. biệt tăm, tất cả.

Ám khí biệt tăm bao trùm cuộc sống những người vợ, người cha, người mẹ, ngày lẫn đêm. Hình ảnh những trại tù khổng lồ ở miền núi độc rừng sâu được nhỏ tai truyền miệng là mối ám ảnh và đe dọa đời sống người dân, khắp miền nam.

Sự biệt tăm vô tín của tất cả các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa bào mòn lòng kiên nhẫn, ông Ba Hòa quyết định ra Phan Thiết, tìm đến làng Phú Long theo lời Kim kể. Một linh cảm nào đó làm ông sợ con gái mình phải chứng kiến nên ông cương quyết đi một mình, không cho Kim đi theo và Kim cũng chẳng hề năn nỉ. Bây giờ ông Ba Hòa mới cảm thấy thiếu thiếu, thiếu một cái gì đó nơi đứa con gái thường bị mắng ngang bướng. Đứa con gái không thiết cằn nhằn vì không vừa ý, không muốn năn nỉ vì bị cản trở ý muốn, ông biểu gì, đứa con gái nghe theo đó. Sức sống háo hức nơi đứa con gái năng động như quả bong bóng để lâu ngày, xìu dần, mềm nhũn, không ai còn để ý đến nữa.

Kim đưa ông ra ngã Bảy để đón chuyến xe đò từ khi trời còn tờ mờ ngọn đèn mấy quán cà phê mở hàng sớm phục vụ lơ tài. Đứng chờ chiếc xe đò đầy nhóc người và hàng hóa lăn bánh rời bến, Kim tần ngần, không muốn về ngay. Kim nhổng người đạp vài vòng, chiếc xe PC thân yêu nổ máy dòn tan. Lấy hai chân chống đất, đẩy mạnh cho bàn chống xếp lại, tay phải lên ga từ từ.

Kim cho xe chạy theo xe đò, đến bùng binh Ngã Bảy, quẹo phải, nhắm hướng đường Phan Thanh Giản. Đến con hẻm rộng ngày xưa, tiệm sửa xe chưa mở hàng, hàng chè đầu hẻm còn mê ngủ, Kim tắt máy xe, đứng đó. Kim đứng lâu lắm, ngắm dòng xe một chiều càng lúc càng đông theo ánh nắng ban mai càng lúc càng nóng. Nước mắt chảy dài trên đôi má vẫn rám hồng nhưng không còn tươi tắn như ngày nào. Nước mắt hầu như đã đong cứng từ mấy tuần nay vì mải quay theo cơn lốc đang cuốn, cơn lốc làm thay đổi mọi sinh hoạt, mọi nghĩ suy.

Đây là lần đầu tiên ông Ba Hòa có dịp đi xa ra khỏi Long Khánh. Nhất là trong tâm trạng di chuyển bằng giấy phép đi đường hai ngày do con của người bạn tự làm con dấu giả, tự đáng máy, tự nghĩ ra một cái tên nào đó, tự ký tên trên một tờ giấy trắng mỏng. Nguyên nhân giản dị là ông không được cấp giấp phép đi đường vì lý do đi thăm người quen, không chính đáng. Càng kiểm tra gắt gao thì khối óc sáng tạo của con người càng hoạt động tốt hơn để tự tìm cách thế qua mặt. Và chính vì bản năng phải sống còn đã thay đổi dần dần những nghĩ suy mà ngay chính bản thân cũng không tự nhận ra. Ngày xưa, ngày xưa cách đây không hơn một tháng, ông Ba Hòa không bao giờ nghĩ rằng mình phải nhờ vả để được có một tờ giấy giả mạo làm hộ thân, phải lo sợ vì làm chuyện trái phép luật.

Khoảng đường hai trăm kilomet, đáng lý chỉ cần bốn hay năm tiếng đồng hồ, mà nay phải mất gần tám tiếng vì những trạm gát dọc đường. Mỗi trạm, mọi người đều phải xuống xe, trình giấy tờ đi đường mà trong mười tờ thì có chín tờ với chữ ký giả. Ai cũng tự hiểu là làm sao nhân viên kiểm soát có thể biết hết tên các thủ trưởng của hàng ngàn phần hành. Mỗi trạm, các cậu đeo băng đỏ trên tay áo, đeo khẩu súng trường nặng chịch trên vai đi một vòng trong xe, lôi, lục dưới gầm xe trong ánh mắt lo sợ của hành khách, trong khi chú lơ xe theo năn nỉ, nói nhỏ với người trưởng nhóm gác. Một phất tay của người trưởng nhóm gác là biết bao nhiêu người thở ra nhẹ nhõm. Cứ thế, trạm gát này qua trạm gác kia. Cho đến khi xe chạy vào con đường chật đến nỗi người trên xe có thể nhìn thấy phòng khách của những căn nhà sát lề. Một mùi thum thủm bay vào mũi giữa cái nóng bưng bưng của buổi trưa hè đang đợi cơn mưa. Mùi mắm, mùi nước mắm, càng lúc càng nồng nếu ai đó cố gắng truy tìm nguồn gốc phát xuất. Nhìn quanh, ai cũng thản nhiên, lục đục sửa soạn hành lý, ông Ba Hòa hiểu đó là mùi mắm quen thuộc của một thành phố nổi tiếng sản xuất nước mắm cho cả nước. Ông hiểu đoạn đường chật vật vì bị hàng hóa, người đứng ngồi ép từ mọi phía, không chút rảnh rang để ngắm nhìn quang cảnh hai bên đường, gần đến bến.

Bến xe nằm ngay bờ sông. Theo lời chỉ dẫn của một người chạy xe xích lô, ông Ba Hòa đi qua con cầu gỗ long đanh nối liền vườn bông lớn và phố thị, xuống con dốc dài. Từ cầu, nhìn xa xa phía tay mặt, những chiếc ghe nằm chen chúc nhau, đủ màu sắc, đầu ghe được trang điểm bằng hình con mắt vẽ thật sắc xảo, ông đoán đó là hướng biển.

Fan Dancing – Tranh Hồ Thành Đức

Nơi đây, bước chân trên những thanh gỗ phần cầu dành cho người đi bộ, ông Ba Hòa nhận ra ngay hơi nồng theo gió hạ thổi từ xóm cồn len vào sống mũi, thốc lên đầu. Hơi nồng mùi nước mắm, mùi cá khô làm người ông thêm uể oải sau chuyến hành trình chật vật trong cái hanh hanh nóng cuối tháng năm. Ông thắc mắc: Có lẽ người dân Phan Thiết được sinh ra, lớn lên và sống với hơi mắm nồng này nên họ không cảm thấy khó chịu như mình. Biết đâu họ lại cho đó là hương vị quê hương?

Xuống dốc cầu, đồi bên trái là một trại lính được trưng dụng làm doanh trại của chính quyền mới, bên phải là một vườn bông lớn. Giữa vườn bông, một tháp cao kiến trúc theo Tây phương, màu vôi vàng hơi úa theo thời gian, đứng sừng sững cô đơn ngắm nhìn dòng sông Cà Ty buồn bã, lặng lờ trước mặt. Tiếng hát ra rả từ cái cái loa lớn phát ra từ tầng trên cùng, vang xa, như một mạng lưới vô hình bao trùm mọi sinh hoạt đìu hiu của tỉnh lẻ.

Qua khỏi nhà bưu điện, cứ theo hướng trước mặt mà đi. Phía bên kia đường, ông Ba Hòa để ý thấy có nhiều cửa tiệm cửa đóng im lìm, không một sinh khí. Ông tự nhủ: Như vậy là sinh hoạt của một tỉnh nhỏ bị bóp chặt hơn Sài Gòn, có nghĩa là tình hình an ninh cũng bị kiểm soát gắt gao hơn Sài Gòn. Vừa đi vừa xoay người chờ một chuyến xe lam cùng chiều, lòng lo lo không biết sẽ bắt đầu hỏi thăm như thế nào, với tư cách gì.

Đi cũng khá xa, đến một ngã năm rộng, phân vân không biết sẽ đi hướng nào. Bụng cũng đã đói, ông ghé vào một quán nằm ngay bên kia đường, đối diện vườn bông cây cối thưa thớt, vừa để mua cái gì ăn lót lòng vừa để hỏi thăm. Quán vắng hoe dưới cơn nắng xế chiều vẫn còn hanh hanh khô cằn đang chờ cơn mưa đầu mùa. Quán ăn chỉ có ba cái bàn thấp, vài cái ghế đẩu.

Bốn người thanh niên đang ngồi quanh một cái bàn phía trong cùng. Trên bàn, dĩa đậu phọng rang, dĩa mực khô chỉ còn vài miếng vụn, mấy cái chung nhỏ còn chút rượu đế trắng trong. Tất cả nhìn châm châm ông Ba Hòa khi ông tìm chọn một ghế ngồi nhìn ra đường, câu chuyện đang sôi nổi bỗng im bặt.

Một người đàn bà với giọng cưng cứng như giọng Hải thường bị các con ông chọc, rụt rè hỏi:

– Chú ăn gì? Chỉ còn cơm dĩa thôi chú.

Nhìn gương mặt nâu đỏ rám nắng hiền hậu, cánh áo bà ba ngắn tay có hai cái túi lớn chiếm gần hết vạt áo trước, ông Ba Hòa gật đầu, nói:

– Chị cho tôi một dĩa cơm và một ly trà đá.

– Không có đá chú hà. Bình trà còn nóng, chú uống đỡ. Chú ngồi nghỉ, chờ tui làm cơm. Chú ăn cơm với cá kho hay cá chiên? Chỉ có cá thôi chú.

– Chị cho tôi dĩa cơm với cá chiên. Chị cho tôi hỏi thăm. Tôi định đón xe đi Phú Long nhưng không biết đón hướng nào. Giờ này còn xe không chị?

Phóng nhanh ánh mắt về phía bốn người đàn ông đang ăn ở bàn trong cùng, giọng người đàn bà bỗng thấp hẳn xuống, hỏi:

– Chú người Sài Gòn?

– Sao chị biết?

– Nghe giọng. Chú mới ra?

Ông Ba Hòa chưa kịp trả lời thì một cậu thanh niên từ bàn trong cùng, bước ra, hỏi, giọng nặng nề:

– Ông không phải người ở đây?

– Không.

– Người ở đâu? Ra đây làm gì?

– Sài Gòn. Tôi đi tìm thăm người bạn.

– Sài Gòn? Người bạn ở đâu?

Ba người thanh niên rời bàn, đứng quanh cái bàn ông Ba Hòa đang ngồi. Bực mình vì lối hỏi chuyện thốc mách, nghênh nghênh, vì cảm giác bị lấn áp, nhưng biết thế cô của mình, ông Ba Hòa ráng giữ giọng ôn hòa:

– Ở Phú Long

Người đàn bà vội chen vào như để cứu ông khách trông có vẻ như một con thú rừng đang thụt lui trước bầy chó săn hầm hừ chực nhảy xổ vào:

– Tôi người Phú Long đây. Chú tìm ai?

– Bạn tôi tên Trần Ngọc Hải, trước là trung úy, chừng hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi.

Mặt người đàn bà tái nhợt. Từ tư thế bảo vệ người khác biến thành tư thế tự vệ, giọng run run:

– Sĩ quan ngụy? Tui không biết ai hết. Tui không quen ai là sĩ quan ngụy hết chú à.

Cũng anh thanh niên khi nãy, gằn giọng, hỏi liên tiếp:

– Ông là gì của thằng lính ngụy đó? Ông tìm nó chi vậy? Ông có giấy đi đường không?

Lòng thầm nghĩ: “Không biết tụi này có phải là công an chìm hay tụi du côn giả dạng công an hâm dọa người lạ mặt cô thế, nhưng dầu gì cũng phải cẩn thận mới được.” Vừa móc trong túi áo trước ngực tờ giấy đi đường đã nhầu nát vì phải trình nhiều lần và âm ẩm mồ hôi, đưa cho người thanh niên, ông Ba Hòa cố lấy giọng bình thản, vừa nói:

– Chú Hải là bạn của tôi. Lâu quá không có tin tức của chú ấy nên sẵn đi công tác ngoài Phan Rí, thẳng đường ghé đây, muốn tìm thăm gia đình chú ấy luôn thể.

Người thanh niên không thiết đọc tờ giấy đi đường, xếp tờ giấy làm tư, bỏ vô túi, quay nhìn ba người bạn, gật đầu. Ba người bạn bước ra khỏi quán, nhìn trước sau, gật đầu. Người thanh niên chừng như là cấp bậc cao nhất, thúc lưng ông Ba Hòa, nói:

– Ông theo tui về đồn. Hừm… từ Sài Gòn ra đây chỉ để thăm người bạn… hừm… về đồn làm việc.

– Tôi đi công tác, chỉ ghé thăm cho biết nhà. Anh trả giấy đi đường lại cho tui. Tui phải có giấy tờ công tác.

– Về đồn làm việc.

Đã nghe kể nhiều trường hợp cay nghiệt trớ trêu ở những vùng xa Sài Gòn, nhưng đó chỉ là những hành động của lớp người hăng say trả thù, mù quáng. Còn chánh sách chung đối với công nhân viên và quân đội cũ thì có vẻ coi như đã xong. Ông cũng đã ngồi ba ngày trên băng ghế gỗ cứng để nghe tụi con nít giảng đạo đức cách mạng. Lúc đó, nghe thì nghe, đầu óc lan man đến những ngày còn trong chiến khu từ thủa trai trẻ, lại cố giữ tiếng thở dài như xưa. Nghe nói các sĩ quan của chế độ cũ cũng đã đi học tập ba ngày như ông, coi như tạm ổn, ai náy đều tính đường làm ăn nuôi thân, trở thành thường dân. Chuyện thăm hỏi người quen có gì mà cấm đoán mà phải về phòng công an để hỏi cung.

Không biết xử trí thế nào. Ông Ba Hòa chợt số tiền lớn vợ chia làm hai, nhét vào hai túi quần ông hôm tối trước khi ông đi. Bà căn dặn: “Nếu có chuyện gì, mình cứ việc đút tiền cho tụi nó. Phải tìm cách thoát được thân mình chứ đừng tiếc tiền. Tụi cán bộ thời này coi bộ chịu tiền lắm, chịu công khai. Tôi nghe kể nhiều chuyện, có tiền là xong hết.” Mặt ông Ba Hòa nóng dần vì ý tưởng sẽ năn nỉ, sẽ đút lót. Lưng ông ớn lạnh vì ý tưởng bị giam ở một nơi xa lạ không người quen biết, làm thế nào để báo cho vợ con. Quyết định. Chưa ra khỏi quán, ông đứng lại, tay thọc vào túi. Rút ra mớ tiền, nhét vào tay thanh niên lớn tuổi nhất, nhìn thẳng gương mặt trẻ, nói nhỏ:

– Anh em lấy chút đỉnh đi nhậu, tôi trở ra bến xe, tôi đón xe ra Phan Rí ngay.

Làm xong, ông biết đây là một ván bài tố, hoặc mang tội nặng vì có tội mới lo đút lót để gỡ, hoặc được yên. Hành động liều lĩnh của ông Ba Hòa không ngờ đã đánh đúng sự chờ đợi của đối phương. Người thanh niên nhét nhanh số tiền vô túi quần, gật đầu với ba người kia, chỉ hướng phải, nói với ông Ba Hoà:

– Ông đi hết con đường này, tới ngã ba, đón xe từ Trung, vô Sài Gòn hay từ Sài Gòn ra Trung, ông phải đi liền, nội chiều nay. Giờ này không còn xe nào ở bến. Đón xe nào cũng được, xe hàng, xe đò. Tui tha cho lần này, đừng bén mảng ra đây mà đi tìm thằng lính ngụy nào nữa. May mà ông gặp tụi tui. Hừm… từ Sài Gòn ra đây chỉ để tìm một thằng lính ngụy.

– Anh trả lại tôi giấy đi đường.

Ngồi trên cái ghế đẩu giữa hai hàng ghế trên chuyến xe từ Qui Nhơn, chân co lại vì người ép phía trước, người ép phía sau. Xin dựa lưng vào chỗ để tay của hàng ghế kế bên, ông Ba Hòa chán nản, không muốn nhìn cảnh vật hai bên đường đã về chiều. Ông quyết định: Không đi tìm nữa. Nếu Hải còn sống, thì Hải sẽ tìm về thăm Kim. Nếu Hải bị thương tật thì Hải cũng cho người báo tin. Nghĩ đến đây, ông Ba Hòa lại phân vân: “Tính cậu ấy… có thể như thế không… có thể cậu ấy bị thương tật nguyền… không muốn là gánh nặng cho Kim… có thể như thế không… Hải cứng rắn lại rất chân tình. Hải hiểu con gái mình… Hải không muốn…” Tấm lòng người cha càng lúc càng hoang mang, ông không biết thật sự ông ao ước điều gì sẽ đến cho đứa con gái như cành mai sau xuân bỗng chốc mất hết nhựa sống.

HƯƠNG CHANH CHƯƠNG 1 – CHƯƠNG 2  – CHƯƠNG 3 – CHƯƠNG 4 – CHƯƠNG 5 – CHƯƠNG 6 CHƯƠNG 7

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s