Võ Thị Điềm Đạm – Hương Chanh (chương sáu)

Christ’s Protalt – Hồ Thành Đức

Tháng tư, một chín bảy lăm

Ông Ba Hòa hỏi:

– Con có nghe thêm tin tức gì của anh Hải không?

Kim lắc đầu, bỏ dưng chén cơm, lên gác.

Cả hai tuần nay, Kim bồn chồn lo lắng, mong ngóng, mong ngóng từng giây từng phút theo đúng nghĩa đen của thời gian, theo đúng nghĩa đen của không gian, sáng trưa chiều tồi, từ khi mở bừng con mắt đến khi thiếp ngủ trong âu lo mệt mỏi.

Mong lá thư với con dấu bưu điện Định Quán, mong tiếng giầy, màu áo xanh núi rừng, tiếng mở cái chốt cài hờ cánh cổng không cách sân nhà bao xa, mong dáng ai ngồi kiên nhẫn chờ trong quán cà phê góc Cộng Hoà và Thành Thái…. Rồi sợ, sợ thật sự, cái sợ đôi lúc làm điếng người.

Tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ bỏ từ Qui Nhơn trở ra Quảng Trị, tin Mỹ thật sự đã rút toàn bộ, tin truyền miệng, tin đài VOA, tin đài BBC, tin TV… làm náo động người dân Sài Gòn vốn thường thờ ơ với cuộc chiến. Từ những ngày giữa tháng ba, tin Định Quán bị tấn công. Sau ba ngày giao tranh khốc liệt, cả hai bên tham chiến đều bị thiệt hại nặng nề, quận đường và bộ chỉ huy chi khu Định Quán thất thủ, thiếu tá quận trưởng bị bắt sống.

Mất Định Quán. Bặt tin. Anh Trí đưa Kim lên Long Bình hỏi dò tin tức, chỉ nghe phong phanh: Khoảng tám mươi chiến sĩ hy sinh. Sư Đoàn 18 Bộ Binh rút về Bình Giả hay đang về phòng thủ Long Khánh… Long Khánh bị tấn công. Sư đoàn 18 Bộ Binh tái chiếm Long Khánh… Tin tức không phù hợp nhau. Tin ở radio, tin trên báo, trên truyền hình mù mờ, không ăn khớp. Chỉ làm rối lòng người thực tâm muốn tìm hiểu nhưng không có đủ gốc ngành liên lạc hay phối kiểm.

Bà Ba Hòa chiều Kim đủ thứ. Cả tháng nay bữa cơm gia đình không được vui, không được thoải mái như trước nữa. Ai cũng thương Kim. Ai cũng thương và lo cho Hải. Ngay cả Hạnh, bà chị Hai hay bắt nạt Kim cũng ngọt ngào với Kim. Kim hiểu lòng thương yêu chia sẻ của gia đình, và ngay cả của bạn bè. Nhưng Kim cứ rút riêng một xó của mình, trả lời nhát gừng những câu hỏi han. Tối tối, Kim nằm ngủ chung với Út, con bé ngủ ngon lành bên người chị mình trăn trở, lẩm bẩm cầu nguyện.

Tối hôm trước khi Hải đi, Kim dấu Hải khi Hải hỏi: “Sao lúc này anh thấy em mau nước mắt quá. Em có gì buồn không?” Kim không muốn kể là: «Em đã biết lo, em đã biết sợ, em đã biết bận tâm đến cuộc chiến này, em đã biết lắng nghe tin tức trên truyền hình, radio. Những địa danh Bình Giả, Khe Sanh, Gia-Rai , Chứa Chan, Đồng Xoài… không còn là những danh từ hoang dã mịt mù cho em. Tiểu Đoàn, Trung Đội, Sư Đoàn, biển người… không còn là những danh từ chỉ thấy trên sách truyện cho em nữa. Em lắng nghe ba má nói chuyện, lắng nghe ba nói chuyện với bác Hai, bác Năm Hoàng, chú Hai Lý… Khóc nức nở khi nghe Thái Thanh hát bài “Kỷ vật cho em”, biết hoang mang ngơ ngác khi nghe Nhật Trường hát bài ”Góa Phụ Cô Đơn”. Em là người yêu của lính mà. “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác” của Nhã Ca em đọc có một lần mà tưởng như thuộc lòng. Tối nào em cũng cột ngón tay út và áp út lại với nhau, em đứng dựa bên anh, chỉ tới mang tai anh thôi. Sáng nào em cũng chăm sóc, sơn bóng hai ngón tay này, anh và em. Em biết cầu Trời Phật, cầu Nữ Chúa Thượng Ngàn phù hộ bảo vệ cho đại đội của anh không bị chạm súng với Việt Cộng, cho đơn vị anh không bị pháo kích… Nhiều lắm. Nhưng em không muốn kể cho anh nghe, rồi anh buồn, rồi anh mắng em lo hoảng. Thời gian mình bên nhau ngắn ngủi quá, thấy anh đó, cười với anh đó, dựa vai anh đó, thoáng cái là anh đi. Làm sao em có thể để anh buồn được. Anh kể chuyện nơi anh đóng quân, những đêm trắng mắt chờ động tịch, những lúc lã người khi trở về sau nhiều ngày hành quân ròng rã… Nhưng bao giờ anh cũng chêm vào đó những nhớ nhung những ước mơ quấn quít, những hối hả mỗi lần được thư, tìm chỗ trốn đọc để được đưa lá thư lên môi hôn không ai nhìn thấy, những đùa nghịch của các anh. Em biết anh tránh kể chuyện chết chóc chuyện thương tích máu me, anh tránh né, anh đùa, anh không chia sẻ hết cho em những nỗi đau mất mát đồng đội, những suy tư sâu kín của cuộc sống người lính. Nhưng ánh mắt anh chợt tối, giọng anh chợt nghẹn, chợt giận… khi em “lấy khẩu cung”. Không qua được em đâu. Anh tưởng anh dấu được, anh tưởng anh sẽ bao che em, anh không nỡ lôi em vào thế giới đầy trắc ẩn, chập chờn bóng tử thần… Cho nên lúc này em mau nước mắt, mau tủi thân vì em sợ, sợ ghê lắm Hải ơi! Sợ một người lính nào đó đến tìm em mà không phải là anh.»

Ông Ba Hòa xót xa cho con gái đầy sinh khí tuổi trẻ bỗng chốc trở nên câm lặng, ông đi dò la tin tức. Anh Trí thương cô em ngây thơ bỗng chốc biết đăm chiêu, anh Trí đi dò la tin tức. Và nghe những người di tản từ Định Quán về kể lại rằng: ”Toán lính cuối cùng yểm hộ đồng bào di tản ra đường lộ chính để chờ xe, bị Việt cộng tấn công dữ dội, bắn xối xả vào, không kể dân kể lính gì cả, một số chết ngay tại chỗ với một số đồng bào. Toán lính cuối cùng chạy vô rừng để phá hướng cho Việt Cộng không bắn vào đồng bào. Đúng thế, Việt Cộng xoay hướng súng, chạy đuổi theo bắn riết, phóng lựu đạn liên tục. Rừng rú tối mịt, không ai còn sống sót, không ai lấy được xác, chắc xác rữa tan theo cơn mưa đầu mùa.”

Có một lần tình cờ nghe người bạn trong lớp tên Trung kể là người chị họ làm việc ở văn phòng quận Định Quán đã chạy thoát về, Kim theo năn nỉ Trung chở Kim về nhà người chị họ để hỏi thăm tin tức. Người chị kể:

– Chị chạy trong toán người đầu tiên được lính yểm trợ lên trực thăng vì nhân viên công chức quận được bốc đi trước. Từ trên cao nhìn xuống, chị thấy lính đứng dàn bao mở đường cho toán người đang núp trong quận đường chạy ra đường lộ. Việt Cộng tràn ngập từ mọi phía đang đổ về quận đường, xe thiết giáp có, chạy bộ có… bắn không ngớt vào toán lính yểm trợ, lính ngã, dân ngã, hỗn loạn.

Kim hồi hộp hỏi:

– Lính không theo lên xe sao chị?

– Theo lên xe sao được, bỏ dân lại cho ai? Người thân của cô tên gì, làm ở đâu? Có gì tôi hỏi thăm những người quen chạy tản cư sau. Tôi liên lạc với cô.

– Anh của em là trung úy Trần Ngọc Hải, trung đội trưởng… Tiểu Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Khi nào có tin, chị cho em đi theo chị hỏi thăm được không?

– Ừ, hôm nào có tin tức tôi rủ cô đi cùng.

Và ai cũng kể như những tin tức ông Ba Hòa và anh Trí đã thâu lượm được.

Kim chỉ biết cầu Trời khẩn Phật và cầu ông nội. Kim chưa biết mặt ông nội, ông mất trước khi má sanh chị Phương, nhưng ba má, cô Sáu, chú Năm đều bảo Kim giống ông nội như hệt, nếu ông nội còn sống chắc ông thương Kim lắm. Cho nên Kim cầu ông nội phù hộ cho anh Hải.

Tối ngủ, nhìn trần màn màu lờ mờ, Kim lẩm bẩm: ”Anh ráng về với em và lần này em sẽ trân trọng nói ”Em yêu anh”, em không cứng đầu, không chọc anh giận nữa. Em định bụng mấy lần rồi, định bụng tự phá lời nguyền độc ác ngày nào ở quán chè Hiển Khánh. Anh biết không? Hôm đó em chạy xe về nhà nhỏ Thảo Nhiên ở chợ Vườn Chuối. Lên phòng nhỏ, chưa để nhỏ nói, em kể hết mọi chuyện cho nhỏ nghe, kể hết nỗi tức anh, anh lì lợm, anh bỏ em về một mình. Nhỏ Thảo Nhiên mắng em ngu, em ác, em nỡ lòng nào nói với anh một câu tàn nhẫn như vậy. Mà em đâu có ác, em đâu có tàn nhẫn với anh, em chỉ tức anh không bênh em, theo phe ba, còn chọc tức em nữa, bỏ em về một mình. Có bao giờ anh hung dữ với em như vậy đâu. Tối đó về nhà, chờ hoài không thấy anh tới. Anh có bao giờ giận em lâu đâu. Những ngày phép của anh ngắn ngủi mà em làm hao tổn, em thương anh quá, em giận em quá, khóc cả đêm. Hôm sau anh đến, đang gội đầu, em vội vắt trái chanh tươi để xả tóc, vội lau ráo tóc, lên phòng khách để được thấy anh. Anh ngồi đó, nói chuyện với ba, ánh mắt anh vui, nhếch cười hiền, nụ cười tha thứ. Em nhảy mau lên gác,, nhìn mình trong gương, tự mắng: ”Mi ăn nói du côn, không ai thèm thương mi đâu, chỉ có anh Hải thôi.” Em yêu Hải tận cùng Hải ơi! Em yêu Hải từ ngón chân út tội nghiệp nằm cong queo áp chặt vào những ngón chân kia cho đến chóp đầu có hai xoáy tóc dấu hiệu của sự bướng bỉnh cứng đầu bị em mang ra mắng yêu mỗi lần Hải lắc đầu trừng mắt với em. Em yêu Hải thắt lòng, Hải ơi! Em yêu Hải nghẹt tim, Hải ơi!

Có những đêm, những ý tưởng đen tối hiện lên, Kim điếng người, chắp tay lên ngực, thì thầm với Hải: ”Anh có bị thương bị tật thì cũng phải về với em. Anh ngồi xe lăn thì em đẩy anh, em không đẩy nhanh đẩy ẩu đâu. Anh không nhìn thấy thì em dắt anh đi, kể mọi chuyện ngoài đường cho anh nghe, thêm mắm thêm muối cho anh vui. Miễn sao anh về với Chó Nâu của anh. Chó Nâu của anh giờ nằm quập đuôi, mõm gác hờ lên hai chân trước, mắt lờ đờ ngủ nhưng cánh mũi vẫn phập phồng đánh hơi mồ hôi anh. Nói quanh nói co, em chỉ yêu cầu anh một điều duy nhất, một điều duy nhất là anh phải về với em, anh Hải của Kim có nghe không?”

***

Christ’s Protalt – Hồ Thành Đức

Kim không còn thiết tha gì đến ngày thực tập ra trường sắp đến, thầy cô cũng chẳng nhắc nhở ráo riết. Khoảng gần cuối tháng tư, còn ba ngày nữa là đến ngày Kim lên lớp thực hành ra trường. Lớp đã được chia, môn dạy đã nhận từ lâu nhưng giáo án đến giờ này chưa soạn. Đông Ngang cùng nhóm với Kim, thân Kim lắm nhưng lần này lại không dám nhắc Kim, biểu Thảo Nhiên:

– Nhiên nhắc dùm Kim, thứ năm này là Kim có giờ thực tập ra trường, bài soạn có cần gì thì Đông phụ tìm tài liệu, làm giáo cụ cho.

– Nhỏ Kim bây giờ không còn tâm trí đâu mà soạn bài, hay là mình soạn dùm nhỏ ta?

– Ừ! Đông cũng có ý đó, nhưng sợ Kim qué cho, biểu là nhiều chuyện tài lanh thì mệt.

– Nhỏ ta cám ơn chớ sao qué được. Nhiên với Đông cứ soạn bài, lên lịch giảng, làm giáo cụ… Ngày mai mà không nghe nhỏ ta nói gì thì mình đưa bài của tụi mình soạn. Tội nhỏ! Tiểu Đoàn của anh Hải phải ở lại chống cự giờ phút cuối cho đến khi Định Quán mất, nghe nói chết nhiều lắm. Hòa Cận sao lúc này ít đi chơi với bọn mình há.

– Tới nhà mấy lần mà không thấy, nhà cửa đóng im ỉm. Thằng này cả tháng nay cũng đến trường thất thường. Nó đâu có bồ đánh giặc.

Thảo Nhiên chẳng còn tâm trí đâu mà cười theo câu đùa của Đông Ngang.

Quả thật, ngày hôm sau, khi cả nhóm họp để phê bình sửa đổi lần cuối trước khi Kim lên lớp. Kim cười méo mó:

– Kim bận quá, chắc chiều nay mới soạn, các bạn thông cảm. Nếu không bận lắm, ngày mai mình ở lại họp. Kim cần ý kiến của các bạn trước khi lên lớp. Tối nay Kim sẽ thức khuya soạn cho xong. Kim đưa mắt cầu cứu Đông Ngang. Đông Ngang là trưởng nhóm, gật đầu:

– Cho Kim hạn chót ngày mai trình bài soạn cho tụi này, hạn chót đấy nhá. Thú thiệt đi, nếu không có thì giờ soạn bài thì Kim chỉ việc bao tụi này chầu kem Ngã Sáu thì tụi này soạn dùm cho. Kim gật đầu đi là Nhiên biến phép ra bài soạn ngay trước mặt.

Cả bọn nghe có chầu kem, nhao nhao lên:

– Có lý dó Kim. Thôi, bao chầu kem bây giờ đi, khỏi chờ tối soạn chi cho mệt, thức khuya chi cho già người. Tụi này soạn giáo án dùm cho.

– Bao kem thì Kim bao vì Kim bắt cả nhóm phải họp lần nữa, nhưng tối nay Kim thức khuya soạn được mà. Sao? Kem bữa nay hay chờ ngày mai sau khi họp?

Đông Ngang nháy mắt Thảo Nhiên. Thảo Nhiên cười cười hỏi:

– Nếu có bài soạn sẵn đây, mổ xẻ, khen tới, chê lui, thêm mắm thêm muối cho ngon lành rồi Kim bao kem luôn bữa nay. Chờ đến ngày mai kem chảy nước. Được không?

Kim nhìn Nhiên rồi nhìn Đông Ngang. Đông Ngang nhe hàm răng trắng nuốt, miệng cười rộng đến gần mép tai, mắt một mí gần như híp lại:

– Nếu Đông nói bài đã soạn rồi, Kim có qué tụi này không?

Mấy người trong nhóm lại nhao nháo:

– Đâu, bài đâu?

– Ai soạn?

– Có lý đó nha!

– Đem ra mổ xẻ cho lẹ rồi còn đi ra Ngã Sáu. Tui kêu kem dừa.

– Ham ăn, chưa thấy bài soạn mà đã đặt kem.

Thảo Nhiên rút trong cái giỏ vải mấy tờ giấy carô giấy đôi, quơ qua quơ lại, nhìn Kim:

– Bản thảo xong rồi, Kim chỉ việc chép lại cho sạch. Hôm nay mình sẽ phân công ai sẽ làm giáo cụ gì cho bài giảng này. Làm luôn một mạch cho Kim nhà mình nhẹ tay.

Kim cầm bài soạn, lướt nhanh, nhìn Thảo Nhiên, nhìn Đông Ngang, nhìn cả bọn. Kim cắn môi, mắt hơi đỏ. Thảo Nhiên hiểu Kim, nói đùa cho Kim bớt xúc động:

– Tui đặt kem đậu xanh có mùi sầu riêng, ông Đông Ngang đặt kem cà phê nghen…

Thế là cả bọn thay nhau đặt kem tưởng tượng, Kim quên mau, hoà vui với các bạn sắp làm thầy cô giáo mà nghịch ngợm không thua gì học trò. Cả bọn lôi bài soạn ra bàn thảo tới lui, phân công người này người kia, đến chiều thì coi như tạm xong. Đông xoa tay nói:

– Bây giờ thì Kim cứ việc ngâm tới ngâm lui vài lần, thứ năm lên giảng là xong. Để Đông lên lớp đó sớm, dọa nạt tụi nhỏ, hầm hừ tụi nhỏ là tụi nó im re, không phá Kim đâu. Đừng lo!

Bạn bè Kim thế đó. Ông bà Ba Hòa ngoài miệng thì thường mắng Kim “bạn bè tứ chiếng” nhưng thật sự ông bà hiểu tình bạn của bọn Kim. Ngay từ còn học trung học ở Lương Văn Can, nhóm bạn Kim bao giờ cũng đủ nam nữ, thân nhau mà không cần phải bồ bịch gì cả. Có thể là anh này thinh thích cô kia, cô này ưa ưa anh chàng nọ, không rõ ràng rồi cũng không tới đâu. Thân nhau, đi ăn hàng với nhau, họp nhau ca hát, tán dóc, làm món gì đó ngon ngon cùng nhau thưởng thức.

Ông bà Ba Hòa tin tưởng con gái đến nỗi ông bà còn cho Kim tham gia những đêm không ngủ bạn bè rủ rê hát nhạc du ca, nhạc dân ca, tán dóc vô thưởng vô phạt… để cảm thấy lòng mình dâng lên nỗi cảm xúc dạt dào vì những lời ca tràn ngập tình yêu đồng ruộng, tình yêu nhân loại…

Kể từ khi quen Hải, Kim bắt đầu lưu tâm đến tin tức trên truyền hình, với xã hội quanh mình và hơi ngạc nhiên khi Kim nhận thấy những nguời bạn trẻ của mình cũng quá thờ ơ với hoàn cảnh đất nước đang trong cảnh chiến tranh như mình. Từ từ Kim tự nhận ra rằng có lẽ các bạn Kim cũng như Kim, cũng mang những ưu tư về cuộc sống, về con người, về đất nước, về cuộc chiến này, trong tận cùng thâm tâm, chỉ chờ có cơ hội, có sự hướng dẫn khuyến khích thiết thực mới bộc lộ.

***

Đoàn di tản từ Cao Nguyên, từ miền Duyên Hải kéo về Sài Gòn ngày càng đông đảo, mang đủ mọi tin tức không được nghe trên báo chí. Tin bỏ Qui Nhơn, bỏ Nha Trang, cho đến khi nghe Phan Thiết thất thủ, Kim hoảng thật sự. Hồi Định Quán mất, không thấy Hải về, Kim hy vọng một cách ngây thơ là Hải về quê, không kịp ghé Sài Gòn, đường xá bị chận, không ai chuyển thư. Cái hy vọng Kim biết vô lý nhưng Kim vẫn bám vào. Cái hy vọng của kẻ cô đơn bơ vơ trên biển cả bao la ước ao một hòn đảo xanh mướt hiện lờ mờ.

Trí giải thích vì quốc lộ Hai Mươi đã bị bỏ ngỏ, đường tiếp tế từ Đà Lạt coi như không còn, Tiểu Đoàn Hải, Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn lại đang cầm cự sống chết để giữ Quốc Lộ Một, bảo vệ những khu vực quanh Sài Gòn, không thể liên lạc được. Kim bỏ bê trường lớp, tụi bạn bảo không cần học, không cần thi cũng ra trường. Đôi lúc buồn quá, nóng lòng quá, Kim xách xe chạy ra ngã Bảy, ra Hàng Xanh, nhìn những chuyến xe đò chở người di tản đổ xuống, mong ngóng, tìm kiếm. Rồi lại mắng mình ngu: “Anh Hải nếu có về thì đâu có đi xe đò! Lính mà, chớ phải thường dân đâu!”

Khoảng gần cuối tháng tư, Trí đến nhà Kim, báo cho Kim biết là anh sẽ cùng gia đình xuống tàu đi di tản bất cứ lúc nào. Cũng trên băng ghế đá xanh trong khu vườn nhỏ nhà Kim, cũng trong cái không khí đêm cuối xuân vắng lặng, đêm Kim kéo tay Hải vòng trên đầu gối mình trong thế ngồi bó gối, nhẹ gật đầu khi Hải hỏi: “Kim, Em có biết là anh thương em không?”, đêm run run theo môi Hải mơn man trên tóc Kim thoảng thoảng hương chanh lẫn hương hoa kim ngân.

Trí kể cho Kim nghe những lời tâm sự của Hải, những âu lo của Hải cho Kim nếu có chuyện gì xẩy ra cho Hải, tình yêu của Hải… Kim ngồi bó gối, tay chống cầm, lặng thinh. Trí đưa cho Kim vài địa chỉ để Kim liên lạc mặc dù cả Kim và Trí đều biết rằng nếu Hải trở về thì Hải tìm về gia đình Trí và gia đình Kim. Trong hoàn cảnh này, không ai làm được gì thiết thực để tìm thêm tin tức của Hải cũng như của cả Tiểu Đoàn…/43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, nếu không có người quen trong bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ biết chờ.

Trí nắm tay Kim trước khi giả từ, giọng Trí như lạc hẳn:

– Kim nghe lời anh, đừng tìm kiếm vô ích. Kim hốc hác quá. Nếu Hải trở về thì Kim là nơi Hải tìm về trước tiên, bất kể tình trạng như thế nào, anh hiểu Hải, Kim hiểu Hải. Anh không biết số mạng gia đình anh sẽ ra sao, ba anh không thể sống yên nếu Việt Cộng nắm chính quyền, cái học bằng Quốc Gia Hành Chánh của anh Việt Cộng sẽ không để yên… không biết có liên lạc được với Kim sau này hay không, mờ tối quá Kim ạ. Nhưng anh phải ra đi, cho tương lai anh, cho gia đình. Anh rất tiếc là anh không ở bên Kim trong thời gian này. Kim cố giữ nghị lực. Nếu Hải có bề nào, Kim phải hứa với anh, hứa với Hải là Kim tiếp tục cuộc sống tươi trẻ của Kim, của đời con gái. Kim còn trẻ lắm, dầu anh biết là đời Kim sẽ mất mát rất nhiều nếu Hải có mệnh hệ nào. Đó là ước nguyện của chính Hải và của anh vì anh hiểu tình Kim đã cho Hải, anh hiểu Kim, anh thương Kim như một người anh…

Nước mắt Kim lả chả. Không buồn lau chùi mặt, không gật đầu, không nói được lời chia tay, Kim cài chốt cửa, đi thẳng một mạch vô nhà, lên gác, nằm xoay lưng vô tường, cắn môi, im lặng.

Gia đình Trí đi rồi, Kim mới thật sự chới với, mất điểm tựa cuối cùng. Tuần rồi, Tâm, người yêu của Hạnh có nói chuyện với ông bà Ba Hòa về vấn đề di tản, ông Ba Hòa phân vân ghê lắm, ông nói:

– Nếu đi thì phải đi cả gia đình, cả gia đình con và gia đình bác, thật khó thu xếp. Hay là các con còn trẻ, còn phải lo cho tương lai các con, các con lo liệu đường đi cho các con. Các con đã trưởng thành, các con tự quyết định đời mình. Không kịp làm đám cưới thì qua đó các con tự thu xếp. Lễ lộc chỉ là hình thức, các con thương yêu nhau, muốn bảo bộc cho nhau là hai bác vui, hai bác không đòi hỏi gì cả..

– Ba má con cũng nói vậy nhưng cả con và Hạnh đều là con trưởng trong gia đình, các em còn nhỏ, không thể bỏ đi một mình được. Con có liên lạc sẽ xuống tàu bất cứ lúc nào, nhưng không thể mang cả hai gia đình. Ba má con không chịu đi.

– Thôi mình cứ tin là mình sống trong sạch, mình không có nợ máu với đồng bào thì hy vọng cái chế độ mới này không làm khó làm dễ với mình, ráng mà sống lương thiện, an phận. Nghề nghiệp của hai con thời nào cũng có ích, không sợ không được trọng dụng.

Rồi ông nhỏ giọng:

– Chỉ lo cho Hải. Nếu có Hải ở đây thì bác đã chạy mọi cách cho Hải được đi di tản.

Lúc này cả nhà cứ quấn quít bên nhau, ông bà Ba Hòa có đi đâu cũng vội về mau, mấy đứa con cũng không dám đi chơi đâu lâu, đi học là về nhà ngay. Đứa nào đi chơi lâu chưa về là ông bà nóng nẩy, la rày, trông ngóng. Không khí trong nhà cũng như bên ngoài trông thì vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng trong thâm tâm cả những người không nắm vững tình hình cũng đã bắt đầu lo âu chờ đợi một điều gì rất quan trọng sẽ xẩy ra. Ông Ba Hòa ít nói hơn, đăm chiêu hơn. Ngoài giờ làm việc, hầu như ông ngồi dính trên cái ghế bố, không nghe radio thì xem truyền hình hoặc đọc báo. Ông bà bàn bạc, thì thầm.

Sáng ba mươi tháng tư, ông Ba Hòa đi Gia Định, đến bệnh viện Nguyễn Văn Học để thăm chừng Hạnh đang làm việc và được cấp một phòng nhỏ ở đó cho tiện đi lại. Ông lo sợ có gì trắc trở xảy ra cho đứa con gái đầu lòng trong những ngày nóng bỏng này vì Tâm, hôn phu của Hạnh làm ở bệnh viện Biên Hoà, phải trực thường xuyên. Ông muốn căn dặn Hạnh phải cố ở lại trong bệnh viện nếu Sài Gòn bị tấn công. Ông biết Hạnh lo lắng cho ba má, cho các em, Hạnh sẽ tìm cách về nhà. Đường từ Gia Định về Bà Hạt xa xôi, thân gái giữa làn đạn tiếng súng. Ông muốn trấn an Hạnh.

Khi trở về, hơi ngạc nhiên vì khoảng đường vừa qua cầu Bông, xuống Đa Kao để ra Hiền Vương, thường ngày xe cộ nườm nượp bắt chéo nhau từ năm ngã đường, giờ này dường như vắng xe, rất vắng hơn thường lệ. Linh cảm một chuyện không hay, ông dừng xe ở quán cà phê gần tiệm phở gà Hiền Vương, định kêu ly nước chanh cho đỡ khát sau khi cố đạp lên con dốc cầu Bông dưới cơn nắng trưa hanh hanh. Không quan tâm đến người khách vào quán, bốn người vừa đàn ông vừa đàn bà ngồi quanh cái bàn trong cùng, gương mặt trầm trọng, không biết ông Ba Hòa là ai, thế mà cứ ngoắc tay ra dấu biểu ông đi vô trong. Cái radio giữa bàn, những ly cà phê khô cạn chung quanh, một người xoay ra nói:

– Ông Minh đầu hàng rồi!

Người nói dường như không phải để tường trình cho một người khách lạ không quen biết mà nói như để nhắc lại cho mình, để kiểm chứng một tin ngoài trí tưởng tượng, ngoài sự chờ đợi. Ông Ba Hòa lấp bấp hỏi:

– Đầu hàng?

– Ờ, ông Minh vừa kêu gọi mọi binh chủng bỏ súng.

– Bỏ súng?

– Ờ, bỏ súng.

Không nói không rằng, ông Ba Hòa vội trở ra, dắt chiếc xe đạp, vừa đẩy lấy trớn, vừa nhấp nhấp, nhảy ngồi lên yên xe, băng đại qua đường, nhắm hướng đường Hiền Vương mà cố đạp theo dòng xe một chiều về ngã sáu đường Trần Quốc Toản. Vòng qua khỏi ngã sáu Hiền Vương. Dòng lưu thông bỗng nhiên càng lúc càng ào ạt. Sau mười lăm, hai mươi phút, cái tin đầu hàng mới thấm vào đầu óc mọi người, nhiều người muốn ra đường. Họ không biết mình ra đường để làm gì. Vì tò mò? Để quan sát tình thế? Để kiểm chứng? Để nghe ngóng? Để kiếm đường thoát thân? Để vội vã về với người thân trước hoàn cảnh chắc chắn sẽ có nhiều đổi thay, chia sẻ nhau, đùm bọc nhau?

Ông Ba Hòa về đến nhà khoảng gần mười hai giờ trưa. Mấy đứa con ở trên gác chạy vội xuống, không ai bảo ai, đứng tụm lại ở chân cầu thang, im lặng, nhìn gương mặt ba mình ròng ròng mồ hôi. Như linh cảm một chuyện không hay đang xẩy ra, bé Út ôm cứng chân chị Phương, nhìn ba qua song gỗ cầu thang. Bà Ba Hòa cũng đã có mặt ở nhà, đang phụ chị Hai Cao lo bữa cơm trưa. Bà chùi tay, lên phòng khách. Ông Ba Hòa cầm cái khăn lông vợ đưa cho, nửa như cười nửa như khóc, nói đùa với bà:

– Tôi mới đi vắng có mấy tiếng mà ông Minh đầu hàng rồi.

Nhìn mấy đứa con, biết chắc, nhưng vẫn hỏi:

– Tụi nhỏ về hết rồi hả? Mấy con ăn cơm đi.

Ông đi thẳng vô giường nằm, bỏ cơm trưa. Ông nằm cho đến khi Kim pha cho ông ly cà phê đen đá. Ông bà ngồi ở bàn ăn, lũ con ngồi rải rác gần đó, chờ.

Ông nói:

-Thôi tình hình đã như vầy rồi, các con cố gắng tiếp tục học hành. Nhưng chắc chắn một điều là kinh tế gia đình mình không còn được như xưa nữa vì ba đã quyết định sẽ xin nghỉ việc trong một ngày gần đây. Ba chờ coi tình hình, không biết người ta có cho ba nghỉ việc đây không. Nhưng ba biết không sớm thì chày, ba cũng sẽ nghỉ làm, ba không thể làm việc với chính quyền mới này. Ba đã sợ, đã ngán nên mới trở về thành từ thời còn chống Pháp. Công việc thầu canteen của má cũng phải bỏ ngang vì chắc chắn là chính quyền này không theo tiếp cách thức điều hành xưa. Cứ coi như vốn liếng nhà mình không còn nữa. Nhưng các con đừng lo lắng nhiều. Mọi chuyện có ba má thu xếp. Chờ yên yên vài ngày rồi lên trường coi trường sở ra sao. Chuyện gì đi chăng nữa cũng phải học, học cho tới nơi tới chốn. Ba không biết trường Văn Khoa có được tiếp tục hay không, Phương liệu mà theo dõi ban ngành của con.

Bà Ba Hòa tiếp lời chồng:

– Các con đừng đi chơi xa trong mấy ngày tới đây. Tình hình không biết đâu mà lường.

– Má con nói đúng đó, súng đạn chưa chắc đã ngưng hẳn. Đi đâu cũng phải cho ba má biết, đi đâu, chừng nào về. Tốt hơn hết là đừng đi xa. Cần lắm mới đi.

Xoay sang Kim, ông nói:

– Nếu không còn đánh nhau nữa, hy vọng anh Hải về trong nay mai. Cũng có thể anh Hải về gia đình ở Phan Thiết trước. Con đừng đi đâu lâu trong những ngày tới, ở nhà chờ tin tức, chờ anh Hải.

Kim cúi đầu dạ nhỏ, không biết vui hay buồn hay lo. Vui vì niềm hy vọng Hải sẽ trở về khi không còn chiến tranh. Buồn vì một cảm giác nhói đau khi nghĩ đến thân phận Hải là người thất trận, nếu không còn chiến đấu thì Hải sẽ làm gì đây, Hải sẽ sống như thế nào đây. Lo vì nhận ra sự đổi thay không thể tránh được cho gia đình mình. Linh cảm một cơn bão tố vần vũ sẽ thay đổi cuộc sống bình an của gia đình mình, của người dân Sài Gòn.

Chiều ngày hôm đó, trời vừa chạng vạng, Hoàng đang chơi nhà bạn, hớt hải chạy về, kêu lớn:

– Gạo, gạo nhiều lắm má ơi!

Bà Ba Hòa ngạc nhiên nhìn thằng con trai cầu tự, than thầm: Hừm…thằng này biết gì chuyện gạo thóc mà nay bày đặt. Nhưng bà cũng hỏi, hỏi để trấn an, để làm dịu gương mặt Hoàng đỏ ửng vì căng thẳng:

– Gạo ở đâu mà con biết.

– Ở kho gạo gần nhà thằng Phúc đó má. Người ta ào vô khô, mạnh ai nấy khiêng, không trả tiền gì hết.

– Mạnh ai nấy khiêng? Ông gác dan đâu?

Ông Ba Hòa nhìn gương mặt sôi nổi của thằng con trai, lắc đầu, nói:

– Loạn, loạn rồi, người ta thừa nước đục thả câu đó con.

Trầm ngâm một lát, bà Ba Hòa nhìn chồng, giọng hơi rụt rè:

– Đây rồi gạo thóc chắc chắn sẽ khan hiếm, không biết buôn bán có được bình thường như trước, nhà mình đông người, phải dự trữ gạo để phòng xa. Để tui với con Hai Cao lại đó xem sao.

Ông Ba Hòa nhìn vợ, hiểu nỗi lòng người mẹ, giọng ông buồn buồn:

– Má lo xa cũng phải. Nhưng người ta làm loạn, chẳng lẽ mình ùa theo. Đâu còn có đó, chợ búa chắc cũng còn. Thôi thì ngày mai, mình với con Hai Cao ra chợ thâu mua được bao nhiêu gạo thì mua mà để dành, có hũ gạo trong nhà là không sợ đói. Tui chở mình lại canteen, coi người ta có cho mình vô kho thì mình chở hết thức ăn còn tồn kho về nhà cho chắc ăn. Của mình, mình giữ, không lấy của ai hết.

Xoay qua Phương, ông biểu:

– Phương chở chị Hai Cao đi theo ba má, phụ với ba má dọn kho nhà mình. Không chừng người ta đã dọn hết. May mà thằng Hoàng chạy về báo chuyện kho gạo, ba mới nghĩ ra. Kim ở nhà coi chừng em.

Đường xá náo động hẳn ra. Hình như người ta ra đường chỉ để kiểm chứng lại những tin tức đang nghe trên radio, để dò phản ứng mọi người. Nét hoảng hốt không rõ nguyên cớ pha trộn nét tò mò dáo dác; nét vui mừng khi biết rằng từ nay không còn tiếng súng hòa với nét ngơ ngác không biết sẽ nhìn điều gì, những gì sẽ đến cho mình, cho gia đình… hiện trên gương mặt những người chạy xe honda, xe đạp, ngồi trên xích lô…

Một chiếc xe jeep đổ dốc cầu Chữ Y xuống hướng Nguyễn Biểu, quẹo về Trần Bình Trọng, trên xe khoảng bảy, tám cậu thanh niên ngồi chen chúc, gương mặt trẻ măng, quần áo như mọi người, chỉ khác là tay áo phải mang một băng đỏ. Gương mặt ai nấy trông có vẻ khẩn cấp một cách ngượng ngạo với khẩu súng trường dài được giữ chặt vụng về trước mặt mỗi người.

Nhà thương Chợ Quán vắng hoe như thường ngày nhưng ông gác cổng không còn ngồi trong căn phòng chừng hai mét vuông. Hai cậu thanh niên, vai đeo súng dài, gương mặt gầm gầm chận ông Ba Hòa lại khi ông dắt xe vô cổng nhỏ phía sau để đến nhà bếp của canteen. Nhìn ánh mắt không mấy thiện cảm trên gương mặt trẻ măng, bà Ba Hòa hiểu nhanh tình hình, cố lấy giọng nhỏ nhẹ mong thuyết phục:

– Dì là người làm trong canteen, cháu cho dì vô coi chuyện cơm nước cho bệnh nhân tới đâu rồi.

– Không ai được vô hết. Không ai được ra hết. Khùng điên mà cơm nước gì.

Nghe giọng nói trống không vô tâm, hỗn láo của một thanh niên đáng tuổi con mình, ông Ba Hòa hiểu nhanh, ông đạp máy chiếc xe honda dame màu xanh rêu lục, biểu bà về ngay, không cho bà năn nỉ tiếp.

Ngồi sau lưng chồng, hoang mang nhìn giòng xe cộ, nhận ra bộ mặt Sài Gòn đang đón nhận chính quyền mới một cách gượng gạo ngơ ngác. Linh cảm của người mẹ trước hoàn cảnh khó khăn của gia đình trong những ngày sắp đến, bà Ba Hòa quyết định.

Về đến nhà, bà biểu:

– Con Hai Cao đi chợ với dì, mình mua dự trữ được món gì thì mua.

Bà xách cái giỏ lát mây lớn hối hả bước, chị Hai Cao lật đật chạy theo. Ra khỏi con hẻm đường Bà Hạt, thay vì quẹo hướng chợ chiều, bà quẹo hướng nhà Phúc, bạn cùng lớp với Hoàng. Chưa tới nơi, cảnh người kéo lê lết bao gạo cả trăm ký, năm chục ký, người khiêng bao gạo đã đổ bớt cho nhẹ trên vai chạy, xe xích lô chở một lúc hai, ba bao, mồ hôi ròng ròng trên gương mặt căng căng nâu đỏ, áo quần xốc xếch, chân không vội vã, tiếng kêu gọi xin tránh nhau, xin cho đi ơi ới.

Cảnh hỗn độn ngoài sức tưởng tượng… làm bước chân bà Ba Hòa và chị Hai Cao thêm hối hả. Không cần bà Ba Hòa biểu, chị Hai Cao chạy nhanh theo dòng người vô kho. Kho rộng, gạo còn trong bao bố, gạo đổ ra nền xi măng, ngổn ngang, hỗn loạn. Người người chen nhau, la hét nhau, đẩy nhau, dẫm trên gạo trắng, cố kéo gạo ra ngoài. Chị Hai Cao ùa theo mọi người nhào tới khi một loạt bao gạo được ai đó đã nhảy lên, đẩy xuống. Nắm được cái tai bao bố, chị ra hết sức kéo.

Bà Ba Hòa vừa chen vô tới thì nghe tiếng kêu:

– Má, má.

Quay nhìn, Hoàng và Phúc đang kéo một bao gạo. Bỏ bao gạo đang kéo, Hoàng chạy lại phía chị Hai Cao. Sức thằng con trai mười tuổi, phụ sức chị thiếu nữ hơn ba mươi, thêm sức đẩy của người đàn bà nôn nóng dành kiếm miếng cơm cho gia đình, vài phút là bao gạo đã ra khỏi kho. Không biết học hỏi ở đâu, chỉ nửa ngày sau khi nhận ra sự hỗn loạn quanh mình, cậu bé mười tuổi lớn nhanh như Thánh Gióng, nghĩ nhanh đến nồi gạo cho ba má, cho các chị, Hoàng ra tay điều khiển:

– Má đứng giữ bao gạo, con với chị Hai Cao vô kho kéo thêm.

Không cần nghe má trả lời, Hoàng chạy nhanh vô kho gạo lần nữa. Hai chị em loay hoay dẫm trên nền đầy gạo trắng, kỳ cục kéo thêm được một bao ra, mồ hôi nhếch nhác, dáo dác tìm bà Ba Hòa. Không thấy bà đâu cả, Hoàng chạy tới chạy lui tìm, Phúc kêu lớn:

– Hoàng, Hoàng!

– Mày thấy má tao đâu không?

– Má mày nhờ tao kéo bao gạo ra đây nè. Má mày chạy về nhà rồi…

Phúc chưa dứt lời, Hoàng thấy chị Kim trên chiếc xe PC nghiêng người lách dòng xe chạy không phân biệt chiều hướng, chị Phương với chiếc xe honda có bà Ba Hòa ngồi phía sau, bám sát, rờ xe tới.

Mọi người phụ nhau khiêng hai bao gạo lên xe. Bao nặng quá, mất cân bằng, xe lảo đảo. Thổ thổ, lắc lắc cho gạo đổ xuống hai đầu bao, tạo thế cân bằng vững chắc hơn. Bao gạo năm mươi kí lô nằm chễnh vệnh chiếm cả yên xe dài, chỉ chừa đủ chỗ cho tài xế ngồi me mé phía trước. Kim và Phương chạy xe từ từ quẹo vô con hẻm nhà mình.

Thấy hai cô con gái ngừng xe trước cổng, ông Ba Hòa không nói không rằng, phụ con đẩy xe vô sân nhà, ráng lật bao gạo xuống. Nhìn ba, không đoán được phản ứng ông về việc làm này của mấy má con, Phương ngập ngừng:

– Con với Kim chạy ra đó chuyến nữa nghen ba.

Ông Ba Hòa nhìn đứa con gái được ông ngoại tặng danh hiệu “ngỗng đực”, cả ngày ra vô nhởn nhơ không biết lo, thế mà chỉ mới nửa ngày, thay đổi thật nhanh chóng. Gương mặt ửng đỏ lấm tấm mồ hôi, mái tóc dài mượt mà cột túm phía sau gáy, tay áo xăng cao, giọng hăng hái. Lòng ông nhói đau: Bước đầu cơn bão tố đang làm đảo lộn nếp sống hiền hòa chân thật, đang hành hạ các con mình như thế này sao? Giọng ông Ba Hòa ôn tồn để trấn an con gái:

– Để ba với Kim đi, con ở nhà coi chừng nhà.

Nhận ra ngay một quyết định đi quá xa khỏi bản chất người cha sống đời công chức trong sạch, một hành động cúi đầu chỉ vì miếng cơm cho các con, một sự thay đổi lớn lao cho người cha, cảm động, Phương quả quyết:

– Ba để con với Kim đi, tụi con chạy chở một mình được. Ba kéo bao gạo vô nhà, má dặn ba dấu gạo dưới bàn thờ ông nội. Con ở nhà, mình con kéo không nổi bao gạo này đâu.

Nói xong, không đợi ông Ba Hòa trả lời, Phương nổ máy xe, chạy thẳng ra cổng, Kim chạy xe theo chị. Ông Ba Hòa đứng chờ cho tiếng xe khuất hẳn mới kỳ cục kéo từng bao gạo vô nhà, lòng nhẩm tính: Một bao là được cỡ một tháng. Thôi tới đâu hay tới đó, chắc chủ bỏ chạy ra nước ngoài rồi, có gạo trong nhà cho chắc ăn. Còn phải lo vụ than dầu muối đường nữa. Không biết rồi sẽ ra sao đây.

Một ngày vừa đủ xáo trộn mọi sinh hoạt gia đình, bắt đầu xáo trộn cả tầm lối nghĩ suy. Bận rộn hòa theo dòng sôi động mọi người mang từ ngoài đường sau vài tiếng đồng hồ, xông xáo với thành tích bốn bao gạo được phủ bằng tấm ra giường lớn dưới bàn thờ ông nội, Kim không còn một tư tưởng cho Hải. Tối đó, Kim tâm sự với Phương:

– Em muốn viết về tâm trạng của em, của mọi người chung quanh, về xã hội chung quanh, chắc sẽ có nhiều xáo động trong giai đoạn lịch sử này. Em nghĩ đây là một giai đoạn quan trọng nhất cho những người đang và sẽ trải qua. Em sợ sau này mình không nhớ được hết những tâm tư, những nghĩ suy của chính mình và mọi người, không viết được lúc này thì tiếc lắm.

Phương trợn mắt, nhìn Kim:

– Mi mà viết là ở tù sớm nghen em. Việt Cộng không phải như người Quốc Gia đâu. Mọi tư tưởng chống đối với chính quyền đều bị coi là phản động. Có không ưa thì cũng ráng ngậm miệng nghe không. Cái miệng của mi ăn nói không uốn lưỡi, chớ nói chi đến chừng mi viết, không biết uốn ngòi bút là tiêu đời em nghen em. Viết mà phải uốn cong ngòi viết thì tốt nhất đừng viết cho khỏi thẹn lòng. Không nhớ chuyện Nhăn Văn Giai Phẩm ngoài bắc sao?

Phương chỉ vô đầu mình, nói như nói cho mình:

– Người ta kiểm soát được ngòi viết, tờ giấy nhưng không kiểm soát được những gì đang diễn ra trong đầu óc con người. Tốt nhất là giữ những suy tư cho riêng mình, đừng dại dột phô bày mà mang họa vào thân. Nước mình, dân mình đang đi vào một khúc quanh lịch sử rất quan trọng. Tuổi của chị em mình, lớn lên trong chiến tranh, rồi bây giờ là chứng nhân và cũng sẽ là nạn nhân của sự đổi đời đây. Tao không biết học hành để làm gì, thôi thì cứ tiếp tục tới đâu hay tới đó. Nhưng chắc chắn là dân Văn Khoa sẽ là dân bị nhổ lông vặt cánh trước nhất, dân ủy mị, dân duy tâm mà.

Kim không ngạc nhiên và Kim hiểu chị mình không phải chỉ là một cô gái chỉ nhởn nhơ trong dáng dấp “nàng thơ” mà mấy anh ở Văn Khoa tặng. Chị sâu sắc ngầm cho nên chị vẫn thường chê mấy anh Văn Khoa gật gà gật gù không có lập trường rõ ràng. Chị chê những anh sinh viên nhắm mắt theo thời bày đặt biểu tình xuống đường, a dua. Chị lắc đầu trước lối ngụy biện yêu-hòa-bình để chống chế cho cách trốn lính của các anh cùng ban. Chị cười những anh bắt chước chán thế sự để ngụy biện cho lối sống trụy lạc. Chị vẫn thường khen anh Hải dám lựa chọn một hướng sống và sống cho lý tưởng của mình. Trong thâm tâm, chị vẫn ao ước có được một người tình như Kim. Làm người yêu của lính, dẫu cho tình yêu mang nhiều lo âu, thao thức cho người con gái nhưng tình yêu lý tưởng. Hồi đó chị Hạnh và chị Phương là cặp bài trùng, chê Kim du côn, con nít. Những tháng gần đây, chị Phương và Kim tự nhiên gần gũi, thông cảm nhau nhiều hơn.

Kim không biết mình sẽ hy vọng vào gì đây, không biết mong chờ chuyện gì sẽ đến. Đầu óc Kim lẩn quẩn với những tư tưởng… Anh Hải sẽ về? Anh Hải không còn là anh trung úy oai nghiêm như nhỏ Thảo Nhiên thường khen. Anh sẽ sống như thế nào đây nếu anh không còn mang bộ áo xanh lá cây rừng, không còn màng đôi giày bố đen, không còn mang trên vai áo mấy cái bông mai vàng rực. Rồi người lính trong anh? Rồi cái ba gai ngang tàng một cách dễ yêu của người lính trong Hải có biến dạng? Hải có về với mình không. Chỉ biết chờ. Chỉ biết đợi.

***

HƯƠNG CHANH CHƯƠNG 1 – CHƯƠNG 2  – CHƯƠNG 3 – CHƯƠNG 4 CHƯƠNG 5

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s