Phạm Hy Sơn – ĐẠI LỄ HAI BÀ TRƯNG NĂM 2019 – Đọc Bài Thơ Tôn Vinh Hai Bà của cụ Hoàng Thúc Hội

Đề Vịnh Hai Bà Trưng

Ngựa Gióng đã lên không,

Rừng Thanh voi chửa lồng .

Một chồi hai nhụy Lạc,

Muôn dặm nước non Hồng .

Trăng soi gương hồ Bạc,

Mây tan dấu cột đồng .

Nén hương lòng cố quốc,

Xin khấn một lời chung .

Hoàng thúc Hội

Thơ văn tôn vinh công đức của Hai Bà được các thi, văn sĩ viết rất nhiều .

Về thơ có cuốn Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (Lịch sử nước Đại Nam bằng thơ) do hai cụ Lê ngô Cát và Phạm đình Toái tu sửa vào thời nhà Nguyễn kể rõ thân thế của Hai Bà và chiến công đánh đuổi thái thú Tô Định, thu hồi độc lập cho đất nước, dựng nên triều đại nhà Trưng năm 40 – 43 sau Tây Lịch .

Các thi, văn sĩ khi đề cao công đức của hai vị nữ anh hùng dân tộc phần lớn cũng viết theo lối viết sử của Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca:

Bà Trưng quê ở Châu Phong,

Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên .

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân .

Trước đó mấy trăm năm, tập thơ Hồng Đức Quốc Âm đời vua Lê thánh Tông có hai câu kể chiến công của Nữ Trưng Vương :

Tô Định bay hồn vang một trận,

Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành .

Những bài thơ kể trên giới hạn sự kiện lịch sử của Hai Bà trong 4 năm- từ năm 40 đến năm 43, không nhắc đến công ơn to lớn của hai vị trong suốt dòng lịch sử của dân tộc cho đến ngày nay và mãi mãi .

Cuộc khởi nghĩa lấy lại độc lập của Hai Bà là ngọn lửa, là tấm gương sáng chói hun đúc ý chí quật cường, tinh thần độc lập của dòng giống Việt nên mới có các cuộc khởi nghĩa của bà Triệu chống quân Ngô năm 248, Lý Nam Đề đánh đuổi Lương năm 541 lên làm vua . . . cho đến vua Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 939 – Đằng giang tự cổ huyết do hồng (*) – đặt nền móng độc lập vững vàng cho muôn đời về sau :

Voi Triệu đem đường tiến,

Cờ Đinh mở lối ra,

Cõi Nam nền độc lập,

Muôn thuở tiếng Hai Bà .

(Dương bá Trạc – Vịnh Hai Bà Trưng)

Bài thơ ca tụng công đức Hai Bà của cụ Hoàng thúc Hội cho người ta nhớ về toàn bộ lịch sử dân tộc . Khi đọc sáu câu thơ đầu, chúng ta có ngay cảm nhận lịch sử của dân tộc là một dòng lịch sử trải dài và liên tục từ thời vua Hùng với thánh Gióng đuổi giặc Ân, Bà Trưng đánh đuổi Tô Định, bà Triệu khởi nghĩa ở Thanh Hoá đánh quân Ngô để rồi cuối cùng ông cha chúng ta dựng được nền độc lập, xóa tan tàn tích ngoại xâm và mở mang bờ cõi vinh quang ở trời Nam :

Ngựa Gióng đã lên không,

Rừng Thanh voi chửa lồng .

Một chồi hai nhụy Lạc,

Muôn dặm nước non Hồng .

Trăng soi gương hồ Bạc,

Mây tan dấu cột đồng .

Hồ Lãng Bạc là hồ lớn, phong cảnh rất đẹp ở kinh đô Thăng Long qua các triều đại huy hoàng của đời Lý, đời Trần, đời Lê đại hùng cường, bắc phạt Tống, diệt Nguyên; nam bình Chiêm mở cõi . “Gương Hồ Bạc” trong thơ của cụ Hoàng thúc Hội biểu tượng cho kinh đô Thăng Long và kinh đô Thăng Long biểu tượng cho đất nước Việt Nam bao đời rạng rỡ .

Hai câu kết :

Nén hương lòng cố quốc,

Xin khấn một lời chung .

Nén hương lòng” của ai hướng về hướng về “cố quốc” ? Sao lại là “cố quốc” khi cụ Hoàng thúc Hội đang sống trên đất nước Việt Nam ?

Để hiểu hai câu thơ trên chúng ta tìm về thân thế của tác giả . Cụ Hoàng thúc Hội (1870-1938) sinh năm 1870 tại làng Hạ Yên Quyết, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay là phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội . Năm 1906 cụ đậu cử nhân Hán học nhưng giữ khí tiết, không ra làm quan cho Pháp .

Tưởng cũng nên nhớ lại năm 1884 Pháp chiếm toàn bộ Việt Nam từ Nam ra Bắc, triều đình Huế chỉ là bù nhìn và chữ “cố quốc” cụ hạ bút trong bài thơ nguyên do là nước đã mất .

Nhân Vịnh Hai Bà Trưng, cụ kêu gọi mọi người hãy chung lòng góp sức đánh đuổi quân Pháp ra khỏi bờ cõi Việt Nam .

————————————————

Chú Thích : (*) Theo lời truyền lại, sau khi Mã Viện được vua nhà Hán sai sang chiếm lại nước Việt thì dựng một cột đồng ghi mấy chữ đe doạ “ Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là nếu cột đồng gãy thì nước Việt (Giao Chỉ) bị tiêu diệt .

Về sau, theo giai thoại, khi sứ thần Việt Nam sang Tàu, người Tàu ra câu đối rất ngạo mạn :

-Đồng trụ chí kim đài dĩ lục ? ( Cột đồng đến nay đã mọc rêu xanh chưa ?)

-Đằng giang tự cổ huyết do hồng ! ( Sông Bạch Đằng từ xưa đã nhộm đỏ máu rồi ), sứ thần Việt đối lại, có ý nhắc đến quân Tàu mấy lần bị đánh tan tác bởi vua Ngô Quyền và Hưng đạo Vương tại sông Bạch Đằng .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s