HÒANG KIM OANH – NHÂN ĐỌC LẠI THANH TÂM TUYỀN, NGHĨ VỀ EDGAR POE

Thanh Tâm Tuyền (1936-2006)- Nguồn: E.E-Phan Nguyên

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới (Dạ khúc)

Xuất hiện trên văn đàn từ những năm 1960, Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) được đánh giá là một trong vài nhà thơ lớn nhất và có ảnh hưởng nhất đã góp phần tạo nên một bước ngoặt quan trọng cho thơ ca miền Nam giai đoạn 1954-1975, “là một trong những nhà thơ giàu hình ảnh nhất Việt Nam; văn thơ ông là sự đãi lọc, khai phá chữ nghĩa” [Thuỵ Khuê]. Thanh Tâm Tuyền – Dzư Văn Tâm vốn là một giáo sư Việt văn, di cư vào Sài Gòn, dạy học ở một số trường tại Sài Gòn (trong đó có trường Thánh Mẫu – Gia Định mà sau này 1968 tôi mới bước vào lớp Đệ Thất) và Thủ Dầu Một. Năm 1962-1972 hai lần ông bị động viên thành người lính, dù “chưa một lần nổ một phát súng”. Đối mặt với cái chết trong sự bất an cuả kiếp người và tình yêu trong chiến tranh, sáng tác của ông mang nét siêu hình triết học đầy tương phản, phức tạp biểu hiện qua “tầm nhìn sâu thẳm, xâu xé, xoáy vào thân phận làm người, chủ yếu là người nhược tiểu” [Đặng Tiến, tr.203] bằng những tứ lạ, cấu trúc phân thân qua những hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu mới mẻ:

tôi thèm giết tôi

loài sát nhân muôn đời

tôi gào tên tôi thảm thiết

thanh tâm tuyền

bóp cổ tôi chết gục

để tôi được phục sinh

(Phục sinh)

Thơ của ông đậm đặc nỗi buồn hiện sinh, sự phi lý và cái chết, nhất là cái thú tự đày đoạ, dằn vặt tâm hồn mình mở một thế nhị phân giằng xé:

tôi thèm sống như thèm chết

giữa hơi thở giao thoa”

Đồng thời, ta có thể bắt gặp một cái tôi khác, đầy khát khao một chỗ trú ẩn cho linh hồn: “tôi gọi khẽ/ em/ hãy mở cửa trái tim/ tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ/ trong sạch như một làn sự thật” (Phục sinh).

Yếu tố tự phân thân: tôi và một kẻ khác – vắng mặt: “tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ”; tôi và một kẻ khác – cái bất lực hèn yếu hiện hữu trong tôi: “tôi thèm giết tôi…” lặp đi lặp lại trong tác phẩm của ông cũng là một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong viêc ám gợi ý thức tìm kiếm, giằng xé, phân mảnh của tâm hồn, và sự vỡ nát, bi đát của số phận con người trong hiện thực âu lo, chiến tranh tan tác bủa vây không lối thoát. Cái tôi phản thân lặp đi lặp lại này, nhất là điệp khúc “Có ai gọi tên tôi giữa phố” (3 lần) trong Sầu khúc 10 và kết cuộc “Hoá ra tôi đâm tôi chết tốt.” [Thanh Tâm Tuyền, tr.74] mang dáng dấp của cái “bản ngã song trùng” và kết cuộc trong William Wilson cũng như nhiều truyện kinh dị, rối loạn tâm thần khác của ông tổ truyện kinh dị Mỹ Edgar Poe. Tôi gọi tên tôi. Tôi nhớ tôi. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Tôi và Kẻ khác. thanh tâm tuyền. thanh. tâm. tuyền. «Je est un autre» (Rimbaud)

tôi buồn khóc như buồn nôn ngoài phố nắng thủy tinh tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ thanh tâm tuyền

Quan niệm sáng tác của Thanh Tâm Tuyền cùng các nhà văn nhóm Sáng Tạo cũng khá tương đồng với quan điểm của Edgar Poe và Baudelaire: không nhằm dẫn người đọc tới những vấn đề luân lý, đạo đức, triết học, văn chương, xã hội…, mà chỉ cho chính nó. Thanh Tâm Tuyền lựa chọn sự “căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy.” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay). Có thể bắt gặp quan điểm sáng tác của E. Poe trong “Định nghĩa một bài thơ hay”, Thanh Tâm Tuyền viết năm 1956, in trong tập Tôi không còn cô độc nữa. Ông đã mở đầu bằng một hình ảnh hết sức quen thuộc gần như là biểu tượng của E.A. Poe: con quạ. “Hơn một loài quạ đenkhủng khiếp”, và những câu thơ tiếp theo, ông đã định nghĩa bài thơ hay phải là những bài thơ “may mắn như bài thơ gồm những âm trắc đồng tình”. Edgar Poe trong tiểu luận quan trọng The Rational of Verse, cũng nhấn mạnh “nguyên tắc sơ đẳng của thơ có lẽ chỉ tìm được trong nhịp spondee, và mọi mầm mống của ý tưởng đều có thể tìm được trong sự cân bằng của một nhịp có hai âm tiết” (Spondee: một nhịp được dùng nhiều nhất trong thơ cổ, gồm hai âm tiết mạnh, có nhấn giọng – tạm hiểu tương đương như vần trắc như trong luật thơ tiếng Việt)

Không hè né tránh, chủ đề của thơ Thanh Tâm Tuyền ngoài nỗi cô đơn và những giằng xé phân thân còn nhiều bài ngợi ca cái chết, bởi cũng như Edgar Poe, Thanh Tâm Tuyền quan niệm:

Một câu thơ hay như lời nói,

Bài thơ hay là cái chết cuối cùng”

Hình ảnh “con quạ” và tiếng kêu định mệnh đau đớn “nevermore” của Poe không chỉ một lần mà còn hiện về nhiều lần trong cõi mộng đêm đêm trong thơ Thanh Tâm Tuyền:

Một mùa đông dài bão táp

Đêm qua ác điểu đậu cành khuya

Thả rớt trái tim ác độc

Trong một tiếng tang thương…

(Hải đảo)

Hoặc có những hình ảnh khá gần gũi như hình ảnh đôi mắt nàng Annabel Lee của Poe:

“Nhìn những ngôi sao thấy đôi mắt sáng.

Đẹp tuyệt vời của Annabel Lee”

(Annabel Lee)

được hiện lên thật gần trong câu thơ của Thanh Tâm Tuyền: “Ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể. Mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em”. Trong ‘Sầu khúc’ – bài thơ lẫn văn xuôi cấu trúc khá lạ, Thanh Tâm Tuyền kể về cái chết của người con gái xinh đẹp đã mang theo cả cuộc sống của anh cũng đầy hơi hướm những Annabel Lee, Ligeia, và Eulalie của Edgar Poe.

Từ biệt nàng tôi hỏi Em đã chết rồi chăng? Trong quan tài nàng đáp Ôi đất lạnh mưa băng

Tôi tìm thần chết hỏi Nàng được tự do chăng? Thần chết câm và điếc Tôi nắm tóc bắt gật đầu Và trở về dương thế

(Sầu khúc)

Thơ Thanh Tâm Tuyền thực ra chịu ảnh hưởng thơ Pháp, thơ phương Tây đến mức độ nào? Thuỵ Khuê trong bài đã dẫn, sau khi đối chiếu so sánh thơ Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên “từ ảnh hưởng Edgar Poe, truyền qua Baudelaire”, đã khẳng định rằng “Phải đến Thanh Tâm Tuyền, thơ mới đạt đến mức độ hoàn toàn tự do trên tinh thần và trong cấu trúc: ảnh hưởng hiện sinh làm nhà thơ nhìn thấu suốt chính mình, ảnh hưởng siêu thực khiến ông phá vỡ những bến bờ cấm cản của lý trí, để đưa ra những câu thơ đớn đau tột độ.”

Nhà phê bình Đặng Tiến cũng cho rằng “Chất hiện đại trong thơ ông một phần do ảnh hưởng thơ thế giới, chủ yếu là thơ Pháp, từ Rimbaud, Lautréamont đến Apollinaire, nhất là thơ Siêu Thực của nhóm Breton, Eluard, mà ông tiếp thu trực tiếp.” [Đặng Tiến, tr. 100]. Không kinh qua nhà trường Pháp thuộc như thế hệ nhà văn trước, thạo tiếng Pháp, đọc nhiều, Thanh Tâm Tuyền đã trực tiếp đến với nhiều tác giả trên thế giới “từ Gorky, Plekhanov, Marx, Trosky đến những tác giả mới hơn như Laưrence Durrell hay Soljenitsyne”, do đó việc tiếp nhận và tiếp biến văn học phương Tây của ông cũng phóng khoáng, rộng mở hơn.

Thế nhưng, dù có những điểm thoạt nhìn gần gũi Edgar Poe, Baudelaire hay những ám ảnh hiện sinh, siêu thực…, thơ Thanh Tâm Tuyền vẫn mang một phong cách riêng. Chính ông từng khẳng định nguồn cảm hứng sáng tác của mình là hiện thực cuộc sống của dân tộc qua tâm thế một người trong cuộc:

Và thơ là gì? Nếu không phải sự khám phá mầu nhiệm bằng ngôn ngữ một thế giới vẫn trốn mặt ở quanh”

(Nỗi buồn của thơ hôm nay)

Chính ông đã chọn lựa cho thơ mình một cội nguồn dân tộc:

Không đa đa siêu thực

Thẳng thắn

Khởi từ ca dao sang tự do.

(Một bài thơ).

Con đường thơ Thanh Tâm Tuyền khác những người đồng hành ở chỗ “đã nắm bắt được khá toàn diện những trào lưu tư tưởng Tây phương đương thời để thể hiện trong văn học Việt Nam: ông không dùng vần, mà dùng hình ảnh màu sắc, âm thanh, để tạo ra nhịp điệu trong thơ…nghĩa là ông đã phá tan những nội quy cổ điển về thơ, để tạo ra một vùng tự do chưa từng có trong thơ ca Việt.” [Thuỵ Khuê, sđd]

(Trích ‘Tiếp nhận E.A.Poe ở Việt Nam, HKO)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thuỵ Khuê. 2006. «Thanh Tâm Tuyền». Tạp chí Sông Hương số 210 -08 – 2006

2. Đặng Tiến. 2008, “Độc cô Thanh Tâm Tuyền”, Vũ trụ thơ II, US: Nxb Thư Ấn Quán.

3. Thanh Tâm Tuyền. 1956. Tôi không còn cô độc. S. Người Việt xuất bản

4.Thanh Tâm Tuyền, 1964. Liên đêm mặt trời nhìn thấy. S: Nxb. Sáng tạo. bản St5

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s