Trần Viết Điền – VỀ THÁP VÀ BIA NGÀI TỔ KHAI SƠN CHÙA THIỀN LÂM

Lịch sử chùa cổ Thiền Lâm Huế vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết rốt ráo. Riêng tháp và bia của ngài tổ Khắc Huyền từng được các nhà nghiên cứu đề cập trong những năm gần đây, có một số tồn nghi lịch sử mà kiến giải của các nhà nghiên cứu vẫn còn trái chiều. Có hay không có tổ khai sơn Khắc Huyền của chùa Thiền Lâm? Ngài tổ khai sơn có được vua chúa triều Nguyễn sắc tứ không?Khi xây dựng Nam Giao tân lộ (1888-1898) thì tháp mộ của tổ khai sơn Khắc Huyền có bị di dời không? Bia tháp của tổ khai sơn có bị thu nhỏ, mài nhẵn để khắc lại, đục xóa chữ và nếu có thì mục đich việc làm này là gì?

A- Tổng quan vấn đề:

Để tiện theo dõi chúng tôi xin tổng quan các kiến giải về tháp và bia của ngài Khắc Huyền trong các công trình đã công bố của nhà nghiên cứu trong hơn mười năm qua, chỉ một phần nội dung có liên quan vấn đề nêu trên:

NNC Hà Xuân Liêm:

Trong sách “Những ngôi chùa Huế”, (Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000, tr.75-tr.76), tác giả Hà Xuân Liêm thừa nhận tổ khai sơn chùa/viện Thiền Lâm là ngài Khắc Huyền tự Tư Như, năm sinh không rõ nhưng năm mất 1706. Tác giả phiên âm văn khắc trên bia đá của tháp: “Sắc tứ Động thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền Lão tổ HòaThượng chi tháp”. Về trạng huống văn khắc, NNC cho rằng “ Tháp và bia tháp của Khắc Huyền Lão Tổ hiện còn đến nay, cũng chưa hẳn là một tài liệu chính xác để cho biết về chùa Thiền Lâm một cách rõ ràng. Cái vẻ lâu đời của tháp và bia tháp không có gì nói lên đó là một di tích xưa đã gần 400 năm. Vì mưa gió và khí hậu khắc nghiệt của xứ Thuận Hóa thì những di tích lộ thiên độ một thế kỷ là đã có vẻ cổ xưa rồi. Bia tháp ở đây cũng vậy, trừ phần viền xung quanh rộng độ một tấc tây, thì dòng chữ chính giữa đã có vết mài dòng chữ cũ để khắc lại”. Về nguyên nhân và thời gian khắc lại bia tháp ngài khai sơn, NNC Hà Xuân Liêm viết: “Vậy bia này khắc lúc nào?Theo chúng tôi nghĩ, bia này có thể chỉ được khắc lại vào năm 1897 đời Thành Thái. Nguyên đoạn đường từ sông An Cựu lên tới Đàn Nam Giao được mở vào khoảng 10 năm:1888-1898 do một kỹ sư kiều lộ người Pháp là Sali được giao quyền thực hiện”.

NNCNguyễn Đắc Xuân:

Trong các sách “ Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung”(Nguyễn Đắc Xuân, Nxb Thuận Hóa, Huế,2007), “ Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử Thiền viện đầu tiên lớn nhất ở xứ Đàng Trong”(Nguyễn Đắc Xuân, NXB Thuận Hóa Huế 2017) NNC Nguyễn Đắc Xuân đưa giả thuyết rất táo bạo; rằng chùa Thiền Lâm không có tổ khai sơn, ban đầu chùa chỉ là một chùa nhỏ ba gian lợp tranh của phủ Dương Xuân. Khi HT Thích Đại Sán qua Thuận Hóa vào năm 1695, trọ ở chùa Thiền Lâm chật hẹp, nên Minh vương Nguyễn Phúc Chu huy động nhân vật lực mở rộng chùa thành Thiền Lâm viện. Thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát lại tôn tạo, sắc tứ chùa. Về sau vào thời Tây Sơn chùa trở thành dinh Thái sư Bùi Đắc Tuyên, ở gần lăng Đan Dương của vua Quang Trung. Vì muốn che giấu phủ Dương Xuân/cung điện Đan Dương/sơn lăng hoàng đế Quang Trung nên triều Nguyễn sau khi đào hài cốt, đã đập phá, chôn vùi di vật, di chứng lăng Đan Dương,phủ Dương Xuân. Không những thế triều Nguyễn còn cố tình “ghi nhầm địa chỉ” chùa Thiền Lâm ở xã Dương Xuân qua xã An Cựu, thậm chí đục bia, chôn bia một số tháp mộ liên quan khác. NNC Nguyễn Đắc Xuân cho rằng bài vị của ngài Khắc Huyền hiện thờ trong chùa ghi “Thiền Lâm tự”, trái với bia tổ ghi “Thiền Lâm viện” và vì bài vị mới lập nên không có giá trị khoa học. Còn tấm bia đá ở tháp ban đầu lớn, của một vị nào đó, khi trùng tu vào thời Gia Long, người xưa đã thu nhỏ, mài nhẵn, khắc lại,…để tạo ra tổ khai sơn Khắc Huyền không có thật! NNCNguyễn Đắc Xuân viếttấm bia Ngài Khắc Huyền bị mài và khắc lại diễn ra hồi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu xây dựng lại chùa Thiền Lâm… Về việc bia mộ tháp Ngài Khắc Huyền bị mài và khắc lại chỉ có một cách giải thích là việc đó nằm chung trong chính sách “Tận pháp trừng trị” của nhà Nguyễn đối với việc xóa dấu tích phủ Dương Xuân – tiền thân của Cung điện Đan dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung mà thôi”. Nhằm củng cố nhận đinh, NNC Nguyễn Đắc Xuân mở rộng: “những bia biển có liên quan đến chùa Thiền Lâm tại nơi tọa lạc của chùa Thiền Lâm ở ấp Bình An xã Dương Xuân đều bị mài đục, xóa hết chữ, chôn sâu xuống đất”.

T.S Võ Vinh Quang:

Tiến sĩ Hán nôm Võ Vinh Quang, ban đầu là một thành viên của nhóm nghiên cứu Đan Dương do NNC Nguyễn Đắc Xuân thành lập và chủ trì vào tháng 8 năm 2 017, đã xin ra khỏi nhóm vào tháng 11 năm 2017. Sau đó T.S đã viết bài Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong : Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm, đăng thành 4phần, bắtđầutừ ngày03/01/2018,trênwebsite http://hueworldheritage.org.vn/.Bài này phản biện một số nội dung sách “Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử…” của tác giả Nguyễn Đắc Xuân, trong đó T.S cho rằng không có hiện tượng đục xóa hằng loạt bia tháp của các vị sư kế thế trụ trì chùa Thiền Lâm, đặc biệt T.S Võ Vinh Quang chứng minh tháp bia thiền sư mà NNC Nguyễn Đắc Xuân đã gán cho ngài Quả Hoằng Quốc sư là không đúng, đó là tháp của thiền sư Thành Công thụy Đại Huệ. T.S Võ Vinh Quang viết :Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy hiện tại ở khu vực này còn không ít bia đá, tháp mộ của các thiền sư chùa Thiền Lâm với chữ nghĩa rất rõ ràng, bia đá Thanh sâu đậm, với đa dạng loại hình (có tháp mộ, có phần mộ) như tháp của thiền sư Thành công thụy Đại Huệ, bia đá của thiền sư Thanh Thận Chiêu Quả, T kheo Tỉnh công Thiền sư, Tịnh Hành Nguyệt thiền sư, Tịnh lão thiền sư…Điều ấy càng cho thấy các nhận định của NNC. NĐX về chuyện triều Nguyễn cố tình đập phá, mài nhẵn và chôn sâu các bia đá, tháp mộ liên quan đến chùa Thiền Lâm để che giấu sự hiện diện của lăng mộ vua Quang Trung (cung điện Đan Dương) ở vùng đất nàylà những suy đoán thiếu căn cứ và phi thực tế”.

Về văn khắc trên bia tháp tổ, T.S Võ Vinh Quang đọc: “Sắc tứ động thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm Viện Khắc Huyền Lão tổ Hòa thượng chi tháp”. Trao đổi với B.S Nguyễn Anh Huy, T.S Võ Vinh Quang viết bài “ Về văn bia tháp tổ Khắc Huyền chùa Thiền Lâm (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)” (https://khoahocnet.com., 7-2-2018) để giải thích vì sao ông đọc “sắc tứ” và vì sao chưa đọc được “chữ không ra chữ” ở diềm dưới của bia.

B.S Nguyễn Anh Huy:

Bác sĩ Nguyễn Anh Huy viết bài “Trao đổi với tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang về những phản biện quyển sách Chùa Thiền Lâm” (https://khoahocnet.com., 14-1-2018), phản biện bài viết của T.S Võ Vinh Quang, trong đó theo B.S thì bia ngài Khắc Huyền có thu nhỏ, mài, khắc chữ lại sau khi di dời tháp mộ vào giai đoạn xây dựng Nam Giao tân lộ. BS Nguyễn Anh Huy cho rằng hai chữ ở khuôn bia trên (diềm trên) chỉ là một chữ, nghĩa là không phải chữ “sắc tứ”, và chưa biết chữ gì. Còn chữ ở khuôn bia dưới (diềm dưới), BS đoán là chữ “tháp”. B.S Nguyễn Anh Huy chưa thỏa mãn những nội dung mà T.S Võ Vinh Quang trao đổi nên viết tiếp bài “ Những điều sai trái trong trả lời của tiến sĩ Võ Vinh quang” ( https://khoahocnet.com., ngày 11-2- 2018), trong đó bác sĩ nêu hai câu hỏi dành cho T.S Võ Vinh Quang, với niềm mong giải quyết những bí ẩn của “trạng huống” bia tháp tổ khai sơn:

1, Xin hỏi TS VVQ : Ở khuôn dưới tấm bia hòa thượng Khắc Huyền, chổ mà tôi đã đọc là chữ  (tháp)”, có phải là chữ không ? TS VVQ chỉ cần trả lời bằng một từ đơn giản là PHẢI hay KHÔNG PHẢI ?

2, Xin hỏi TS VVQ : Tấm bia của hòa thượng Khắc Huyền có CÓ bị đục xóa, khắc lại HAY KHÔNG ? TS VVQ chỉ cần trả lời bằng một từ đơn giản là CÓ hay KHÔNG CÓ ?”.

B. Thử kiến giải một số vấn đề đã nêu:

Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi thử kiến giải các vấn đề chưa đồng thuận của các nhà nghiên cứu:

Khảo tả di tích tháp bia ngài tổ khai sơn:

Do các nhà nghiên cứu từng tiếp cận tháp và bia tổ khai sơn chùa Thiền Lâm đã mô tả bia chưa khớp nhau, thiết tưởng phải trở lại bia tháp để khảo sát.

Chúng tôi đến khảo sát tháp mộ ngài Khắc Huyền vào ngày 18 tháng 10 năm 2018.

Ngôi tháp tọa lạc trước mặt nhà số 145 đường Điện Biên Phủ, cách đường Điện Biên Phủ khoảng 15m, cách kiệt 145 Điện Biên Phủ khoảng 6m.Tháp tọa càn hướng tốn, nghiêng đông 60 độ, nghiêng nam 30 độ, bình đồ có uynh thành hình chữ nhật rộng 5, 5 m dài 6,8m, uynh dày trung bình 0,43m, hai trụ cổng cao1,35m, má trong hai trụ cổng cách nhau 1,25m. Có bình phong hậu, trên bình phong có khắc chữ quốc ngữ : “Trùng tu 1-7-năm Bính Tý(14-8-96)”.Ngoài uynh thành có một bình phong tiền cao 1,34m, ngang 1,43m, dày 0,45m. Tháp cao 2,9m, gồm 3 tầng, cả ba đều có tiết diện lục giác không đều, tầng dưới với bình đồ có hai cạnh đối (vuông góc đường thần đạo) dài 81cm, 4 cạnh còn lại dài 79cm . Lần tôn tạo gần đây vàotháng 8 năm 1996, chỉ dùng vữa xi măng bồi vào những chỗ loang lổ của tháp, uynh thành và bình phong; nghĩa là người tôn tạo giữ nguyên kích thước ban đầu. Đặc biệt uynh trái có gắn một bia “Hậu Thổ” tạo bằng đá gan gà bị mòn nhiều phía.

Bia đá lồng trong khung có 3 cấp được đắp bằng vữa xi măng do trùng tu năm 1996. Tính từ trong ra, cấp 1 của khung sâu khoảng 6,5cm, cấp 2 sâu 6 cm, cấp 3 ngoài cùng sâu 2,5cm.Mặt bia đá có diềm bia lộ khỏi lớp vữa đắp hình khung, phía trái rộng 5,7cm, phía phải rộng 5,3cm, phía trên rộng 4,1cm, phía dưới rộng 2,9cm.Như thế diềm bia phải có bề rộng trung bình 6cm.Mặt giữa và mặt viền của bia đá có độ sâu chỉ chênh nhau 2,5mm. Lòng bia hình chữ nhật rộng 15, 8 cm, cao 64,8 cm.

Về chữ Hán khắc trên bia có thể thấy kiểu chữ khác nhau ở 4 vị trí:

-Ở chính giữa của lòng bia:     開 山 禪 林 院 克 玄 老 祖 和 尚 之 塔(Động thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền lão tổ hòa thượng chi tháp),

-Ở diềm bia trái : 正 和 二 十 七 年 四 月 吉 旦 立 (Chánh Hòa nhị thập thất niên tứ nguyệt cát đán lập),

-Ở diềm bia trên : Hai chữ “Sắc tứ” (敕 賜) (Các nhà nghiên cứu Hà Xuân Liêm, Võ Vinh Quang đọc giống nhau);còn B.S Nguyễn Anh Huy cho đó là một chữ (chưa đọc được).

-Ở diềm bia dưới: có một cụm gồm nét sổ, nét ngang, có nét bị đục, nét khắc thêm… không rõ. B.S Nguyễn Anh Huy đoán chữ (tháp), còn T.S Võ Vinh Quang chưa đoán được chữ gì nên chưa đọc.

Có hay không có tổ khai sơn?

Theo NNC Nguyễn Đắc Xuân thì chùa Thiền Lâm trước năm 1695 chỉ là chùa tranh, dựng trong phủ Dương Xuân để một số thành viên phủ chúa làm Phật sự. Thế thì khi chúa Nguyễn Phúc Chu vời thiền sư Quả Hoằng-Hưng Liên, đang trú trì chùa Tam Thai (Ngũ Hành sơn, Quảng Nam), ra Phú Xuân làm Quốc sư mà ở trong phủ chúa thì quá bất tiện! Thời chúa Nguyễn Phúc Tần từng nghi ngờ thiền sư Hương Hải, vì quan hệ những Phật tử gốc là tù binh quân Lê-Trịnh, cuối cùng thiền sư Hương Hải vượt biển ra Đàng Ngoài. Thời Nguyễn Phúc Chu từng nghi ngờ thiền sư Nguyên Thiều, vì vị này là người nước Thanh, mà lúc bấy giờ có một số người Thanh lãnh đạo một cuộc nổi loạn.Năm 1692 chúa Nguyễn Phúc Chu sắc đưa Tổ sư Nguyên Thiều về lại chùa Hà Trung. Sau cuộc âm mưu nổi loạn của Nguyễn Phúc Thông, Nguyễn Phúc Huệ, con trai của Nguyễn Phúc Diễn vào năm 1694, kíp đến năm 1695, ở Qui Nhơn có người Hoa tên A Ban hội với một người tên Linh nổi loạn ở Quảng Ngải-Qui Nhơn. Vì thế Quốc sư ở chùa gần phủ nhưng không ở trong phủ, khi cần thì vào Phủ Sau, nơi Minh vương Nguyễn Phúc Chu thờ Anh Tông Nguyễn Phúc Trăn (về sau thành Giác vương nội viện) là hợp lý.

Vừa qua trên báo đài, trong các hội thảo,… các nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu, Hồ Tống Phan, Trần Viết Điền, Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Châu Phan, T.S Nguyễn Văn Đăng,B.S Nguyễn Anh Huy, T.S Phan Thanh Hải có xu hướng tìm phủ Dương Xuân ở Bàu Vá-Đình Dương Xuân Hạ, riêng chúng tôi đã chứng minh được vị Trấn lỗ tướng quân là Võ Hoàng Thành [Võ Tử Thành] từng có mộ nguyên táng ở làng Dương Hóa, tiền thân của hồ bán nguyệt trước đình Dương Xuân Hạ; nghĩa là phủ Dương Xuân không bao giờ có ở ấp Bình An, thế thì quan điểm chùa Thiền Lâm ban đầu thuộc phủ Dương Xuân là sai trái. Khi Quả Hoằng ở chùa Thiền Lâm, dẫu chùa còn lợp tranh, nhưng chí ít đã thành chùa thờ Phật, giống chùa Ấn Tôn, có vườn chùa rộng nửa mẫu, sư trú trì Khắc Huyền có thể là pháp huynh hoặc pháp thúc thuộc dòng Tào Động của Quả Hoằng thì quá tiện…Vậy phải có tổ khai sơn chùa Thiền Lâm và không ai khác là ngài Khắc Huyền. Khi có Quả Hoằng-Hưng Liên ở chùa Thiền Lâm, lại là Quốc sư, vai trò của trú trì Khắc Huyền bị lu mờ, hơn nữa có khả năng lúc bấy giờ sư Khắc Huyền đã già hoặc đang dưỡng bệnh, mọi việc của chùa đều do Quốc sư lo, do đó khi Quả Hoằng tiếp sư phụ Thạch Liêm ở chùa, ngài Khắc Huyền không xuất hiện nên Thạch Liêm chẳng nhắc đến. Khi tổ viên tịch, văn khắc trên bia ghi “…lão hòa thượng …” là một bằng chứng.Chùa Thiền Lâm là Phật viện thời chúa Nguyễn Phúc Chu, ngài Khắc Huyền viên tịch năm 1706, khi Thiền Lâm viện đang hoạt động nên tăng chúng lập bia tháp tổ khai sơn, ghi Thiền Lâm viện là hiển nhiên. Về sau qua thời quân Lê Trịnh chiếm đóng Phú Xuân,rồi thời Tây Sơn biến chùa thành dinh Thái sư,…chùa không còn là viện nữa. Do đó khi Thừa Thiên Cao hoàng hậu trùng tu chùa, lập lại bài vị tổ khai sơn liền ghi Thiền Lâm tự, dẫu trên bia tháp tổ ghi Thiền Lâm viện. Vậy không có chuyện, một người mộ Phật như bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu chấp thuận làm một việc không ai dám làm là tạo ra một vị tổ khai sơn không có thật, lập bài vị thờ trong chùa và biến tháp của một vị sư vô danh nào đó thành tháp tổ khai sơn, khắc bia ghi pháp danh…nhằm đánh lạc hướng người đời sau. Đã muốn xóa di tích thì nhân chùa Thiền Lâm hoang phế thì giải tỏa luôn, cần chi phải bỏ công của để trùng tu rồi làm một việc trái khoáy, trong khi có thừa những cách làm khác.

Khi xây dựng Nam Giao tân lộ (1888-1898) tháp mộ không bị di dời:

Làm thế nào để biết tháp mộ ngài Khắc Huyền có di dời khi xây dựng Nam Giao tân lộ hay không, trong tình hình không có thư tịch ghi chép sự kiện, thiết tưởng nên xem xét kết cấu uynh thành, tháp mộ. Do những vết nứt, lớp vữa bị lóc, chúng tôi thấy bình phong, uynh thành có kết cấu không đồng bộ; có nhiều loại gạch của nhiều thời, sắp xếp, chèn, vá,…chứng tỏ khi tôn tạo người xưa có tận dụng vật liệu cũ của công trình bị xuống cấp và bổ sung vật liệu mới. Nhưng tháp mộ, từ chân tháp, đến thân tháp thì khác hẳn; người xưa đã sử dụng vật liệu thuần nhất, đồng bộ, chẳng hạn loại gạch thẻ dày 3cm, giống những loại gạch ở những công trình kiến trúc thời chúa Nguyễn.Dẫu rêu phong nhưng nhờ các phía của tháp đều có vết nứt, đều phát hiện cùng loại gạch cổ nêu trên.Nói chung phần tháp là nguyên bản, không có dầu hiệu xây lại do di dời. Với giả thiết này thấy cũng phù hợp với những mặt sau:

Theo bản đồ phân thửa của ấp Bình An, do NNC Nguyễn Đắc Xuân công bố, thì khuôn viên chùa Thiền Lâm (xưa), Nam Giao tân lộ, chiếm dãi giữa có ngôi điện chính, trước chùa phía tả hữu có khả năng người xưa bố trí tháp mộ các vị trú trị như Thanh Thận- Chiêu Quả, am thờ các vị “hộ pháp” của chùa,…và tất nhiên những công trình này phải dở bỏ, di dời qua phía tây, chân cồn Bông Sứ có chùa Phổ Phúc, Huệ Lâm,…Dãi thứ hai phía Tây, được tăng chúng dựng lại chùa Thiền Lâm (hiện nay), điện thờ mẫu,…Dãi thứ 3 phía đông, phía hậu bên trái chùa xưa từng có tháp mộ tổ Khắc Huyền, tồn tại đến nay.

Nếu tháp ngài Khắc Huyền có di dời và dựng lại đàng hoàng như còn lại hiện nay thì tăng chúng chùa Thiền Lâm của chùa cuối thế kỷ 20 không công bằng với hai tổ kế thế là Thanh Thận-Chiêu Quả và Thanh Tĩnh –Đạt Tôn! Thật vậy ngài Thanh Thận-Chiêu Quả không được dựng lại tháp dù bia ngài có khắc hai chữ “Sắc Tứ”, thậm chí phải “ở nhờ” một ngôi mộ bị phế của một chủ nhân khác!

Về hai chữ “sắc tứ” ở diềm trên của tấm bia đá:

Lòng bia cao khoảng 65cm, gồm 17 chữ khắc theo cột chính giữa, trung bình mỗi chữ nằm trong ô chiếm 65:17= 3, 41 (cm). Như vậy ở diềm bia trên, cao trên 6 cm, có thể đủ chỗ để khắc hai chữ. Tuy nhiên kiểu thức khắc chữ vụng về, khác kiểu chữ ở lòng bia. Chúng tôi đồng ý với T.S Võ Vinh Quang chữ Sắc ()(bị vữa xi măng che mất nửa chữ, còn chữ “tứ” không phải chữ “tứ” () mà chữ “tứ” dị thể (). Phải đợi đến thời tổ đời thứ 3 là Thanh Thận- Chiêu Quả mới được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát sắc tứ, chứ hai vị tổ khai sơn Khắc Huyền và đệ nhị tổ Quả Hoằng chưa được Minh vương Nguyễn Phúc Chu, Ninh vương Nguyễn Phúc Trú sắc tứ. Vì thế trên bài vị thờ trong chùa,cũng như dòng văn bia ban đầu chưa có sắc tứ. Có thể đoán hai chữ “sắc tứ” do người đời sau khắc thêm vào, để tôn ngài tổ khai sơn của một chùa được sắc tứ.Có khả năng , tăng chúng đời sau, do có tranh tụng đất đai giữa làng Dương Xuân với làng An Cựu hay trụ trì các chùa làm đơn kiện để đòi lại tự điền do triều Tây Sơn trưng thu rồi cấp cho người khác…nên đã khắc thêm hai chữ “sắc tứ” lên bia ngài tổ, với cái lý rằng chùa sắc tứ thì tổ khai sơn coi như được sắc tứ. Chủ ý của tăng chúng khi làm vậy là có ý nghĩ rằng khi chùa và tổ khai sơn được sắc tứ thường được nhà nước cấp đất đai làm tự điền, tự viên, tự thổ .

Tại sao thời Tự Đức trở về trước chùa Thiền lâm thuộc xã Dương Xuân nhưng đến đời Duy Tân thì thuộc xã An Cựu?

Rõ ràng đất chùa Thiền Lâm ban đầu do tổ khai sơn khai phá vùng Lâm Lộc trên đồi Dương Xuân với sự giúp đỡ của tăng chúng. Quả Hoằng-Hưng Liên đang trú trì chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam) được chúa Nguyễn Phúc Trăn vời ra Phú Xuân.Thiền sư Quả Hoằng trú tại chùa Thiền Lâm. Năm 1695, HTThích Đại Sán qua Thuận Hóa, ở tạm chùa Thiền Lâm, chúa Nguyễn Phúc Chu đã huy động nhân vật lực biến chùa thành Phật viện. Trước 1695, chùa không thể thuộc phủ Dương Xuân vì khi trú tại chùa HT Thích Đại Sán cảm tác 10 bài thơ mô tả cảnh chùa, không nhắc một công trình nào của phủ Dương Xuân, thay vào đó chung quanh chùa là cây cối và mộ địa. Sau năm 1695, chùa thành viện, coi như thuộc về phủ Dương Xuân. Minh vương cùng người thân đã dự giới đàn ở Phật viện Thiền Lâm và sau đó đã qui y với hòa thượng Thạch Liêm ở Giác vương nội viện, tức một căn thờ ở cung phía Tây, tức Phủ Sau gần sát Phủ Trước thuộc vương phủ Dương Xuân.

Bà Kính Phi Nguyễn Thị Lan, mẹ của công tử Nguyễn Phúc Điền, đã qua đời sớm vào năm 1714, Minh vương rất thương tiếc, và tất nhiên công tử biết ơn chùa Thiền Lâm rất nhiều trong việc tang ma của thân mẫu; có thể vì chuyện này mà về sau khi anh trưởng Nguyễn Phúc Trú kế thống, công tử Nguyễn Phúc Điền trở thành thân vương, giữ chức chưởng cơ, có điều kiện làm vị hộ pháp của chùa, dâng cúng chùa Thiền Lâm nhiều đất ruộng điền thổ. Những ruộng vườn của Nguyễn Phúc Điền là thuộc xã An Cựu. Đến khi con gái Nguyễn Thị Ngọc Cầu của Nguyễn Phúc Điền trở thành quí phi của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát từ năm 1753, do mộ Phật, do sũng ái quí phi, Võ vương đã sắc tứ chùa Thiền Lâm, sắc tứ ngài trụ trì Thanh Thận-Chiêu Quả.

.

Thời Tây Sơn có khả năng Bùi Đắc Tuyên, anh cùng cha khác mẹ của Chánh cung hoàng hậu họ Phạm, trong giai đoạn bà Chánh cung lâm bệnh, đã qui y với ngài Đại Tuệ lúc bấy giờ trú trì chùa Thiền Tôn, với pháp danh Đạo Tuyên-Chánh Tín, pháp huynh đệ với ngài Đạo Minh-Phổ Tịnh. Qua bài cảm tác của Phan Huy Ích viết về chùa Thiền Lâm có thể biết được Bùi Đắc Tuyên trước khi được phong Thái sư vào thời Cảnh Thịnh, Tuyên là thiền sư trụ trì chùa Thiền Lâm và khi đã thành Thái sư , Đạo Tuyên –Chánh Tín biến chùa Thiền Lâm thành dinh Thái sư. Đặng Phương Nghi trong bài Triu đi Quang Trung dưới mt các nhà truyn giáo Tây phươngS Đa, S 13 (1969), trang 151, có đoạn giới thiệu thư ca giáo sĩ Longer gi B Giáo Thánh Hi (La Propagande) ngày 14/3/1795, cho biết Bùi Đc Tuyên là “mt cu tăng sĩ”. Phan Huy Ích trong bài“Cảm tác khi đi ngang chùa Thiền Lâm” từng chép lại câu đồng dao “ Thiền Lâm có đá cheo leo/Ai thương sư phụ thì trèo Thiền Lâm” ra đời khi Đạo Tuyên cỏn trú trì chùa Thiền Lâm, khi họ Bùi giữ chức Thái sư, người đời cho bài đồng dao trên là lời sấm đẹp.Khi chùa Thiền Lâm trở thành dinh Thái sư của Bùi Đắc Tuyên (3 năm từ 1793 đến để 1795) và sau đó tuyên bị hạch tội, chùa được trưng dụng làm kho than. Nếu lăng Đan Dương sát chùa Thiền Lâm thì triều Tây Sơn quá “bất kính” đối với tiên đế vì bên trái lăng là những núi than, nhếch nhác!

Sau cuộc đảo chánh năm 1795, chùa được bà sư Ngọc Cầu cùng các sư Tiên Đạt-Nguyên Long, Tiên Ngộ-Minh Giác, Tiên Cố-Chánh Kiên, …âm thầm phục hồi chùa để thờ tam bảo và đặc biệt thờ vị hộ pháp Dận Quốc công Nguyễn Phúc Điền, thân phụ của bà Ngọc Cầu. Khi Nguyễn vương trở lại Phú Xuân, bà Ngọc Cầu còn sống đến 1804, nên ít nhiều ảnh hưởng đến cháu dâu là bà Thừa Thiên cao hoàng hậu, cho nên bà vợ vua Gia Long tôn tạo chùa Thiền Lâm có sự động viên của bà nội dì Ngọc Cầu. Có thể phủ Dận Quốc Công có dâng cúng ruộng vườn cho chùa Thiền Lâm làm ruộng tam bảo,mà số ruộng đất này trước thuộc xã An Cựu (trên giấy tờ) vì thế về sau có sự kiện tụng tranh chấp đất đai giữa hai làng Dương Xuân và làng An Cựu. Sách “Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóa”(Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010) chép “Vào khoảng tháng 12 năm Minh Mạng thứ 12 (1831) ngài [Tế Bổn Viên Thường ]có đầu đơn xin lại 47 mẫu ruộng Tam bảo tự điền và đến tháng 12 năm sau (1832) xã Thần Phù đã giao lại 24 mẫu 9 sào 8 thước 7 tấc cho chùa canh tác. Đến ngày 9.06 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Hòa thượng lại đệ đơn xin tiếp số ruộng chùa còn lại. Nhưng quan ngự sử đã tra xét và thấy không có căn cứ nên đã xét phạt ngài 100 trượng, nhưng vì thấy ngài tuổi cao (ngài đã 79 tuổi) nên khoan hồng và cho nạp thế 7 phân 5 bạc sung vào kho.Như vậy đến năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) ngài đã lên 79 tuổi.”)(sđd. tr.190)

Trước đình làng Dương Xuân H có bia đá ghi li v kin đt đai gia làng Dương Xuân Thượng/H vi p Phước Qu vào năm Thành Thái th 17.Đường quan thuc ph Tha Thiên phi trc tiếp đi khám xét đo đc. T y có th đoán triu đình Huế thi Thiu Tr đường quan ph Tha Thiên cũng tng đến khám xét các di tích c gò Bình An, trong đó có chùa Thin Lâm, khi các chùa dâng s kin tng đt đai như chùa Long Quang.

Hiện tượng khắc, xóa, khắc lại ở diềm dưới của bia:

Từ lịch sử của chùa chúng tôi thử lý giải chữ khắc về sau ở giữa diềm dưới.Phải chăng thời Thiệu Trị, khi có đơn từ kiện tụng của các xã, chùa, đường quan phủ Thừa Thiên xử ngôi mộ tổ khai sơn chùa Thiền Lâm thuộc về ấp Bình An (từng thuộc xã Dương Xuân). Để làm dấu những di vật, di chứng của đất đai điền thổ, có thể đường quan cho khắc chữ lên di vật tạo tác bằng đá. Sau khi xử, đường quan mặc định đất có tháp mộ ngài Khắc Huyền thuộc về Bình An (tiền thân là đất Dương Xuân) nên “đóng dấu” bằng cách cho khắc trên bia tháp của ngài Khắc Huyền, ở giữa diềm dưới, chữ “khâu” ()(gò, thửa). Về sau đến thời vua Thành Thái, vụ kiện giữa làng Dương Xuân và làng An Cựu, trong đó có chùa Long Quang, chùa Thiền Lâm,… mà tổ đình là chùa Quốc Ân (thuộc xã An Cựu) vẫn còn kéo dài.Đường quan soát xét giấy tờ thì giấy tờ khế ước đất ruộng chùa Thiền Lâm phần lớn thuộc xã An Cựu. Các quan lại xử chùa Thiền Lâm thuộc xã An Cựu, do vậy Quốc sử quán soạn ĐNNTC bản Duy Tân đã sửa lại chùa Thiền Lâm thuộc xã An Cựu. Có khả năng, đường quan đã lệnh cho đục chữ “khâu” () ở diềm bia dưới, khắc vào chữ bị đục một chữ cổn ( I ) (sổ : bỏ đi), khắc chữ “bác” ()(gạt ra), khắc chữ “nhất” ()(một ý, nhất trí) kết quả ba chữ, chồng lên chữ bị đục thành một chữ không đọc được; chỉ có “chiết tự’ như đã nêu và hiểu vì sao người xưa đục, khắc như thế. Mong các nhà nghiên cứu trao đổi giả thiết này.

Thay lời kết: Giả thuyết công tác của NNC Nguyễn Đắc Xuân trong đó một phần viết về lịch sử chùa Thiền Lâm, tính đến nay không còn đủ sức thuyết phục. Nhờ vậy những bóng mờ phủ lên những di tích ở gò Bình An như chùa, viện, miếu,… trong đó có chùa Thiền Lâm, dần dần được đẩy lùi. Đặt giả thuyết công tác là việc cần làm, nhưng khi cơ sở của giả thuyết đã bị phủ nhận một cách khoa học và thao tác khảo cổ học đến hai lần, lần I năm 1988 và lần II năm 2016 đều không có kết quả. Lần I tưởng như đã với tới kim tĩnh, mà một cấu kiện là tấm đá đang đặt ở nhà bếp chùa Vạn Phước, nghĩa là đã tìm được cái lỏi của cung điên Đan Dương!Thế rồi lần II viện khảo cổ trực tiếp thao tác, tại sao không tiến hành khai quật nơi nghi có kim tĩnh mà gia đình ông Nguyễn Hữu Oánh từng xuống núp bom hồi đệ nhị thế chiến?Chỉ cần giải tỏa đền bù thỏa đáng nhà bà Liên (chị của ông Nguyễn Hữu Oánh, thành viên của nhóm Đan Dương) và tiếp tục khảo cố là có ngay kết quả. Cần chi phải mở rộng để tìm cung điện Đan Dương, nơi vua QT ở và làm việc, bốn bề là mộ địa của những ngôi chùa cổ! Lại đào hố thám sát ở chùa Vạn Phước, chùa Thiền Lâm (mới), viện khảo cổ kết luận rằng ở địa chỉ khảo cổ, niên đại của những di vật, di chứng trải dài đến 4 thế kỷ! Có chăng ở một hố đào thám sát, có móng đá bẻ góc thước thợ, nhưng bề rộng chỉ 1m. Uynh thành của tháp mộ tổ khai sơn chùa Thiền Lâm dày trung bình 0,43m thì móng cũng rộng 0,6-0,7m, thế mà móng thành cung điện, lăng tẩm hoàng đế Quang Trung, chỉ rộng một mét ư ? Khi chưa băng hà, theo NNC Nguyễn Đắc Xuân, vua Quang Trung từng bố trí đại bác trên thành ở Bình An; với móng đá rộng 1m, để xây thành của cung điện, liệu kết cấu có hợp lý không. Thật ra đó là móng đá của uynh thành một ngôi mộ cổ, cùng với móng đá của bình phong tiền mà thôi. Có thể đóng cọc căng dây theo hai hướng của móng, khoan thăm dò có thể biết móng đá có kéo dài khoảng 30,40,50 mét hay không là biết ngay móng ấy của thành hay của ngôi mộ nhỏ. Lấy lý do chưa có kinh phí, phải chờ và chờ đến bao giờ? Món nợ “lăng mộ Quang Trung” phải sớm trả, nên kết thúc một giả thuyết công tác đã sai từ lý thuyết đến thực tiễn khảo cổ học để xúc tiến hướng nghiên cứu khác vậy!

Huế, 1-12-2018

Trần Viết Điền

Tài liệu tham khảo chính:

[1]: Hà Xuân Liêm, “Những ngôi chùa Huế”, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000. [2]:Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn , Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóa,NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010

[3]:Nguyễn Đắc Xuân, Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2007.

[4]:Nguyễn Đắc Xuân (2015), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung(tái bản lần thứ 1), Nxb Thuận Hóa, Huế,2015.

[5]:Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2017.

 [6]:Võ Vinh Quang, “Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm,đăngthành4phần, bắtđầutừ ngày03/01/2018,trênwebsite http://hueworldheritage.org.vn/

[7]:Nguyễn Anh Huy, Trao đổi với tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang về những phản biện quyển sách Chùa Thiền Lâm, (https://khoahocnet.com., 14-1-2018).

[8]:Võ Vinh Quang, “ Về văn bia tháp tổ Khắc Huyền chùa Thiền Lâm (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)” (https://khoahocnet.com., 7-2-2018)

[9]:Nguyễn Anh Huy, “ Những điều sai trái trong trả lời của tiến sĩ Võ Vinh quang ( https://khoahocnet.com., ngày 11-2- 2018).

[10]:L.Cadière (1928), “Tombeaux Annamites dans les environs de Hué” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế)”, Bullentin des Amis du Vieux Hué (BAVH) No.1, Janv-  Mars.

[11]:Trần Viết Điền, “Làng cổ Dương Hóa”, Tạp chí Sông Hương số 333, tháng 11/2016, tr.11-16.

[12]:Trần Viết Điền, “Phủ Dương Xuân: Vài chi tiết cần trao đổi với tác giả Nguyễn Đình Đính”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Sở KH&CN Thừa Thiên Huế,Số 1(135) 2017, tr,134-148.

[13]:Trần Viết Điền, “Tâm cảm Ngô Thì Nhậm khi viết bài thơ Cảm Hoài”, Tạp chí Sông Hương số 337, tháng 3/2017, tr.72-79.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s