Thảo luận vai trò của tiệm cà phê trong việc định hình sở thích của người Anh đối với hàng hóa do người nô lệ sản xuất

 Năm 1788, William Cowper chế nhạo thị hiếu của những người đương thời về việc sử dụng hàng hóa xa hoa do nô lệ sản xuất trong bài thơ “Pity for Poor Africans”i, các loại hàng hóa do người Anh khai thác, bóc lột dã man người châu Phi trong một hệ thống thương mại nô lệ xuyên quốc gia kéo dài hàng trăm năm. Cà phê và đường từ vùng biển Caribbean, thuốc lá từ Chesapeake, bông sợi, sô cô la từ châu Mỹ và trà từ Trung Quốc, tất cả đều được tiêu thụ trong một quy mô ngày càng tăng ở Đế quốc Anh. Nhưng cuộc chinh phục những mặt hàng mới lạ (exotic) này không phải là chuyện dễ dàng, cũng không phải là nhanh chóng. Trong số đó, ba loại đồ uống chính, cà phê, trà và sô cô la có vị đắng đặc biệt.

Một hương vị, giúp cho người Anh được ngon miệng do được bổ sung thêm đường (Walvin, 2001). Lịch sử phát triển sở thích hương vị của Anh đối với những mặt hàng đặc biệt từ nước ngoài vào được kết nối chặt chẽ với việc trồng cây làm ra đường thông qua chế độ nô lệ và việc thành lập những tiệm cà phê Anh ở trung tâm kinh tế và văn hóa của Đế quốc: Luân Đôn. Sự phát triển nhanh chóng các tiệm cà phê vào thế kỷ 17, cung cấp cho các sử gia ngày nay một cơ hội hiếm có để nghiên cứu không gian chính trị, xã hội, kinh tế và ẩm thực đặc biệc, từ tư nhân đến cả lĩnh vực công cộng trong lịch sử Anh vào cuối thế kỷ 17 và 18. Tiệm cà phê không chỉ phục vụ như một ngôi nhà công cộng, trong đó việc bán và tiêu thụ đồ uống nóng là chính, nó còn là một trung tâm văn hóa, nơi tất cả các tầng lớp xã hội có thể gặp gỡ, trao đổi tin tức trong ngày hoặc thảo luận về tình hình chính trị. Khi quán cà phê và nền văn hóa của nó phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc vào hàng hóa do người nô lệ sản xuất. Trước đó, các nhà trí thức cũng đã thảo luận về vai trò của tiệm cà phê trong việc hình thành xã hội đô thị hiện đại Anh. Markman Ellis đã công bố kết luận của mình vào năm 2004 trong cuốn sách “Tiệm cà phê – Một Lịch sử Văn hóa” (The Coffee-House – A Cultural History), trong đó ông cho rằng quán cà phê có thể không được xem đơn giản như một kết quả, nhưng là một dấu hiệu của sự phát triển xã hội thời hiện đại mới. Brian Cowan trình bày các lý thuyết tương tự về quán cà phê như một không gian xã hội cạnh tranh trong “Đời sống xã hội của cà phê” (The Social Life of Coffee): Sự xuất hiện của tiệm cà phê Anh, được xuất bản vào năm 2005.

Chủ đề về đường và sự canh tác của nó trong bối cảnh chế độ nô lệ của Đế quốc Anh đã được thảo luận đáng chú ý qua Ahmed Reid, Russell R. Menard, Richard B. Sheridan hoặc Richard Dunn. Mặc dù đường vẫn đóng vai trò chính của các tác giả này, nhưng nó thường được nhìn qua lăng kính của hệ thống đồn điền, kinh tế hoặc phát triển văn hóa của các xã hội nô lệ. Tuy nhiên, cũng có ít người đã nhìn thấy mối liên hệ giữa chủ đề về đường/ chế độ nô lệ với quán cà phê Anh, để giải thích sự nổi lên của xã hội tiêu dùng Anh hiện đại trước đây trong bối cảnh kinh tế xã hội và văn hóa của nó. James Walvin đã có những đóng góp đáng kể để đóng lổ hổng thiếu sót này khi viết vể lịch sử Buôn Bán Nô Lệ Xuyên Đại Tây Dương (Transatlantic Slave Trade) trong cuốn “Black Ivory” của ông, được xuất bản lần đầu vào năm 1993, hoặc The Trader, The Owner, The Slave – Parallel Lives in the Age of Slavery, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2007.

Khi thảo luận về vai trò của quán cà phê và lý do tại sao mọi người bắt đầu uống cà phê, trà và sô cô la, trước hết chúng ta phải xác định những phát triển quan trọng của Châu Âu vào cuối thế kỷ 17 và 18 và những phát triển này được giải quyết khoa học như thế nào. Quan trọng nhất, Đế quốc Anh trải nghiệm sự ra đời của một xã hội tiêu dùng thực sự, trong đó các đối tượng có thể mua và giao dịch hàng hóa, những loại hàng hoặc không tồn tại trên thị trường trước đây hoặc đơn giản là quá đắt tiền để mua, nhưng hiện lại đang trở nên sẵn có cho nhiều người tiêu dùng. (Walvin, 2001). Sự tăng trưởng dân số Anh lớn mạnh của thời hiện đại đầu tiên (early Modern), kết hợp với một nền văn hóa ngày càng hiếu kỳ và thế giới thương mại tập trung quanh London, cũng góp phần vào việc phát triển và nhu cầu đòi hỏi của xã hội (Sheridan, 1994).

Trong thế giới xã hội mới này, rõ ràng là việc chuyển đổi ý kiến ​​thông qua giao tiếp xã hội, điều mà Jürgen Habermas đã giả định là lĩnh vực công cộng mới, đã mở ra một xã hội đô thị và tư sản mới nổi, trong đó các ý tưởng được chia sẻ và thảo luận dễ dàng. Người dân bắt đầu uống một loại đồ uống không cồn mới và kiêng các loại nước uống có cồn (Ellis, 2004). Brian Cowan biện luận một cách thuyết phục, rằng sự thúc đẩy ban đầu để sử dụng một số hàng hóa nhất định trên thị trường được dẫn dắt bởi “động lực chủ quan” từ các xung động ý thức hệ hay văn hóa ” (2005, tr. 10-15) mà ông đã xác định trong các hiệp hội virtuosi Anh ( English virtuosi societies). Những phát triển này phát triển cùng với nhau và là những nguyên nhân hàng đầu để kích thích nhu cầu thị trường: hàng hóa được sản xuất theo kiểu nô lệ trở nên hấp dẫn, chứ không phải vì chúng có sẵn, nhưng vì đây là những sản phẩm đã thành công trong việc thích nghi với nhu cầu của một thị trường Anh đa dạng (Cowan) , 2005). Bằng cách tái cấu trúc văn hóa xung quanh quán cà phê, chúng ta cũng sẽ tạo nên các điều kiện đặc biệt và kích thích cho sự tăng trưởng.

Tiệm cà phê được thành lập lần đầu tiên trong khuôn viên Oxford như là một nơi bổ sung cho nền giáo dục đại học truyền thống, nhanh chóng được gọi là các trường đại học-Penny (Tiền xu) và lan sang London, là trung tâm thương mại, chính trị và văn hóa của Anh quốc. Với một xu cho mỗi tách cà phê nóng, khách hàng đầu tiên của những quán cà phê này có thể bày tỏ và chia sẻ những lý tưởng đạo đức, nhiệm vụ tìm hiểu về thế giới và những cư dân chung quanh, trong môi trường tò mò hiếu kỳ và xã hội tính (Cowan, 2005 ). Quý tộc người Anh đã có thể dùng nhiều loại nước uống mới đặc biệt và quan trọng nhất: đồ uống không cồn, loại nước uống ngon miệng với việc bổ sung đường, mà giá cả lại giảm đều đặn. Sự phụ thuộc vào hàng hóa do nô lệ sản xuất này tạo ra một thị trường thay thế cho thị trường vui trẻ, tươi mới và sắc bén, đến những nơi công cộng chẳng hạn như các nhà thờ hoặc quán rượu. Từ từ, nhưng chắc chắn quán cà phê đã trở thành một không gian nơi các tầng lớp xã hội khác nhau gặp gỡ, nơi người giàu gặp người nghèo và người có học thức gặp những người không được học (Sheridan, 1994), và mang đến những động lực văn hóa, thi đua về xã hội học, tiêu thụ hàng hóa và dẫn đến các xung động văn hóa được thiết lập bởi chỉ một cộng đồng nhỏ bé. Sự gia tăng của các nhà cà phê Anh đã biến đổi và phát triển xã hội Anh thành một xã hội tiêu dùng mới, mà nhu cầu của thị trường đối với hàng hóa sản xuất nô lệ phát triển với tốc độ đều đặn và nhanh chóng.

Trong số tất cả các loại hàng hóa mới lạ (exotic) vào đến được hòn đảo chính của Anh, đường và sự canh tác của nó trong hệ thống đồn điền là những “chiếc răng ngọt ngào của Anh” (the British’ sweet tooth). Qua cách cẩn thận thao túng thị trường tiêu dùng, Đế quốc Anh không chỉ quảng bá hàng hóa của chính mình trong tầm tay của đế chế riêng mà còn kích thích “thương hiệu” khác, chẳng hạn như thuốc lá từ các thuộc địa Bắc Mỹ, sô cô la từ châu Mỹ và châu Phi, trà từ Trung Quốc và cà phê từ Tây Ấn (Walvin, 2001). Thực tế được chấp nhận được hỗ trợ từ các nguồn lịch sử về giá đường vào giữa thế kỷ 18, cho thấy không có sự can thiệp thị trường, chẳng hạn như sự độc quyền của Anh trên thị trường của chính mình, tài phí của ngành mía đường từ các thương nhân London và một thị trường khéo léo thích ứng với các mẫu mã và gia tăng tiêu thụ đường trong Đế quốc Anh (Menard, 2006), không chỉ tạo ra một sự bùng nổ thị trường, mà còn là một cổ máy kinh tế tự duy trì trong đó khai thác nô lệ có hệ thống từ khi sinh ra đến chết, là nhiên liệu giữ cho cổ máy hoạt động tốt trong nhiều thập kỷ.

Sự suy giảm của quán cà phê Anh cuối thế kỷ 17 và 18 có thể đến từ một số phát triển quan trọng. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ vào đầu thế kỷ 19 tất nhiên là một yếu tố góp phần quan trọng vào sự suy giảm các đồn điền mía đường đắt đỏ và số công nhân. Cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng vào cuối thế kỷ 18 cũng góp phần gây ra nguy cơ thất bại cho các chủ nợ trong việc đầu tư tiền vào Tây Ấn. Nhưng những tác dụng địa chính trị rộng lớn hơn của các phong trào bài Anh và nỗi lo sợ gia tăng về những cuộc nổi dậy sau cuộc cách mạng Haiti đã vượt xa những thâm hụt kinh tế ngắn hạn, mà các hệ thống đồn điền có hiệu quả cao tạo nên (Sheridan, 1994). Khi thương mại với châu Á tăng vào thế kỷ 18 và 19, trà cũng từ từ vượt qua cà phê như thức uống quốc hồn quốc túy của Anh và mở đường từ lĩnh vực công cộng vào thị trường kinh tế cạnh tranh có giá trị cao trong lĩnh vực quốc nội. Các cuộc tranh cãi về chế độ nô lệ, đường và các hàng hóa khác lạ (exotic) khác được thúc đẩy bởi nền kinh tế nô lệ đã gây ra một mối quan tâm gần đây trong lỉnh vực khoa học và văn học. Đáng chú ý nhất, The Thirst for Empire của Erika Rappaport: Trà đã biến dạng thế giới hiện đại như thế nào, The Hungry Empire của Lizzie Collingham: Cách thức ăn uống của người Anh định hình thế giới hiện đại và Sugar của James Walvin: Thế giới bị phá vỡ từ chế độ nô lệ là những ví dụ điển hình của việc xem xét quá khứ của Đế quốc Anh từ quy mô ngày càng toàn cầu. Và khi toàn cầu hóa ảnh hưởng đến người dân của thế kỷ 21, chúng ta vẫn phải đối phó với cùng một vấn đề từ hơn 300 năm trước. Trong thế hệ Starbucks và điện thoại di động vẫn chỉ có rất ít người nhận ra đồ uống của chúng ta đến từ đâu và điều kiện làm việc và sinh hoạt của những nhân công trên quy mô toàn cầu đó như thế nào. Rất ít người nhận ra rằng thiết bị di động hàng ngày của họ chứa nhiều kim loại quý hiếm và khoáng chất, được khai thác và chế biến trong điều kiện làm việc mà một số tổ chức nhân quyền coi là nô lệ ‘hiện đại’. Cho đến khi sự cách biệt giữa nhu cầu của người tiêu dùng và các sản phẩm vẫn còn tồn tại và nhân loại bị che mắt đằng sau mọi hàng hóa thông qua PR-marketing thông minh, chúng ta cũng còn phải đối mặt với các thế hệ tương lai và phải trả lời về việc thiếu nhận thức về tình trạng hiện tại và sự thất bại của chúng ta, để có hành động tương thích.

TTP dịch từ: Discuss the role of the coffee house in shaping British tastes for slave-produced goods – Tác giả Long Ton

Bibliography:

Cowan, Brian. (2005). The Social Life of Coffee: The Emergence of the British Coffeehouse. New Haven, CT: Yale University Press.

Ellis, Markman. (2004). The Coffee-House: A Cultural History. London: Weidenfeld & Nicolson.

Menard, Russell R. (2006). Sweet negotiations: Sugar, Slavery and Plantation agriculture in early Barbados. Charlottesville: University of Virginia Press.

Sheridan, Richard B. (1994). Sugar and Slavery: An Economic History of the British West Indies, 1623-1775. Kingston: Canoe Press.

Walvin, James. (2001). Black Ivory (2nd Edition). Oxford: Blackwell Publishers.

iI own I am shocked at the purchase of slaves [….]

I pity them greatly, but I must be mum,

For how could we do without sugar and rum?

Especially sugar, so needful we see

What, give up our dessert, our coffee and tea?

-Excerpt from ‘Pity for Poor Africans’ by William Cowper, published in 1788.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s