Nguyên Lạc – TIỄN BẠN 2

Lời cẩn báo:
Xin thưa: — Tính nhân bản là một thuộc tính của thơ hay, nước nào cũng có, chỉ có trước hay sau thôi. Cái hay, cái đẹp, nhân bản là tài sản chung của nhân loại; nó không cón riêng của tác giả khi đã được công bố cho công chúng. Những bài thơ Đường tôi phóng dịch vì lẽ nầy, chứ không phải vì “sính ngoại”, vi “đội Hán” hay vì muốn chứng tỏ ta đây “tót vời”, “riêng một góc trời” (tựa một bài nhạc). Hãy trân trọng cái hay, cái đẹp của tiền nhân, với điều kiện nó không phục vụ cho một ý đồ xấu. Tiền nhân chúng ta
cũng có những bài thơ rất hay tôi từng phóng dịch, thí dụ của Nguyễn Du. Có gì xin các cao nhân bỏ qua cho. Trân trong – Nguyên Lạc

***

Trong bài TIỄN BẠN 1 tôi có bàn sơ lược về bạn TRI KỶ, nay trong bài 2 tôi xin tóm lược lại để các bạn
chưa đọc bài 1 khỏi tốn thời giờ truy tìm.

Tiễn bạn ở đây theo ngu ý riêng tôi là tiễn bạn TRI ÂM, TRI KỶ, chứ không phải là bạn bình thường. Bạn
TRI ÂM, TRI KỶ rất khó tìm. Tôi xin mạn phép ghi ra vài dòng về các bạn này.

BẠN TRI ÂM TRI KỶ

1. Bạn Tri kỷ trong tiếng Anh là: Soulmate, Confidant
— Soulmate (noun): a person ideally suited to another as a close friend or romantic partner.
[Tạm chuyển ngữ: Một người hoàn toàn phù hợp (lý tưởng) với người khác như là một người bạn thân
hoặc người bạn tình lãng mạn]
— Confidant (noun): a person with whom one shares a secret or private matter, trusting them not to
repeat it to others.
[Tạm chuyển ngữ: Một người mà từ họ, ta chia sẻ một vấn đề bí mật hoặc riêng tư, tin tưởng họ không
kể lại những điều này với người khác]

2. Bạn Tri kỷ trong tiếng Việt (và Chinese) rộng nghĩa hơn
— Bạn Tri kỷ: Người hiểu được lòng mình, hiểu được tâm tình và hiểu được cảm giác, tư tưỡng, ngụ ý
và cả những điều mình chưa nói hẳn dĩ nhiên không phải đã dễ kiếm.
— Bạn Tri kỷ: Người thực sự có sự kết nối đặc biệt với bạn. Bạn luôn cảm thấy có mối liên hệ nào đó với
họ, đặc biệt là bạn khó kiềm chế được những rung động và cảm xúc của bản thân với họ. Hơn bất kỳ ai,
bạn luôn muốn được ở gần họ nhiều hơn, chia sẻ những điều bạn đang giấu kín với mọi người cho họ.
Đó là người duy nhất có thể giúp bạn mở lòng.
Bạn người tri kỷ giống như chiếc chìa khóa, mở ra những cảm xúc bí mật ẩn sâu bên trong tâm hồn bạn,
giúp bạn có được những thứ chân thật nhất trong cuộc đời này.

Bạn tri kỷ luôn là người hiểu ta nhất. Chỉ có người ấy mới biết được ta nghĩ gì, buồn gì, vui gì, thích gì,
ghét gì… dù ta không cần nói gì hết.
Bạn tri kỷ là người ta mong tìm đến nhất mỗi khi gặp chuyện khó khăn, đau khổ, bất hạnh… Và sau khi
được tâm sự, những muộn phiền ưu tư sẽ nguôi ngoai… ta bỗng thấy nhẹ lòng hơn.
3.
— Người tri kỷ – thường người lương thiện – rất hiếm, rất khó tìm nên ông Diogenes từng xách đèn đi
ngoài phố giữa ban ngày tìm.
Diogenes “người hoài nghi” (tiếng Hy Lạp: Διογένης ὁ Κυνικός, Diogenes ho Kunikos) là một nhà triết học
Hy Lạp và là một trong những người sáng lập nên trường phái triết học Hoài nghi. Còn được gọi là
Diogenes thành Sinope. ông được sinh ra tại Sinope (ngày nay là Sinop, Thổ Nhĩ Kỳ) trong năm 412
hoặc 404 TCN và qua đời tại Corinth năm 323 TCN – (Wikipedia)
Khi được hỏi làm gì đấy, ông trả lời: “Tôi đi tìm một người lương thiện.” Tương truyền ông chỉ gặp toàn
bọn bất lương và vô lại. [*]
— Bạn tri kỷ “cùng phái tính” đã quý, “khác phái tính” – Hồng nhan tri kỷ, Quân tử tri âm – càng hiếm quý
hơn, và thường dễ bị “vượt rào” phải không các bạn?
Có một tiền nhân (tôi quên tên) đã nói đại khái: “Có một người vợ yêu chưa đủ, cần nên có thêm một
bạn tri kỷ”; nữ càng quý (NL). Vì lập thuyết của Nho giáo phục vụ cho chế độ quân chủ phong kiến,
“Trọng Nam Khinh Nữ”, nên thường ai cũng nghĩ “tri kỷ khác phái” là Hồng Nhan Tri Kỷ. Sao không nghĩ
là Quân Tử Tri Âm? Người nữ cũng có quyền nghĩ: “Có được người chồng yêu chưa đủ, cần nên có
thêm một bạn tri kỷ”, Quân Tử Tri Âm càng tốt phải không?
4. Tri âm và Tri kỷ
a. Tri âm
Ai từng nghe qua sự tích Bá Nha – Tử Kỳ hẳn sẽ biết câu: “Cao sơn lưu thủy, tri kỷ khó tìm”. Đây là đôi
bạn Tri âm
Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ làm nghề đốn
củi (tiều phu).
Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Ðô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người
nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Ðại Phu.
Tử Kỳ, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn, gần núi Mã Yên, ở cửa sông Hán Dương, là một danh
sĩ ẩn dật, báo hiếu cha mẹ tuổi già nua, làm nghề đốn củi.
Một hôm, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Ðô nước Sở, vào triều kiến vua Sở trình quốc thư
và giải bày tình giao hiếu giữa hai nước, được vua Sở và quần thần thiết tiệc khoản đãi. Bá Nha nhơn
dịp nầy đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn.
Khi thuyền trở về đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu, gặp Tử Kỳ người hiểu rõ tiếng đàn
mình, Bá Nha sanh lòng cảm mến nên xin kết nghĩa anh em, để không phụ cái nghĩa TRI ÂM mà suốt
đời Bá Nha đi tìm chưa từng gặp.
Hai người kết làm anh em. Tử Kỳ nhỏ hơn Bá Nha 10 tuổi nên làm em. Khi phải chia tay, Bá Nha hẹn
ước Tử Kỳ đúng ngày Trung Thu năm sau, hai anh em sẽ hội ngộ nhau tại nơi nầy.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, gần tới ngày ước hẹn với Tử Kỳ, Tử Nha tâu xin vua Tấn cho nghỉ phép về
thăm quê nhà
Bá Nha thu xếp hành trang đến núi Mã Yên kịp ngày Trung Thu ước hẹn. Kìa là núi Mã Yên mờ mờ
sương lạnh, tịch mịch, nhưng không một bóng người. Bá Nha nghĩ thầm rằng năm trước nhờ tiếng đàn
mà gặp được tri âm, đêm nay ta phải đàn một khúc để gọi Tử Kỳ lại.
Sau khi đốt hương trầm, đem Dao cầm ra so dây, Bá Nha đặt hết lòng nhớ nhung của mình vào tiếng
đàn réo rắt. Nhưng sao nghe trong tiếng đàn lại có hơi ai oán. Bá Nha dừng tay suy nghĩ: – Cung
Thương có hơi ai oán thảm thê, ắt Tử Kỳ gặp nạn lớn. Sáng mai ta phải lên bờ dọ hỏi tin tức.
Biết ra Tử Kỳ bị bệnh mất rồi Bá Nha khóc nức nở. Khi đến phần mộ Tử Kỳ , Bá Nha sửa lại áo mũ, sụp

lạy. Lạy xong, Bá Nha gọi mang Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một
cách nghiêm trang, so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng. Tấu khúc
nhạc xong, Bá Nha phổ lời ai oán, thay lời ai điếu, vĩnh biệt bạn tri âm. Xong Bá Nha vái cây Dao cầm
một vái, tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ; đàn vỡ tan nát, trục ngọc phím
vàng rơi lả tả, rồi ca:
Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Ðàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?
Gió xuân khắp mặt bao bè bạn,
Muốn kiếm tri âm ôi khó thay!
(Viết theo Thư Viện Việt Nam)

b. Tri kỷ

Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.

Trên đồ sứ Trung Hoa ta thường thấy vẽ 7 ông cụ già ngồi trong rừng tre, kẻ đánh cờ, gẩy đàn, người
uống rượu, ngâm thơ. Đó là hình ảnh của Trúc Lâm Thất Hiền đời nhà Ngụy (220-264). Kê Khang là một
trong bảy người hiền này.
Kê Khang (223-262) là một người có khí tiết thanh khiết, giàu lòng nghĩa hiệp và cũng là người có biệt
tài trong các môn cầm, kỳ, thi, họa …
Kê Khang vốn họ Khuê, người đất Thượng Ngu, huyện Cối Kê (nay là huyện Thiện Hưng, tỉnh Chiết
Giang). Vì một sự thù oán nên ông dời về ở ẩn huyện Hoa Dương, tỉnh An Huy. Gần chỗ ông ở có núi
Kê Sơn nên lấy núi Kê làm họ.
Kê Khang cũng như 6 người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lão. Có kẻ nói: “Ba ngày
không đọc “Đạo Đức kinh” thì miệng thấy hôi”.
Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan để hưởng cảnh nhàn lúc về già. Từ quan, Kê Khang sống
một cuộc đời ẩn dật, ngày ngày ngao du sơn thủy, hái thuốc, vui say với vần thơ điệu đàn.
Lúc ấy ở huyện Đông Bình có người tên Lữ An, vì ngưỡng mộ danh tiếng của Kê Khang nên tìm đến ra
mắt. Hai người gặp nhau tâm đồng ý hiệp nên trở thành bạn tâm giao, tri kỷ.
Thời bấy giờ nhà Ngụy suy vi, Tư Mã Chiêu có ý muốn soán ngôi nên tìm mọi cách để trừ khử những kẻ
không theo mình. Lữ Tốn vốn là bộ hạ thân tín của Tư Mã Chiêu, cũng là anh họ của Lữ An, thấy vợ của
Lữ An xinh đẹp nên y có ý muốn chiếm đoạt. Y bắt Lữ An hạ ngục. Vì tình bạn tri kỷ, Kê Khang không sợ
lụy thân, đứng ra minh oan. Nhưng rồi cuối cùng Kê Khang cũng bị bọn quyền thần bắt giam, dựng tội
phản loạn, kết án tử hình chém ngay giữa chợ. Kê Khang chết vì bạn tâm giao, tri kỷ.
Kê Khang đàn rất hay, khúc “Quảng Lăng” do ông sáng tác khi đánh lên khúc đàn nghe lưu loát, thảnh
thoát như nước chảy (lưu thủy), mây bay (hành vân).
Trong “Đoạn trường tân thanh” của cụ Nguyễn Du, đoạn tả tiếng đàn của Kiều khi nàng gẩy cho Kim
Trọng nghe buổi sơ ngộ, có câu:
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.
(Viết theo Nguyễn Tử Quang)

Mỗi lần nghe đến cụm từ “khúc Quảng Lăng” là ta sẽ nhớ đến Kê Khang, một người chân chính, hết
lòng vì nghĩa bạn bè, chết vì người tri kỷ.
@. Theo Nguyên Lạc tôi, Bá Nha -Tử Kỳ chỉ là một truyền thuyết về tình bạn thông qua thẩm âm, hiểu
lòng qua tiếng nhạc; tình bạn loại nầy so với tình hết lòng vì “nghĩa bạn bè” của Kê Khang – cư xử nhau
hết tình, hết nghĩa, xem nhẹ cả mạng sống riêng mình – tôi trọng những người như Kê Khang hơn.
Tri Âm đã khó kiếm, Tri Kỷ càng khó tìm.

5. Xin được ghi ra đây ý nghĩ riêng của tôi về việc giao tiếp:
Trong việc giao tiếp ở đời, nên đối xử nhau bằng “Tình đáp tình”, đừng xem nhau ta / địch: – Trao tha
nhân ân tình thì sẽ nhận lại được ân tình. Giống như quả bóng ném vào bức tường sẽ dội ngược lại,
ném mạnh thì dội mạnh. Ném sân si vào “bức tường đời” thì nhận lại được sân si thôi!, nhân nào quả
nấy như nhà Phật đã nói. Trân trọng yêu thương cuộc đời thì đời sẽ trân trọng yêu thương lại ta.

BÀI THƠ TIỄN BẠN

Bài thơ tiễn bạn của Cao Thích: BIỆT ĐỔNG ĐẠI kỳ 2
1. Cao Thích
Cao Thích (chữ Hán: 高適, 702-765), tự Đạt Phu (達夫); là nhà thơ thời Thịnh Đường ở Trung Quốc.
Ông cùng với Sầm Than, Vương Xương Linh, là ba gương mặt tiêu biểu trong phái thơ biên tái – Thơ
Biên tái: có thể hiểu nôm na đó là những bài thơ sáng tác trong hoàn cảnh chiến tranh, loạn lạc. khi mà
những người chiến sĩ ra trận, tâm trạng của họ nhớ về quê hương, nhớ về người thân hay những ý chí
sục sôi quyết lập công nơi biên ái.
Cao Thích 高適 (702-765) tự Đạt Phu 達夫, người Thương Châu (nay là tỉnh Hà Bắc,Trung Quốc), trong
một gia đình nghèo. Năm Khai Nguyên thứ 22 (đời Đường Huyền Tông), ông theo giúp Tín An Vương
lên biên tái đánh giặc Khiết Đan, sau đó lại đi du ngoạn ở vùng Hà Nam. Cho đến năm 40 tuổi, Cao
Thích còn lận đận, sống đời áo vải lang thang đây đó. Sau đó được người cất nhắc, thi đỗ hữu đạo quan
và được lên làm quan ở Trường An. Ông được giữ chức huyện uý. Tâm tính ông không hợp với chức
này, thường làm thơ than thở. Sau đó thăng Tiết độ sứ ở Hà Tây. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, ông tắt
đường đến với Huyền Tông ở Hà Trì, dâng thư nói về nguyên nhân thất bại ở cửa ải Đồng Quan được
làm Gián nghị đại phu. Sau có công đánh dẹp Vĩnh Vương Lý Lân, được Đường Túc Tông thăng tước
hầu ở Bột Hải. [Wikipedia]

2. Nguyên tác bài thơ:

別董大其二
千里黃雲白日曛,
北風吹雁雪紛紛。
莫愁前路無知己,
天下誰人不識君。
.
BIỆT ĐỔNG ĐẠI kỳ 2
Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân
Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ hà nhân bất thức quân?
(Cao Thích)

3. Dịch nghĩa

Chia tay Đổng-Đại kỳ 2

Ngàn dặm mây vàng, mặt trời đã xế chiều
Gió bấc thổi, tuyết rơi tả tơi, chim nhạn bay đi lệch phương hướng
Chớ buồn con đường phía trước, nơi đất khách không có người tri kỷ
Vì trong thiên hạ hỏi xem có ai là người không biết bạn?

Ý thơ:
– Tiển bạn ra đi trong môṭ chiều, có mây vàng sáng rực – mây vàng trời gió, mây đỏ là mưa – Dự báo
thời tiết khắc nghiêṭ – Y chang, tuyết rơi và gió bấc lạnh thổi về rất mạnh,lòng e ngại . Nhạn còn bay
chêc̣ h đường huống chi người nghệsĩ như anh . Liếc nhìn ta hiểu bạn không lo vì thời tiết, nhưng sợ cô
đơn nới xứ người – Ta bảo đừng lo trên đường đi đến đích (hướng phía trước) không có người tri kỷ tri
âm ,bởi người trong thiên hạ ai mà người không biêt đến tên bạn (ý Laiquangnam)

4. Dịch thơ

Chia tay Đổng-Đại
Mười dặm vàng pha bóng nhật vân,
Nhạn xuôi gió bấc tuyết bay nhanh
Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ!
Thiên hạ ai người chẳng biết anh!
(Bản dịch của Tản Đà)

d. Phóng dịch

Nguyên Lạc phóng dịch

Tương biệt với Đổng Đại

Tiễn bạn mây vàng chiều cay mắt
Bấc cuồng tuyết đồ nhạn lệch phương

Buồn chi hướng trước không tri kỷ?
Thiên hạ tên người đã tỏa hương![*]
………..
[*] hữu xạ tự nhiên hương
***
Qua trên ta thấy tình bạn rất đẹp của các thi nhân, đầy nhân bản.

Nguyên Lạc
…………………
Tham khảo: Thư Viện Việt Nam, Nguyễn Tử Quang, Laiquangnam, Thi Viện, Vũ Thị Minh Huyền,
Wikipedia…
Ghi chú:
[2] Theo sử gia Plutarch, khi Alexander Đại Đế tới Corinth, những người đứng đầu thành phố và các triết
gia đã lũ lượt kéo nhau tới yết kiến Alexander, chỉ riêng Diogenes vắng mặt. Alexander bèn đích thân đi
tìm Diogenes, và thấy ông này đang nằm dài sưởi nắng bên cái thùng ông dùng làm chỗ ngủ. Khi
Alexander Đại Đế hỏi: “Hỡi nhà hiền triết, ngươi có muốn ta làm gì giúp ngươi không?”, Diogenes đã trả
lời: “Ngài hãy đứng tránh sang một bên để khỏi che lấp ánh mặt trời của tôi.” Các triết gia và đám tùy
tùng của Alexander Đại Đế nghe vậy cười phá lên, trong khi chính Alexander Đại Đế nói: “Nếu ta không
phải là Alexander thì ta đã là Diogenes.” (theo Đỗ Đình Đăng)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s