Nguyễn Văn Nghệ – TRẬN MƯA TẦM TÃ Ở KHÁNH HÒA ĐƯỢC KHẮC GHI VÀO BIA ĐÁ NĂM 1873

Mưa tầm tã ở Nha Trang vào sáng Chúa nhật 18/11/2018

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho biết vào khoảng 4 giờ sáng ngày 18/11/2018 bão Số 8 (tên quốc tế là Toraji) đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới. Vị trí tâm áp thấp cách Phan Rang (Ninh Thuận) khoảng 130 km về phía đông nam, cách La Gi (Bình Thuận) khoảng 240 km về phía đông đông bắc. Sức gió mạnh cấp 7 (50-60 km/h), giật cấp 9(1). Từ trưa ngày 17/11/2018 do ảnh hưởng của bão Toraji, ở vùng đất Khánh Hòa bắt đầu có mưa. Đến tối ngày 17 thì mưa nặng hạt. Sang ngày 18/11/2018 vào lúc 7 giờ trời bắt đầu mưa tầm tã, mưa xối xả, mưa như trút. Nói theo như dân gian gọi là mưa vuốt mặt không kịp; mưa như cầm chĩnh đổ. Đường phố Nha Trang ngập tràn nước.

Đoạn đường Hai Tháng Tư ngang qua Làng SOS (Vĩnh Hải), chợ Vĩnh Thọ (Chợ Bàu), khúc cua đường Phạm Văn Đồng kế đồi Lasan ngập sâu, xe máy chạy qua bị chết máy. Nước mưa từ các con hẻm nhỏ đổ ra các con đường Củ Chi, Bắc Sơn, Đặng Tất chảy ra hướng biển như thác lũ. Ga Nha Trang ngập tràn, nước chảy ngược lên Mả Vòng… Mưa đến khoảng 9 giờ thì nhỏ dần. Tổng lượng mưa trong hai ngày 17 và 18 ở Khánh Hòa đo được 80-200mm, riêng Nha Trang lượng mưa đạt 380mm. Trận mưa sáng 18/11/2018 đã làm sạt lở núi ở xã Phước Đồng và phường Vĩnh Hòa: “ Theo cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa, 18 người tử vong và 3 người mất tích ở thành phố Nha Trang trong trận mưa ngày 18/11 đều do sạt lở đất từ trên núi xuống”(2).

Ai cũng lắc đầu và nói : Từ xưa đến nay chưa thấy trận mưa nào chỉ diễn ra trong thời gian ngắn mà lượng nước đổ xuống quá nhiều như vậy!

Trong khoảng hai, ba thập niên qua cứ đến mùa mưa là xảy ra sạt lở đất ven đồi núi. Nhiều vụ sạt lở nghiêm trọng vùi lấp nhà cửa, tính mạng tài sản của người dân. Có nhiều nguyên nhân gây ra sạt lở nhưng có một nguyên nhân được ít người nhắc đến là do chính con người “chặt chân” các quả đồi, trái núi để làm đường, làm nhà. Thiên nhiên có thù oán gì với con người mà ít khi xảy ra sạt lở ở những quả đồi, trái núi còn nguyên vẹn không bị “chặt chân” mà cứ nhằm những quả đồi, trái núi có dân cư sinh sống hoặc con đường lớn đi qua để gây sạt lở?

Do hiếm mặt bằng xây dựng nhà cửa nên để mở rộng diện tích tạo mặt bằng người dân đã thuê máy múc múc chân núi để có mặt bằng xây dựng. Việc làm này đã tạo thêm độ cao của ta luy dương, rất dễ gây sạt lở. Khi múc chân núi lúc trời nắng đất đá hãy còn nguyên khối nhưng qua một thời gian sức nặng từ phần trên đè xuống, thêm phần nước ngầm chảy khiến chân lớp thực bì lỏng ra và tất nhiên trụt xuống theo lẽ tự nhiên.

Các cấp chính quyền có biết việc “chặt chân” đồi núi là nguy hiểm không? Xin thưa là dư sức biết nhưng do nhiều lý do chính quyền đã giả ngơ rồi từ từ hợp thức hóa diện tích đồi núi bị “chặt chân” ấy.

Cách nay gần 150 năm cũng có một trận mưa tầm tã nhưng lại là mưa “hồng ân” và trận mưa ấy được khắc ghi vào bia đá. Bia đá ấy được khắc năm 1873 và được dựng tại thôn Tân Phú (nay là thôn Vạn Thuận, xã Ninh Ích. Ngay tường bên trái Ủy ban Nhân dân xã Ninh Ích, Ninh Hòa có con đường bê tông từ Quốc lộ I đi Ba Hồ, theo con đường bê tông ấy đi khoảng 100 mét và vừa băng qua đường sắt, nhìn bên tay trái sát đường bê tông là thấy tấm bia ấy). Trước đây bia đá được dựng cách được ray xe lửa không bao xa, nay dời lên khu trước mặt ngôi miếu đổ nát.

Di tích miếu Đá Đen, dấu ấn về Bình Tây Phó Nguyên soái Phan Trung
Tấm bia ký do Bình Tây Phó Nguyên soái Phan Trung soạn

Nội dung bia đá

Nội dung tấm bia đá đã được ông Lê Đình Hùng, Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế phiên dịch (không chú thích). Nội dung văn bia:

Thiết văn, thần y nhân sự, thần mạc tiên ư vụ dân(3). Thị cố, cổ chi Tiên vương thành dân nhi hậu trí lực ư thần. Nhiên diệc hữu sậu hữu linh ứng bất đắc bất sậu vi trí lực dĩ thành dân dã. Dư tự Bính Thìn(4) phụng chuẩn Khánh hạt tụ khẩn, dân tuy hữu ấp lý nhi gia thất vị ninh, điền tuy hữu thiên mạch nhi thự vũ vị thuận. Kim tuế tự hạ tồ thu phiền thự bất tán, nông bệnh, dân khốn. Dư tâm nhiệt tương đảo, hốt tưởng Tân Phú(5) sơn cước uất hữu linh khí Thiên Y A Na Thánh Phi Chúa Ngọc(6) chung linh tư thổ. Nãi cung nghệ cấu tịnh xá thiết Thánh Phi thần vị, trai giới, cụ hương hoa quả bái, chúc viết: Hạn Bạt(7) vi tai dân mệnh cơ tuyệt vọng. Thánh Phi thấu đạt, Thiên cung tứ vũ, nguyện vu thử lập từ. Dực nhật sơn đầu hữu phiến hắc vân nga bố chí xá đại vũ khoảnh lập chỉ phục triển thành liên đảo chúc viết. Túng huyền lệnh ứng nhĩ vọng Thánh Phi. Tái thỉnh nhất nhật bàng đà(8) chí đệ tam nhật âm vân( vết đạn mất 3 chữ) Khánh hạt quân triêm như chúc chỉ dân tiện chi. Dư cù nhiên viết si tâm mộng tưởng bất đồ hữu thử linh dị. Tằng vân thử xứ hữu quá chi(vết đạn mất 3 chữ) kính, triếp bệnh đảo nãi an, phủ cân bất cảm cận. Cố thường kiến chúng thụ thương tú, kỳ thạch ban hắc ẩn kiến như hùng bi tôn phục hoành ải đại lộ, tục danh Hắc Thạch xứ dã. Toại suất điền tốt tiễn lộ bang chi kinh trăn, hỏa chi khai thúy vi chi mậu. Mộc trạch kỳ gia sổ châu lưu chi chúng kỳ tất lộ sơ khoáng ngu mục. Tiểu hải kiến bích oanh kỳ tiền tằng loan ủng, thúy tủng kỳ hậu tả hữu sơn thế hồi hoành củng ấp, cực hữu thần thú. Nãi vu cao bình lập tọa Khôn hướng Cấn(9) bốc chi cát, kiến Thánh Phi từ yên(10). Phù, Thánh Phi chi từ thủy vu Cù Huân cổ tháp, kỳ hậu Thuận Khánh công tư đa kiến từ vũ, công tắc quốc tế(11), tư tắc xã dân hội tế, hương hỏa biến vu quốc trung. Thánh Phi chung linh cố sự Phan Lương Khê(12) tiên sinh cổ tháp ký tường hỹ. Tư từ dã đặc dĩ chí dĩ, kiến Thánh Phi linh ứng chi tích thả vi tân ấp đảo vũ kỳ tình chi địa, thủy chi vĩnh cửu dĩ hậu dân sinh sử nhân hiển nhiên tri sở kính viễn, thứ cơ thành dân trí lực chi nghĩa hoặc thiểu đắc yên. Phi dư cảm hiếu sự đã nhân thư dĩ ký kỳ sự.

Tự Đức nhị thập lục niên chánh nguyệt trung hoán cung tuyên.

Hàn lâm viện Thị độc sung Điển nông sứ Phan Trung cẩn soạn.

Quảng Nam Hải phòng(13) Viên ngoại lang Nguyễn Hữu Hoán lập thạch.

Dịch nghĩa:

Trộm nghe, thần nương tựa vào người, thờ phụng thần là việc không có gì trước hơn việc lo cho dân vậy, Cho nên, bậc tiên vương thời xưa trước lo việc thành lập dân, sau mới hết sức lo việc cho thần. Do đó, chợt có linh ứng thì không thể không nhanh chóng ra sức để tạo thành tựu cho dân vậy. Ta từ năm Bính Thìn vâng mệnh tụ dân khai khẩn tại Khánh hạt. Dân tuy đã có làng xóm mà nhà cửa chưa yên. Ruộng tuy đầy đủ bốn bề mà nắng mưa chưa thuận. Năm nay, từ hạ đến thu nắng nóng kéo dài không dứt, nông bệnh dân khốn. Ta nóng lòng muốn làm lễ cầu đảo thì bất chợt nghĩ đến chân núi Tân Phú là nơi có linh khí của Thiên Y A Na Thánh Phi Chúa Ngọc hun đúc hội tụ. Bèn đích thân đến nơi để làm tịnh xá, thiết thần vị của Thánh Phi, trai giới, sắm đủ hương hoa lễ bái, khấn rằng: “ Nắng hạn làm tai họa, dân tuyệt đường sống, mong Thánh Phi thấu đạt thiên cung ban mưa. Nguyện nay mai sẽ lấy chỗ này để làm đền thờ Thánh Phi”. Bất chợt trên núi xuất hiện một đám mây đen bay đến tịnh xá trút mưa xuống trong chốc lát rồi tạnh. Trước sự linh ứng đó, ta thành tâm khấn nguyện liên tiếp rằng: “ Trời cao linh ứng, mong Thánh Phi thấu cho”. Khấn nguyện như vậy được một ngày đêm thì mưa rơi tầm tã, đến ngày thư ba mây mù tan mưa tạnh. Khánh hạt đều được mưa như đã nguyện ước, tiện lợi cho dân vô cùng. Ta bỗng giật mình nghĩ rằng tâm si mộng tưởng không thể hiểu nổi điều linh dị này. Từng nghe nơi này Thánh Phi đã từng ghé qua nên được mọi người tôn kính. Nếu ai bị bệnh cầu đảo sẽ an. Nơi đây búa rìu (thợ rừng) không đám phạm đến, do đó thường thấy nhiều cây cối xanh tốt. Những khối đá lạ loang lổ sắc đen, ẩn hiện như gấu beo đang ngồi phục ngang ải của đại lộ, nơi này tên tục gọi là xứ Đá Đen. Bèn cho nông binh phát dọn bụi gai hai bên đường, dùng lửa đốt bớt cây cỏ rậm rạp, chọn một số cây to để lưu lại vẻ đẹp. Vùng này trở nên thoáng đãng đẹp mắt. Biển nhỏ sắc biếc bao phía trước(14), núi xanh cao tầng ôm phía sau, tả hữu sơn thế vòng ôm bao bọc, đúng là cảnh thú thần tiên. Bèn chọn chỗ cao bằng, lập tọa Khôn hướng Cấn, bói xem thấy tốt liền xây đền thờ Thánh Phi. Ôi, đền thờ của Thánh Phi nguyên thủy là ngôi cổ tháp ở Cù Huân. Sau này, ở Thuận Khánh xây dựng nhiều đền thờ công và tư. Công thì quốc tế, tư thì xã dân hội tế, việc thờ cúng lan truyền khắp nơi trong nước. Chuyện xưa về sự linh ứng của Thánh Phi đã có Phan Lương Khê tiên sinh ghi lại tường tận nơi cổ tháp. Còn ngôi đền thờ này, đặc biệt ghi lại để mọi người thấy được dấu tích linh ứng của Thánh Phi. Đồng thời, vì ấp mới mà cầu nguyện tạnh nơi đất này được lưu lại vĩnh cửu để thuần hậu nhân sinh khiến cho dân biết để tôn kính về sau. Tiếp đến, dân thành thì ra sức vì việc nghĩa hoặc có được chút ít chăng? Không phải vì ta hiếu sự mà viết để ghi lại sự việc này.

Kính khắc vào trung tuần tháng giêng, niên hiệu Tự Đức thứ 26 (15).

Hàn lâm viện Thị độc sung Điển nông sứ Phan Trung kính soạn.

Quảng Nam Hải phòng Viên ngoại lang Nguyễn Hữu Hoán dựng bia

Trước đó vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 24 ( 1871), Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ sung Điển nông sứ Phan Trung đã cùng với 7 vị quan khác ( Thuận Khánh Tuần phủ Nguyễn Oai; Lãnh Bình Thuận Bố chánh sứ Trần Điển; Lãnh Bình Thuận Án sát sứ Tôn Thất Soạn; Khâm phái Tùy biện Lễ khoa cấp sự trung Nguyễn Duy Chí; Lãnh Công bộ Lang trung Nguyễn Duy Doãn; Khâm sai Hồng lô tự Thiếu khanh, Biện lý Công bộ Bùi Thái Bút và Hàn lâm viện Thị độc sung Bình Thuận Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương) đồng bái soạn văn bia tạm gọi là “ Thiên hạ danh sơn” (lấy 4 chữ đầu tiên của văn bia làm tiêu đề) dựng tại Tháp Bà, Nha Trang(16).

Đôi nét về Điển nông sứ Phan Trung- tác giả bài văn bia xứ Đá Đen

Phan Trung sinh năm 1814 quê ở xã Tấn Lộc huyện An Phước, tỉnh Bình Thuận. Năm 1841 ông dự thi Hương tại trường thi Gia Định với danh tánh là Phan Cư Chánh. Ông đỗ cử nhân với vị thứ 8/15(17).

Trước khi theo đoàn quân của Trần Bá Lộc tiến ra Bình Thuận và Khánh Hòa vào năm 1885 để dẹp phong trào Cần vương, ông Étienne Aymonier(26/2/1844- 21/1/1929) đã nghiên cứu nhiều về nhân vật Phan Trung nên có ghi chép về Phan Trung: “ Né à Tấn Lộc dans le phủ de Ninh Thuận, près du Chợ Dinh sur la rivière du Man Rang, cet home fut d’abord huyện de Tuy Phong au Bình Thuận. Il quitta cette place pour aller se joinder au quản Định qu’il seconda avec ardeur à Gò Công”(18) (Sinh ở làng Tấn Lộc trong phủ Ninh Thuận, gần chợ Dinh trên bờ sông Man Rang[ Phan Rang], người ấy ban đầu là ông huyện Tuy Phong ở Bình Thuận. Ông ta rời nhiệm sở này để đến theo phe Quản Định, hăng hái giúp đỡ ông này ở Gò Công).

Phan Trung có hiệu là Bút Phong, tự là Tử Đơn. Sau khi đỗ cử nhân ông được bổ làm Tri huyện, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nhưng do việc tranh tụng nên bị cách chức(19). Tháng 4 năm Tân Dậu (1861) hai tỉnh Gia Định, Định Tường bị thực dân Pháp xâm chiếm, Vua Tự Đức “cho chiêu mộ lại dịch sĩ thứ từ Thừa Thiên đến Biên Hòa, ai là người dũng cảm có thể sung làm quân chiến tâm được thì dồn thành đội ngũ đến thẳng Biên Hòa đóng đồn” và “viên bị cách là Phan Trung (trước tên Chánh) cũng cho đi ngựa trạm đến nơi quân thứ theo làm việc”(20). Trong 2 tác phẩm Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận (146 trang) và Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa(68 trang), tác giả Étienne Aymonier gọi Phan Trung là Huyện Chánh, Trương Định là Quản Định.

Tháng 8 năm Tân Dậu (1861) viên Tùy phái là Phan Trung chiêu mộ những thủ dõng thành lập được 2 cơ (khoảng 1000 người) cùng với Lãnh binh Gia Định là Trương Định theo quân đi đánh dẹp giặc Pháp, được khai phục quan tịch và đã thăng Thị giảng học sĩ(21).

Trong thời gian Phan Trung theo Trương Định chống Pháp, cụ Phạm Phú Thứ có bài thơ “Ký Phan Tử Đơn” (Gởi Phan Tử Đơn): “ Tang bồng sơ chí khởi mưu thân/ Tu mấn kinh sương vấn nhạn thần/ Hương chử thu lai hàn sự trọng/ Lục lâm hồi thủ chuyển liên nhân” ( Chí tang bồng há vị mưu thân/ Râu tóc pha sương hỏi nhạn thần/ Thu tới sông Hương trời lạnh buốt/ Rừng xanh ngoảnh lại luống thương nhân). Cuối bài thơ có câu chú: “ Phan tằng hiệu Lục Lâm anh hùng Bình Tây phó tướng quân” (Phan từng có hiệu là Anh hùng rừng xanh Bình Tây phó tướng quân)(22). Phan Trung cùng với Bình Tây Đại Nguyên soái là Trương Định chọn “Đám lá tối trời”(23) ở Gò công làm đại bản doanh.

Tháng giêng năm Ất Sửu (1865) Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Phan Trung (nguyên Tri huyện bị cách, lại được khởi phục), năm trước chiêu mộ quân nghĩa dung được 1000 người, dồn thành 2 cơ, cùng với bọn Trương Định theo quân đi đánh dẹp. Từ khi hòa nghị thành, còn ra vào các địa phận rừng rú ở Gia Định, Định Tường và Biên Hòa, đánh úp giết người Phú và lính Ma tà, nên người Phú ghét, cho là bọn giặc. Tháng ấy, đem quân đi tàu thủy vào cửa biển Phan Rang, tỉnh Bình Thuận (ở ngoài cửa biển Phan Rang, là quê quán của Phan Trung) dò xét, người trinh thám của Phú lại yêu cầu tỉnh Bình Thuận bắt giao cho

Vua nghe tin báo, xuống Dụ sai Nguyễn Hữu Cơ tùy liệu châm chước đáp lại, để dứt cái nghi ngờ của người Phú. Lại sức cho Phan Trung phải rủ nhau lánh xa đi, để lưu dùng sau này” (24).

Aymonier ghi về Phan Trung sau khi Trương Định chết: “ Après la mort de son chef, reconnaissant l’inutilité de ses efforts pour recouvrer Saigon, il voulut au moins oppose une barrière aux envahissements ultérieurs des diables d’occident; et il se fit délivrer par la cour des pouvoirs à peu près illimités pour créer des confins militaires, occupier les terrains non cultivés ou non portés sur les registres, enrôler la population non inscrite des villages, fonder de postes sur les montagnes et accueillir les nombreux patriots de la Cochinchine francaise, qui, selon ses prévisions, fuiraient le joug abhorré des Francais pour se réfugier au Bình Thuận”(25) (Sau khi chủ tướng của ông ta chết, biết rằng cố gắng lấy lại Sài Gòn là vô ích, ông ta muốn ít ra là thiết lập hàng rào ngăn chặn những cuộc xâm lăng về sau của bọn quỷ phương Tây; và ông ta xin triều đình cấp cho những quyền lực gần như vô giới hạn để mở những mặt trận quân sự, chiếm giữ những khu đất chưa trồng trọt, không có ghi trên sổ sách, trưng mộ dân chúng đăng ký ghi vào sổ thành những làng xóm, lập ra những trạm gác trên những núi và thu thập những người yêu nước ở vùng Nam Kỳ thuộc Pháp, những người này theo ước lượng ông ta sẽ trốn chạy cái ách gớm ghiếc của người Pháp để trốn đến tỉnh Bình Thuận)

Sau khi vua Tự Đức sức cho Phan Trung “phải rủ nhau lánh xa đi, để lưu dùng sau này” và ông đã lui ra Bình Thuận và tung tin là Huyện Chánh đã chết và đã chôn: “ Comme de juste, il se fit passer à Saigon pour mort, après sa retraite definitive au Bình Thuận. Il se fit donner par la cour le titre de Điển Nông “ défricheur de champs”, et aussi le titre personnel de Thị Độc. Défense de parler du huyện Chánh mort et enterré”(26)(Kịp lúc đó, ông ấy làm cho người ta tưởng là mình đi Sài Gòn và chết ở đó, sau khi ông rút ra Bình Thuận, ông được triều đình ban cho chức Điển Nông “tức là khai khẩn đồng ruộng” và hàm là Thị Độc. Cấm không được nhắc đến tên Huyện Chánh, đã chết và đã được an táng).

Phan Trung đã tung tin là ông đã chết và đã được an táng để lui về hậu cứ hoạt động. Trong tác phẩm “ Gương sáng ngàn đời” của Nhà xuất bản Tổng hợp Tiền Giang, 1990, trang 68-69, nhà nghiên cứu Huỳnh Lứa do chưa bao giờ biết lệnh của vua Tự Đức buộc Phan Trung “phải rủ nhau lánh xa đi, để lưu dùng sau này” nên đã mạt sát Phan Trung là một kẻ “hám danh, hám lợi” rồi vu khống rằng “đã ra hàng giặc”(27).

Phan Trung đã ẩn tránh ở Bình Thuận và thành lập hộ Điển Nông mà đa số là dân Nam Kỳ tỵ địa và ông giữ chức Điển nông sứ: “ Tous les fuyards de l’occupation francaise appelés ngãi sĩ ou Nam trung”(28) (Tất cả những người trốn chạy sự xâm chiếm của nước Pháp được gọi là ngãi sĩ[ nghĩa sĩ] hay là Nam Trung). Chính quyền Pháp coi Phan Trung là kẻ thù nguy hiểm: “Une corporation d’annamites qui n’a rien de commun avec les chrétiens, celle des Hộ Mộ ou Hộ Điển Nông “les défricheurs de champs” mérite une etude special. Nous retrouverons dans les provinces du Khánh Hòa et du Phú Yên, cette plaie qui fut la creation de l’un des plus ardents ennemis de la France, le Huyện Chánh, premier lieutenant de notre adversaire acharné de 1860-1862, du Quản Định”(29)( Một công ty của người An Nam không có chung cùng gì với người Công giáo, đó là công ty của những người Hộ Mộ hay Hộ Điển Nông “tức là khai phá đất” đáng cho ta nghiên cứu đặc biệt. Chúng ta sẽ thấy lại ở trong những tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, cái vết lở lói này chính là sự sáng tạo của một trong những kẻ thù hăng say của nước Pháp, tức Huyện Chánh, phụ tá thứ nhất của đối thủ quyết liệt với chúng ta năm 1860-1862 của Quản Định). Ngoài ra chính quyền Pháp còn cho biết: “ Dans notre étude sur le Bình Thuận, nous avons vu que le Hộ Điển Nông fut fondé, après l’écrasement des insurgés de la Cochinchine, par le Huyện Chánh, connu ici sous le nom de Thị Độc”(30) ( Trong bản nghiên cứu về Bình Thuận của chúng tôi, ta đã thấy Hộ Điển Nông được thành lập sau khi những nổi loạn ở Nam Kỳ bị giẫm nát, do nơi Huyện Chánh ở đây được biết dưới tên Thị Độc)

Tháng 9 năm Ất Sửu (1865) Thị độc học sĩ Phan Trung theo lời dụ tới Kinh (Tháng 6 năm ấy, cho vời Phan Trung vào Kinh)(31)

Tháng 8 năm Bính Dần (1866): Tướng nước Phú Lãng Sa đưa thư đến nói: Quan tỉnh Bình Thuận dung cho lũ côn đồ ở nơi biên giới, nói thác là làm đồn điền, xin triều đình nghĩ tính chước lượng, khỏi sinh lo về sau. Quan viện Cơ mật tâu nói: Đồn điền ở Bình Thuận bắt đầu tụ tập có hơn 500 người, đều là mộ nghĩa ở Nam Kỳ và những dân trốn tránh còn sót của 3 tỉnh, người Pháp thấy hình dáng sinh ngờ, cũng là lý thế phải đến thế, nhưng đại ý chỉ không muốn cho ở gần nơi chúng cai quản mà thôi, vả lại Phan Trung và các người mộ nghĩa, nguyên là thầy trò khi trước đã bị người Pháp biết rõ, để ở đấy cũng có sự bất tiện, xin sai Phan Trung đem ngay những người đầu mục có tên trong đám mộ nghĩa, dời đến chỗ đất bỏ hoang ở các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, khai khẩn cày cấy là tiện. Vua y lời tâu ấy, bèn sai cấp ấn “Khâm phái quan phòng” cho Phan Trung đem đi để mộ dân khai khẩn. Vua dụ rằng: Lũ ngươi hết lòng làm việc cho ổn thỏa, chớ để có điều tiếng sinh ra ngờ gièm, là trung hiếu vẹn cả hai, tấm thân hữu dụng, nên khéo giữ gìn để đợi, triều đình đâu nỡ bỏ đi”(32).

Do sức ép từ phía thực dân Pháp, nên vua Tự Đức chuyển ông ra Khánh Hòa và giữ chức Điển nông sứ Khánh Hòa. Ông đã lập ra xứ Đồng Châu gồm những người dân tỵ địa khỏi Nam Kỳ và những người ấy gọi là “ ngãi sĩ” hay là “ Nam Trung”: “ On peut citer entre autres, les champs du village de Đồng Châu, au Sud Est de Nha Trang, dans le voisinage de Đồng Bò, défrichés par les condamnés, avec les fonds du gouvernement annamite, sous la direction du Thị Độc et de ses lieutenants”(33) (Ngoài ra có thể kể thêm cánh đồng làng Đồng Châu, phía Đông Nam Nha Trang, gần Đồng Bò do các tù nhân khai phá ra với tiền của chính quyền An Nam ưới sự điều khiển của ông Thị Độc và các phụ tá).

Cánh đồng Đồng Châu thuộc làng Phước Hải. Trên đường từ Nha Trang lên Thành về bên tay trái có ngôi nhà số 221 đường 23 Tháng 10 có 4 chữ quốc ngữ đắp bằng xi măng trước nhà :“Nam Trung từ đường”. Đó chính là ngôi từ đường của những người Nam Kỳ tỵ địa ra Khánh Hòa lập nên xứ Đồng Châu

Tháng 6 năm Kỷ Mão (1879): Khi ấy Thị giảng Học sĩ sung Điển nông sứ Khánh Hòa là Phan Trung, việc chúc hỗ xong, chuẩn cho hàm Tả thị lang bộ Hộ vẫn sung chức cũ.

Dụ rằng: Phan Trung có tiếng là người khảng khái, công khó nhọc cũ đáng ghi, trung nghĩa gốc ở tính trời, há vì xa xôi mà quên báo ân. Nay về chiêm bái, trông thấy mặt vẫn khen tấm lòng, công không thành nhưng tiết đáng chuộng, tuổi tuy già nhưng chí chưa suy, khen người trước khuyên người sau, càng nên thăng thưởng, người tầm thường chớ cho là già mà coi thường…”(34)

Qua những lời nhận xét của vua Tự Đức cho ta thấy Phan Trung là một con người hết lòng tận tụy vì dân vì nước.

Năm đầu Kiến Phúc (1884) vì tuổi già xin về nghỉ rồi mất, thọ 71 tuổi(35). Một thông tin sai lạc vẫn còn lưu truyền trong nhân dân là bên vệ đường Quốc lộ I giữa hai cầu Suối Giữa (Lý trình: Km 1513+374) và cầu Suối Hinh (Lý trình: Km 1513+ 713) có một ngôi mộ cổ, đó chính là mộ của Điển nông sứ Phan Trung. Nhiều bài viết cho rằng: Phan Trung có một người cháu ruột tên là Phan Liền tự là Lành đã hưởng ứng chiếu Cần vương, lãnh đạo nhóm nghĩa quân kháng chiến tại phủ Ninh Thuận, đặt căn cứ tại Hòn Bà và vùng rừng Mông Đức (Ninh Phước) đã nhiều lần đem quân đánh quân Pháp. Do việc này, quan lại địa phương đã sớ tấu về Huế hặc tội ông, nên đã triệu ông về Kinh để thọ hình. Trên đường về Kinh ông đã từ trần tại Ba Ngòi và an táng tại Ba Ngòi(36)

Năm 1885 trên đường đi đánh dẹp phong trào Cần vương cùng Trần Bá Lộc, ông Aymonier do nghe người dân kể nên ông cũng khẳng định ngôi mộ cổ ở Ba Ngòi là của Phan Trung: “ Le troisième pont passé, on attaint le trạm de Hòa Quân, le premier de la province, à Ba Ngòi, village d’un millier d’âmes, le plus important de la region de Cam Linh. On y Remarque le tombeau du fondateur des Điển Nông, l’ông Thị Độc”(37)( Qua khỏi cầu thứ 3, người ta đến trạm Hòa Quân, trạm đầu tiên của tỉnh, làng Ba Ngòi độ 1000 dân, lớn thứ nhất vùng Cam Linh. Thấy ở đó có mộ ông Điển Nông cũng là ông Thị Độc)

Ngôi mộ cổ tại Ba Ngòi có dòng chữ Hán: Sắc cố Minh nghĩa công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Chưởng vệ sự Chưởng cơ Tống quý hầu chi mộ.

Phan Trung chưa hề giữ những chức vụ như ghi trên bia ngôi mộ cổ. Ngôi mộ cổ này là của Tống Văn Khôi, tướng của Chúa Nguyễn, đánh nhau với quân Tây Sơn tại Tam Độc (Ba Ngòi) và tử trận tại đây vào năm Ất Mùi (1775)(38).

Theo Đại Nam liệt truyện thì Phan Trung mất lúc 71 tuổi. Aymonier cho biết chính xác ngày mất của Phan Trung: “ Enfin, l’ex Huyện Chánh mourut vers le 20 décembre 1884, à sa residence habituelle au Khánh Hòa, sur la baie de Ninh Hòa ou Bình Cang. Il s’est fait enterer à Ba Ngòi, dans la baie de Cam Ranh”(39) (Sau cùng cựu Huyện Chánh chết vào ngày 20 tháng chạp năm 1884, ở tại trú sở ở Khánh Hòa, ở trên vịnh Ninh Hòa hay là Bình Cang(40). Ông ta dặn chôn ông ta ở Ba Ngòi trong vịnh Cam Ranh).Đây cũng là một thông tin sai lạc, bởi Phan Trung đã nghỉ hưu chết tại quê nhà, chứ không phải tại nhiệm sở. Như vậy ông mất vào cuối năm Giáp Tuất (1884) và khi ấy chưa hạ chiếu Cần vương thì làm gì có chuyện ông Phan Trung bị triều vua Đồng Khánh hặc tội ông về cháu ông là Phan Liền chống Pháp?

Hãy trả lại sự thật lịch sử cho Phan Trung về những gì hậu thế hiểu sai lạc về ông.

Chút nhận xét về mưa gió ngày xưa và ngày nay

Ông bà ta xưa sống theo phương châm “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” cho nên “bồi ở, lở đi”. Hậu quả thiệt hại về nhân mạng và tài sản mà người dân Nha Trang lãnh nhận vào sáng Chúa nhật 18/11/2018 là do thiên tai hay là nhân tai?

Với cách cố tình “ chặt chân” các quả núi, trái đồi thì núi đồi cũng phải quỵ xuống sau những trận mưa tầm tã. Rõ ràng vì cái tiện lợi trước mắt, chúng ta đã tự gây hiểm họa cho chính mình. Con người là một thực thể của thiên nhiên cho nên chúng ta cần sống hài hòa và biết tôn trọng thiên nhiên.

Nguyễn Văn Nghệ

Diên Khánh – Khánh Hòa

Chú thích:

1- https://news.zing.vn/nguoi-dan-Khanh-Hoa-guong-day-khac-phuc-tran-lu-lut-lo-dat-lich-su-post893385.html

2- https://tuoitre.vn/mua-lon-gay-hau-qua-nang-ne-o-nha-trang-nguyen-nhan-do-dau-20181121081641409.htm

3- Vụ dân: được trích từ Luận ngữ, thiên Ung dã câu 20: Phàn Trì vấn trí. Tử viết: “Vụ dân chi nghĩa: kính quỷ thần, nhi viễn chi; khả vị trí hỹ” (Ông Phàn Trì hỏi Khổng tử về đức trí. Khổng tử đáp: “Chuyên làm việc nghĩa giúp người, kính trọng quỷ thần nhưng không hay gần[tức là không ưa cầu thỉnh van vái quỷ thần], như vậy có thể gọi là trí)

4- Bính Thìn: Tự Đức năm thứ 9, dương lịch năm 1856( Trong bản dịch văn bia gởi Trung tâm Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Khánh Hòa ngày 22/10/2012, ông Trần Đình Hằng, Phó Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế chú thích “ Bính Thìn, tức năm Tự Đức thứ 10, 1856”). Chắc là bia khắc nhầm. Năm này Phan Trung chưa vào Nam Kỳ chống Pháp thì làm gì mà “phụng chuẩn Khánh hạt tụ khẩn”. Có lẽ là năm Mậu Thìn (1868) thì đúng hơn.Theo Đại Nam thực lục thì tháng 8 năm Bính Dần (1866) Phan Trung mới điều ra Khánh Hòa khai khẩn.

5- Tân Phú: thôn Tân Phú thuộc tổng Ích Hạ, huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa

6- Thiên Y A Na Thánh Phi Chúa Ngọc: Người dân Khánh Hòa thuộc thế hệ lớn tuổi đều kiêng chữ “ Ngọc” và gọi là Chúa Nguộc

7- Hạn Bạt: là thần nắng hạn. trong Kinh Thi thiên Đại Nhã, bài 264 chương V ghi: “Hạn Bạt vi ngược/ Như đàm như phần/ Ngã tâm đạn thự/ Ưu tâm như huân” ( Hạn thần làm việc bạo tàn/ Như thiêu, như đốt nguy nàn khắp nơi/ Lòng ta sợ lắm rồi nắng hạn/ Bức rứt như lửa rán tấc lòng) (Khổng tử, Kinh Thi II (Dịch giả Tạ Quang Phát), Nxb Văn học, tr. 709)

8- Bàng đà: Mưa tầm tã, mưa ràn rụa

9- Tọa Khôn hướng Cấn: Tây Nam – Đông Bắc

10 – Thánh Phi từ: Đền thờ Thánh Phi được Phan Trung xây dựng tại thôn Tân Phú. Dân địa phương gọi là Miếu Đá Đen. Do chiến tranh loạn lạc người dân thôn Tân Phú đi đến ngụ cư trong các làng kế cận, nên nay đền thờ chỉ còn phế tích với bức vách đổ được xây bằng gạch ghè (ống). Một số người dân Tân Phú lên ngụ ở làng Phú Hữu (nay thuộc xã Ninh Ích) đã xây một ngôi miếu thờ Thiên Y A Na ở giữa cánh đồng về hướng Tây Bắc của làng Phú Hữu.

11- Quốc tế: ở đây không có nghĩa là “giữa các nước”, mà là do nhà nước đứng ra lo việc tế tự.

12- Phan Lương Khê: Lương Khê là tên hiệu của Phan Thanh Giản.

13- Quảng Nam Hải phòng: Triều đình Huế đặt ra ở các cửa biển quan trọng cơ quan Hải phòng sứ(lúc đầu “Hải phòng” không phải là một địa danh), còn ven vùng núi nơi có người thiểu số thường xuống cướp phá là Sơn phòng sứ. Ông Nguyễn Hữu Hoán phụ trách công việc ở cơ quan Hải phòng thuộc tỉnh Quảng Nam.

14- Trước mặt đền thờ Thánh Phi ở Tân Phú nhìn ra đầm Nha Phu

15- Niên hiệu Tự Đức thứ 26 là năm Quý Dậu (1873)

16- Sau lưng tháp chính ở khu vực Tháp Bà có hai bia chữ Hán. Bia đá lớn hơn là bia “ Thiên Y tiên nữ truyện ký” do cụ Phan Thanh Giản soạn vào ngày 12 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 (1856) ; còn bia đá nhỏ là bia của Phan Trung cùng 7 vị quan khác đồng cẩn soạn.

17- Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb TPHCM, tr. 218. Dưới thời Tự Đức, huyện An Phước thuộc phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận.

18- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, Saigon Imprimerie Coloniale, 1885, p. 68

19- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tập 3-4, Nxb Thuận Hóa, tr. 571

20- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 7, Nxb Giáo dục, tr. 711

21- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tập 3-4, Nxb Thuận Hóa, tr.571

22- Phạm Phú Thứ, Phạm Phú Thứ toàn tập tập 1, Nxb Đà Nẵng, tr. 731. Bản chữ Hán số thứ tự 430, trang 1470

23- Đám lá tối trời: Từ Gò Công đi về hướng ao Trường Đua, theo đường ấp Long Hưng đến ngã ba ấp Giá Trên thuộc xã Kiểng Phước, từ đây có bảng hướng dẫn đi thêm 8,5 km nữa để đến đền thờ Trương Định (Gia Thuận), nơi này khi xưa là khu vực “Đám lá tối trời”.

24- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 7, Nxb Giáo dục, tr.898-899

25- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, Saigon Imprimerie Coloniale, 1885, p. 68-69.

26- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, Saigon Imprimerie Coloniale, 1885, p. 69

27- https://trucnhatphi.wordpress.com/2008/04/01/diển-nong-sứ-khanh-hoa-phan-trung-1814-1884/

28- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa, Saigon Imprimerie Coloniale, 1886, p. 53

29- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, Saigon Imprimerie Coloniale, 1885, p. 68

30- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa, Saigon Imprimerie Coloniale, 1886, p. 54

31- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 7, Nxb Giáo dục, tr. 952

32- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 7, Nxb Giáo dục, tr.1014

33- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa, Saigon Imprimerie Coloniale,1886, p. 56

34- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 8, Nxb Giáo dục, tr. 353

35- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tập 3-4, Nxb Thuận Hóa, tr. 571

36- www.ninhthuan.gov/chinhquyen/prtc/Pages/Nhan-vat-lich-su.aspx

37- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa, Saigon Imprimerie Coloniale, 1886, p.15

38- https://nghiencuulichsu.com/2016/10/03/di-tim-danh-tinh-cua-vi-tuong-duoc-chon-trong-ma-ong-tuong/

39- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, Saigon Imprimerie Coloniale, 1885, p.71

40- Vịnh Ninh Hòa hay Bình Cang: Vịnh Ninh Hòa tức đầm Nha Phu, còn có tên là vịnh Bình Cang. Tại sao lại có tên là Bình Cang? Ngày xưa dinh Bình Khang đóng tại Ninh Hòa, các bản đồ chữ Pháp ghi đầm Nha Phu là “ Baie Binh Kang” và do tiếng Pháp, chữ “h” câm nên đọc Bình Khang thành Bình Cang và từ đó nhiều bản đồ ghi đầm Nha Phu và cả vịnh Nha Trang là vịnh Bình Cang

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s