Phương Tôn dịch – “Tình yêu tự do”: Một thử nghiệm thất bại của Xô viết

Tác giả: Petr Svab und Anna Samarina

“Tất cả các điều cấm có liên quan đến tình dục phải được bãi bỏ […] Chúng ta có thể học được rất nhiều từ các nhà tranh đấu nữ quyền(Suffragetten): Ngay cả lệnh cấm về tình yêu đồng giới cũng phải được bãi bỏ” – Lenin viết cho đồng chí Leon Trotsky vào năm 1911. Thái độ của những người Cộng sản về tình dục đã được báo trước vào năm 1917 qua cuộc thử nghiệm của Xô Viết về “tình yêu tự do”, mà sau đó, hầu như bị chấm dứt trong một thảm họa xã hội.

Khi bạn nghĩ về “tình yêu tự do”, hình ảnh của Woodstock1 sẽ xuất hiện trong tâm trí bạn. Không ai nghĩ về một Xô viết vào đầu thế kỷ 20. Nhà nước Xô Viết trẻ tuổi có lẽ đã thực hiện những nỗ lực đầy tham vọng nhất trong lịch sử để giải phóng tình dục con người.

Khi những người Cộng sản lên nắm quyền tại Nga sau Cách mạng Tháng Mười 1917, họ đã đưa ra một chính sách tuân theo các giáo lý của Karl Marx một cách có hệ thống. Như Marx đã viết trong “Tuyên ngôn Cộng sản”, ước mơ không tưởng về vật chất có thể đạt được “chỉ bởi sự lật đổ bằng bạo lực tất cả các liên hệ xã hội hiện tại.”

Điều này bao gồm không chỉ việc tịch thu “phương tiện sản xuất”, chẳng hạn như nhà máy và đất đai, mà còn là sự xóa bỏ hệ thống gia đình.

Cộng sản đã nhìn thấy gia đình như là một chướng ngại vật cản trở việc theo đuổi vật chất không tưởng. Vì lý do này, mọi người nên sống trong “mối liên hệ tình yêu tự do” và có quan hệ tình dục như họ ưa thích.

Người Cộng sản: Hạn chế tình dục là có hại

Tất cả công dân Xô Viết, đặc biệt là dân cư đô thị, đã bị lèo lái theo chiều hướng của đảng bằng cách nói rằng, kiềm chế tình dục, dựa trên đạo đức và đạo đức gia đình, là hoàn toàn không mang lại lợi ích và chỉ có hại mà thôi.

Những người cộng sản đã thuyết phục những người phụ nữ rằng họ sẽ là “nô lệ” nếu họ nấu ăn cho gia đình và nuôi dạy con cái của họ. Làm việc trong các nhà máy nhà nước sẽ làm cho phụ nữ tự do hơn nhiều … đã từng là những khẩu hiệu được đưa ra. Phụ nữ được phép phá thai .

Trẻ em nên được tách ra khỏi các bà mẹ càng sớm càng tốt và đưa vào các trường mẫu giáo, các trung tâm chăm sóc ban ngày và các trường học để được nhà nước nuôi dưỡng để trở thành những thế hệ kế thừa như các bánh răng xích “giải phóng” trong cơ cấu xã hội chủ nghĩa.

Tại Đại hội lần thứ ba của “Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga”, được tổ chức tại London vào năm 1905, Leon Trotsky – người tổ chức Hồng quân và người ủng hộ Lenin – đã soạn thảo vấn đề giới và đưa ra lý thuyết về giới sẽ được áp dụng một khi Bolshevik chiến thắng.

Ngay từ năm 1904, Vladimir Lenin viết: “[…] việc thả rông các ham muốn và năng lượng, hướng vào các giá trị gia đình không thật (pseudo-familiäre Werte), sẽ giúp cho chiến thắng của chủ nghĩa xã hội.”

Trotsky đã viết cho Lenin vào năm 1911: “Không có gì để nghi ngờ rằng, đàn áp tình dục là phương tiện chính để con người trở thành nô lệ. Cho đến khi sự áp bức này còn tồn tại, thì không thể có tự do đích thực. Gia đình, như một tổ chức của tư sản, đã lỗi thời. Chúng ta phải giải thích thật rõ ràng cho công nhân […] “.

Câu trả lời của Lenin còn đi thêm một bước: “Không chỉ gia đình. Tất cả các quy định cấm có liên quan đến tình dục phải được bãi bỏ […]. Chúng ta có thể học được rất nhiều từ các nhà tranh đấu nữ quyền: Ngay cả việc cấm tình yêu đồng giới cũng phải được bãi bỏ “. Mục định thật rõ ràng: Hôn nhân gia đình như một tổ chức xã hội nên được phá bỏ.

Đồng tính luyến ái ở Liên Xô – Một sự thay đổi từ cho phép đến đàn áp những người đồng tính luyến ái

Ở Nga, dưới thời Nga hoàng, từ năm 1903, những người đàn ông đồng tính luyến ái bị kết án cho đến ba tháng tù giam. Sau khi những người cộng sản nắm quyền, tất cả các điều luật về đồng tính luyến ái đã bị bãi bỏ và tình yêu đồng giới không còn bị truy tố nữa.

Đồng tính luyến ái được cho phép ở Liên Xô cho đến năm 1934 như là một phần của “tình yêu tự do”. Nhưng sau đó bị đảo ngược đột ngột: vào năm 1933, người đồng tính luyến ái bị xem có liên quan đến “gián điệp” và “tư sản” và từ đó họ bị đàn áp.

Đầu năm 1934, lãnh đạo Liên Xô đã đưa ra một chiến dịch chính trị chống lại đồng tính luyến ái. Chiến dịch này được hướng dẫn cụ thể để chống lại những người đồng tính nam – phụ nữ đồng tính không bị ảnh hưởng trong chiến dịch này. Những người đàn ông có quan hệ tình dục với nhau có thể phải đối mặt với năm năm tù và bị đày đến Siberia.

Vào ngày 23 tháng 5 năm 1934, tác giả nổi tiếng của Liên Xô, Maxim Gorky mô tả tình dục đồng tính là “tội phạm và bị trừng phạt” và viết trên trang nhất của tờ báo Xô Viết “Pravda” và “Izvestia” rằng, đã có một câu tục ngữ châm biếm: “Đồng tính luyến ái bị diệt và chủ nghĩa phát xít sẽ tan rã! “

Người Cộng sản phá vỡ truyền thống

Theo truyền thống, phụ nữ phụ thuộc vật chất vào chồng, trong khi chồng có trách nhiệm chăm sóc vợ và cả gia đình.

Trước cuộc cách mạng, người dân ở Nga được hưởng một mức độ tự do tôn giáo, và các tôn giáo riêng lẻ có thể xác lập các quy tắc về hôn nhân. Một vụ ly dị chỉ có thể xảy ra nếu một người bạn đời không trung thành (phải được hai nhân chứng xác nhận), nếu người này đã rời bỏ người kia hoặc bị bất lực.

Cộng sản từ chối và lên án các luật lệ và truyền thống, theo như Marx đã quy định, và năm 1918 đã ban hành bộ luật gia đình mới.

Các sắc lệnh (Dekrete) về “xã hội hóa phụ nữ” đươc đưa ra ở các khu vực khác nhau của Liên Xô

Trong cùng năm đó, các sắc lệnh đã được ban hành về “xã hội hóa phụ nữ” ở các vùng của Liên Xô, nơi những người Bolshevik nắm quyền.

Các đại biểu tại các khu vực chịu trách nhiệm đối với các sắc lệnh này là những người đã soạn thảo các sắc lệnh kể trên

Các sắc lệnh được ban hành trên cơ sở thử nghiệm để xem người dân phản ứng như thế nào, nhà sử học địa phương Boris Sennekov viết trong cuốn sách “Cuộc nổi loạn Tambov 1918-1921 và cuộc đàn áp chiếm đoạt đất của nông dân Nga 1929-1933” („Tambower Aufstand 1918-1921 und die Entkulakisierung Russlands 1929-1933“).

Sắc lệnh tại thành phố Vladimir

Tại thành phố Vladimir, trong sắc lệnh “Về giải phóng phụ nữ” được ban hành vào ngày 1.1.1918, “quyền tư hữu” phụ nữ bị cấm. Đó là, dẹp bỏ những cuộc hôn nhân như là một phần của “mê tín dị đoan xưa cũ mang tính tư bản”.

Không được phép xúc phạm hay cưỡng hiếp những cô gái chưa đến tuổi 18. Bất kỳ người đàn ông nào không tuân lệnh này sẽ bị trừng phạt nặng theo luật pháp, dựa theo điều khoản thứ hai của sắc lệnh.

Từ 18 tuổi trở lên, mỗi phụ nữ được xem là “tài sản của nhà nước Cộng hòa” và phải đăng ký trong “Văn phòng tình yêu tự do”.

Bắt đầu từ thời điểm này, cô ấy có thể tự chọn hoặc được chọn cho một “partner tình dục theo thời gian” (Geschlechtspartner auf Zeit). Người được chọn không được phép từ chối cô ấy, cũng như cô ấy không được phép từ chối người đàn ông đã được chọn làm bạn tình cho mình.

Tất cả trẻ em từ các mối liên hệ tình dục như vậy cũng được xem là “tài sản của nhà nước cộng hòa” và bị đem đi khỏi “nhà sản xuất nữ” (Erzeugerinnen) ngay sau khi sinh để cho họ nhanh chóng tiếp tục sản xuất “những chiến sĩ mới đấu tranh cho ‘cuộc cách mạng thế giới’ “, như sắc lệnh ghi rõ.

Bích chương tuyên truyền của Liên Xô về câu hỏi về giới tính vào năm 1920.
Hàng ở giữa, phía trên cao: “Câu hỏi về giới tính?”
Hình bên trái: “Mỗi nữ đoàn viên Cộng sản (Komsomolzin) phải rộng lòng với anh ta, nếu không cô ấy chỉ là người dân bình thường”
Hình bên phải: Mỗi nữ đoàn viên Cộng sản (Komsomolzin) có thể và phải thỏa mãn ham muốn tình dục của anh ta”.

Sắc lệnh tại Saratow

Ngày 1.5.1918, hội đồng thành phố Saratov – thủ đô của người Đức Volga – đã ban hành sắc lệnh về “bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân phụ nữ”. Trong đó, hôn nhân được mô tả là “một vũ khí trong tay của tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại vô sản”, và qua đó, “những nữ đại diện cho giới tính xinh đẹp sẽ trở thành tài sản của công dân và đế quốc.”

Phụ nữ trong độ tuổi từ 17 đến 32 đã được tuyên bố là “tài sản của toàn bộ tầng lớp lao động” – ngoại trừ phụ nữ có từ năm đứa con trở lên. Công nhân, binh lính và hội đồng nông dân giờ đây có thể “sử dụng” những phụ nữ này.

Mỗi người trong tầng lớp lao động phải trả 2 phần trăm tiền lương của mình cho Quỹ Giáo dục nhân dân và do đó có quyền “sử dụng” một người phụ nữ bốn ngày một tuần trong ba tiếng đồng hồ mỗi lần. Phụ nữ sẽ nhận được khoản thanh toán hàng tháng là 280 rúp cho các dịch vụ của họ.

Trẻ em từ các “mối tình” như vậy, một tháng sau khi sinh được tách ra khỏi “các phụ nữ sản xuất trẻ con” để được bàn giao lại cho các tổ chức nhà nước.

Sau khi bị dân chúng phản đối, sắc lệnh Saratov được tuyên bố là giả mạo vào tháng 6 năm 1918 và tác giả Martyn Chwatow bị đưa ra xét xử.

Nhà hoạt động nữ quyền Liên Xô và cũng là đồng chí của Lenin – và sau đó là đại sứ của Liên Xô tại Na Uy và Thụy Điển – Alexandra Kollontai, đã bào chửa cho Chwatow. Chwatov được tha bổng, ngôi nhà của anh ta nơi những người phụ nữ bị “sử dụng”, và số tiền đã nhận bị tịch thu.

Nhưng Chwatov không thể tận hưởng tự do dài lâu: một ngày sau khi được thả, ông bị những kẻ vô chính phủ từng ủng hộ cộng sản trong cuộc nội chiến giết chết. Họ muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng, sắc lệnh là giả mạo.

Ảnh: Bài báo từ một tờ báo Nga dựa trên thông tin từ kho lưu trữ của Tình báo Nga FSB

Các sắc lệnh về “xã hội hóa phụ nữ”, đặc biệt là sắc lệnh Saratov, được in trên báo chí trên toàn Liên Xô. Một số người dùng đến để giúp cho nông dân thấy được sự tàn ác của cộng sản, một số để thỏa mãn sự tò mò, và có những người suy diễn các sắc lệnh như một hướng dẫn từ cấp cao và áp dụng vào thực tế.

Ly hôn – một vấn đề trong vòng 15 phút

Trong cuộc nội chiến Nga sau cuộc cách mạng tháng Mười năm 1917, các đám cưới tôn giáo đã được xem là không hợp lệ. Thay vào đó, phòng tư pháp hôn nhân được thành lập, nơi các cặp vợ chồng có thể đăng ký kết hôn. Nếu một trong những partner muốn, họ có thể dễ dàng đăng ký để được ly dị. Diễn tiến này được duy trì ngay cả sau khi cuộc nội chiến kết thúc.

“Thủ tục ly hôn đơn giản đến nỗi bạn không bị mất tiền hay thời gian. Theo luật hiện hành, một cuộc hôn nhân có thể được ly dị trong vòng 15 phút”, P. Zagarin, một nhà văn người Nga chuyên về gia đình viết vào năm 1927.

Ý tưởng là để giải phóng phụ nữ khỏi hôn nhân và qua đó là gia đình. Nhưng thay vào đó, chế độ đã cho mọi người lý do hoàn hảo để từ bỏ gia đình của họ. Nhiều người đàn ông đột nhiên thấy rằng họ “không có gì chung” với vợ của họ, trong lúc đó họ phát hiện ra sự tương đồng nổi bật với một phụ nữ trẻ ngay sau khi ly dị.

Đến cuối năm 1918, chỉ riêng tại Moscow có gần 7.000 cuộc hôn nhân đã ly hôn, trong khi có chừng 6.000 đã được đăng ký. Với dân số khoảng 2 triệu người, Moscow có 93 cuộc ly hôn cho 1000 người vào năm 1927 – gần gấp đôi số người ở Berlin vào năm 2016 với 5,4 trên 1.000 người đã ly hôn vào năm ngoái, theo tạp chí “die Welt”.

Tính trên toàn quốc, một trong bốn cuộc hôn nhân đã ly hôn ở Liên Xô trong nửa đầu năm 1927.

“Một số rất lớn người dân không xem việc kết hôn là căn bản quan hệ hôn nhân. Trên thực tế, các kết nối tự do ngày càng trở nên phổ biến”, Alexei Stelmachovich, Chủ tịch Tòa án Moscow, viết vào năm 1926.

Tòa án quá tải vì tranh tụng luật pháp về trả tiền nuôi dưỡng cho con trẻ

Do tỷ lệ ly hôn cao, các tòa án Liên Xô đã quá tải trong thập niên 1920 với các tranh chấp về nuôi dưỡng con trẻ. Đàn ông tìm thấy nhiều cách thức để khỏi trả tiền, chẳng hạn như thay đổi việc làm mà tiền lương dường như không đủ để cấp dưỡng con cái, hoặc dời chổ cư ngụ để việc truy tìm trở nên rất khó khăn.

Hơn nữa, sau một thập kỷ chiến tranh, nội chiến, và khủng bố đỏ, đàn ông thiếu hụt, khiến họ dễ dàng tìm được một người tình mới sau khi ly hôn.

Trong khi đó, chính phủ đã bỏ lời hứa rằng họ sẽ chăm sóc trẻ em. Từ năm 1926 đến năm 1927, số trường mẫu giáo chỉ đủ cho 150.000 trẻ em – một phần nhỏ trong số 10 triệu trẻ em ở Liên Xô.

Vào thời điểm đó, Wera Lebedeva, nữ bộ trưởng Bộ Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em và là người tổ chức các khoản trợ cấp của Quỹ Rockefeller cho Liên bang Xô viết, nói: “Mối liên hệ hôn nhân yếu và ly hôn tạo ra một lượng lớn các bà mẹ độc thân, họ phải chịu gánh nặng nuôi dưỡng con trẻ một mình. Hãy tưởng tượng một người phụ nữ với một đứa trẻ, bị mất việc làm vì bị sa thải và bị đuổi ra khỏi căn hộ cộng đồng mà không có sự hỗ trợ từ chồng, […] họ không có cơ hội để tiếp tục tự lo cho bản thân.”

Thường thì cuộc đời những phụ nữ ly hôn đã kết thúc trên đường phố. “Sự tương phản giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa về tình yêu tự do và các điều kiện vào giai đoạn đó không thể được coi là mạnh mẽ ở bất cứ đâu, khi nhìn cảnh phụ nữ bán mình trên đường phố”. Wendy Goldman, giáo sư lịch sử tại Đại học Carnegie Mellon và một chuyên gia về lịch sử Nga viết trong cuốn sách “Phụ nữ, Nhà nước và Cách mạng” (Women, the State and Revolution) “Nó chế nhạo ý tưởng cho rằng phụ nữ là những cá nhân tự do, độc lập có thể kết nối trên cơ sở lựa chọn theo cá nhân của họ”.

Hậu quả của “tình yêu tự do” thậm chí còn gây ấn tượng nhiều hơn ở vùng nông thôn. Trong một vụ ly hôn, các nông trại vốn đã nhỏ bé nay lại còn bị chia xẻ nhỏ để chia cho các cặp ly hôn. Bất cứ ai kết hôn lại và ly hôn, bị kết thúc với một tài sản quá nhỏ để sống. Nếu các nông trại không được chia sẻ, sau khi ly hôn phụ nữ sẽ không có gì trong tay.

Một Liên Xô trẻ là đất nước đầu tiên trên thế giới đưa phân tích tâm lý học của Sigmund Freud vào thực tế. Nhưng khi giới trẻ quan tâm nhiều hơn về tình dục của họ hơn là đấu tranh giai cấp, dẫn đến một sự quay đầu chính trị

“Đa dạng về tình dục nên có ít hơn”

Aron Aalkind, nhà tâm thần học có ảnh hưởng đã xuất bản “Mười hai điều răn tình dục của cuộc cách mạng vô sản” (Zwölf sexuellen Gebote des revolutionären Proletariats) vào năm 1924. lên án hình thức đa thê và tình dục vô độ. Giới trẻ Xô Viết không nên lãng phí năng lượng của họ vào việc thực hiện những tưởng tượng tình dục (sexuellen Phantasien), nhưng nên cống hiến mình cho cuộc đấu tranh cách mạng.

Mười hai điều răn tình dục của cách mạng vô sản.Photo: Truyền đơn “Cách mạng và Thanh niên”, Nhà xuất bản Đại học Cộng sản Sverdlov, Moscow 1924.

Mười hai điều răn tình dục của cách mạng vô sản

1. Cuộc sống tình dục trong thế giới vô sản không nên bắt đầu quá sớm.

2. Việc kiêng khem tình dục nên được duy trì cho đến khi kết hôn và hôn nhân chỉ nên xảy ra khi đã trưởng thành đầy đủ về mặt xã hội và sinh học (nghĩa là trong độ tuổi từ 20 đến 25).

3. Quan hệ tình dục chỉ là kết quả cuối cùng của sự cảm thông sâu sắc lẫn nhau và gắn bó với đối tượng của tình yêu tình dục.

4. Quan hệ tình dục chỉ nên là mối liên kết cuối cùng trong một chuỗi các sự kiện sâu và là một kết nối phức tạp giữa những người yêu nhau.

5. Quan hệ tình dục không nên lặp lại thường xuyên.

6. Bạn tình không nên thay đổi thường xuyên. Nên có ít sự đa dạng về tình dục hơn.

7. Tình yêu nên theo hình thức một vợ một chồng (monogam).

8. Mỗi lần giao hợp nên có nhận thức về khả năng thụ thai, tạo sinh một đứa trẻ, và nói chung người ta nên nghĩ đến con cái.

9. Việc lựa chọn bạn tình nên được thực hiện chỉ trong giai cấp vô sản nhằm hoàn thành mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ tình yêu không nhằm để tán tỉnh, không để làm dáng, và dùng các phương pháp khác để xâm chiếm tình dục.

10. Không nên ghen tuông.

11. Nghiêm cấm tình dục quái đản (Perversion).

12. Giai cấp công nhân có thể can thiệp vào đời sống tình dục của các thành viên vì lợi ích của mục đích cách mạng. Tình dục nên là một phần của giai cấp cách mạng, không gì cản trở được, tất cả nhằm phục vụ nó.

Tình dục bây giờ là việc của nhà nước và không phải là sự lựa chọn tự do của cá nhân.

“Chúng ta hiểu nhầm khái niệm “tình yêu tự do”. […]. Nếu chiến tranh tặng cho chúng ta một khối lượng thương binh, thì hiểu sai về tình yêu tự do lại ban phước cho chúng ta, thậm chí còn lớn hơn, một lượng quái thai.”(Leon Trotsky 1923)

1936: Liên Xô chấm dứt „Tình yêu tự do“

Bởi vì xem nhẹ, bãi bỏ hôn nhân, xem “phụ nữ là công sản” v.v…, bệnh tình dục nảy nở tràn lan như bệnh lậu (Gonorrhö) và giang mai (Syphilis). Ngoài ra, ngày càng có nhiều phụ nữ chống lại “tình yêu tự do” do các Đoàn viên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Liên Xô (Komsomol – kommunistische Jugendorganisation in der früheren UdSSR ) đòi hỏi nên đã bị hãm hiếp và giết chết, theo nhà nghiên cứu quê hương (Heimatforscher) Sennekov.

Để ngăn chặn thêm thiệt hại, Liên Xô đã từ bỏ ý thức hệ “tình yêu tự do” vào năm 1936 và trở về chính sách thân thiện với gia đình. Nhanh chóng, người ta tuyên bố “tình yêu tự do” là những ý tưởng của tư sản và chủ nghĩa đế quốc. Báo chí ngừng đề cập đến chủ đề tình dục và ngưng tranh luận công khai về vấn đề giới.

Phá thai bị cấm và phụ nữ được khuyến khích có thêm con. Những người nộp đơn xin ly hôn, phải trả lệ phí cao và thậm chí có thể bị loại trừ khỏi Đảng Cộng sản. Ai bỏ rơi gia đình, bị kết án phạt nặng.

Phương Tôn dịch

Tháng 11. 2018

 

Nguồn: Die „freie Liebe“ – das gescheiterte sowjetische Experiment – https://www.epochtimes.de/wissen/geschichte/die-freie-liebe-das-gescheiterte-sowjetische-experiment-a2158469.html

1Woodstock thuộc bang New York, Mỹ nơi từng tổ chức lễ hội nhạc cho Tình Yêu và Hòa Bình (Love and Peach) trong thời gian Chiến Tranh Việt Nam (1969). Ngày nay nói đến Cách Mạng Tình Dục, Tự do luyến ái là người ta nghĩ ngay đến Woodstock (Ghi chú thêm của người dịch)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s