Nguyên Lạc – GIỚI THIỆU NHÀ THƠ QUỲNH NGA

Huỳnh Thị Quỳnh Nga

Phần 1

VÀI Ý NGHĨ VỀ THƠ VÀ BÌNH THƠ

Để giới thiệu thi nhân, tôi xin ghi ra đây sơ lược những ý nghĩ chủ quan về thơ và bình thơ cần thiết cho sự giới thiệu và “cảm nhận”.

I. VỀ THƠ 

THƠ LÀ GÌ? 

Ngài Bùi Giáng đã nói đại để như sau:

“Con cá thì ta biết nó lội, con chim thì ta biết nó bay, nhưng thơ là gì thì đó là điều mà ta không biết được” 

Ngài nói chơi chứ biết quá đi thôi. Tính ngài ưa giỡn nên “lửng lơ con cá vàng” như vậy!

Thôi tôi đành nhờ ông Nguyễn Hưng Quốc:  

“Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy.”

Và ông giải thích thêm:

Đó là sự đồng cảm giữa con người với nhau nói chung. Đó là mối “tương liên” giữa thế hệ này với thế hệ khác, giữa thế kỷ này với thế kỷ khác. Đó là những giọt nước mắt con người ứa ra qua những “tam bách dư niên hậu”. Lại nhớ đến Nguyễn Du.

 Nguyễn Du viết về Đỗ Phủ:

Dị đại tương liên không sái lệ

(Khác thời đại thương nhau ứa nước mắt)

Đỗ Phủ sinh năm 712 và mất năm 770 ở Trung Hoa. Nguyễn Du sinh năm 1766 và mất năm 1820 ở Việt Nam. Tính theo năm sinh, Nguyễn Du ra đời muộn hơn Đỗ Phủ 1.054 năm. Thế nhưng hai người gần nhau biết mấy. Đêm đêm hồn Nguyễn Du vẫn nằm mộng trong những vần thơ Đỗ Phủ (Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi). Bao nhiêu khoảng cách bỗng bị xoá nhoà. “Cách hàng ngàn năm gặp gỡ, tâm sự vẫn giống nhau”(Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi).

Thơ xoá đi cái không gian trống giữa người với người. Để giậu mồng tơi xanh rờn không là nỗi phân ly. Để tam tứ núi, thập bát đèo không là điều cách biệt.

Thơ cũng xoá đi cái không gian chết giữa đời này với đời khác. Để những giọt lệ của Kiều ngày xưa còn cay cay trong mắt người bây giờ. Để nhân loại hôm nay còn thấy bàng hoàng trước tiếng thét dài làm lạnh cả hư không của thiền sư Không Lộ một ngàn năm xa xưa…](Nguyễn Hưng Quốc)

Tôi tâm đắc nhất ở đoạn này: “Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm”. Do đó theo tôi: Không có CẢM XÚC thì không có THƠ. Nói rõ ra :”Tức cánh sinh tình” – Cảm nhận đưa  đến cảm xúc rồi từ đó đưa đến THƠ (tôi chỉ bàn về THƠ TÌNH, còn các loại thơ khác xin “viên chỉ”, dành cho các cao nhân)

THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU?

Thì như trên tôi đã nói, THƠ (cảm xúc đi tìm một đồng cảm) đến từ TRÁI TIM, từ TÂM HỒN thi sĩ chứ đâu. Người thi sĩ như con tằm phải biết cách bắt lá dâu xanh biến thành tơ nõn. Chỉ có thi sĩ mới làm được điều đó và chỉ có thi sĩ mà thôi. 

THƠ SẼ VỀ ĐÂU?

Theo tôi, không cần bận tâm quá. Nói theo nhà Phật là như nhiên, tùy duyên, cứ để nó tự nhiên như bốn mùa thay đổi: Xuân, hạ , thu, đông. Ta có thể nào thay đổi được trật tự luân chuyển này đâu?, lo chi cho mệt trí.

Đến từ đâu hay sẽ về đâu không cần bận tâm; cái chuyện bận tâm, theo tui là THƠ VIẾT CHO AI, PHỤC VỤ AI, viết làm sao cho thật lòng và làm sao viết cho HAY.

Theo tôi, thơ phải viết cho CON NGƯỜI, con người nói chung, “đa số” chứ không phải cho một “thiểu số đặc quyền”. Thơ không nên viết vì tư dục riêng mình. Thơ phải chân thật, cống hiến cái ĐẸP cho đời, nói lên những tâm tư, những khát khao của nhân loại… Nghĩa là thơ phải có tính NHÂN BẢN, không cổ động sự DỐI TRÁ, ÁC ĐỘC, DÃ TÂM XÂM LƯỢC

THƠ HAY?

Trước khi bàn thế nào là thơ hay, ta thử xét CÁI TÔI.

1. Lan Man Về Cái Tôi

 Thông thường có ba loại CÁI TÔI (Phân tích theo gợi ý của nhà bình thơ Phạm Đức Nhì ):

— CÁI TÔI VĂN HOÁ (Lý Trí):  tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều. Cũng có thể gọi là “Cái Tôi Phải Đạo”. Cái tôi nầy thường để ý đến sự hơn thua và thường đặt nặng về phần hơn.

Lý Trí là kẻ thù của thi sĩ trong lúc làm thơ. Thi sĩ làm thơ trong lúc tỉnh táo quá thì những điều viết ra sẽ được cân nhắc, suy hơn, tính thiệt kỹ càng. Đó sẽ là những vần thơ phải đạo, được “đạo diễn” bởi “cỗ máy biết suy nghĩ” –  “cái tôi văn hóa”. Nếu thi sĩ có kỹ thuật thơ cao cường – ngôn từ trong sáng, thế trận chữ nghĩa chặt chẽ, hiệu quả – thì thơ vẫn có cảm xúc, vẫn có thể “hay” nhưng không có HỒN. Đơn cữ như bài : “Thương cha, thương mẹ, thương chồng /Thương mình thương một, thương Ông thương mười” (Đời đời nhớ Ông – “đại thi sĩ” – Tố Hữu)

— CÁI TÔI “TEO CHIM”: Nghĩ đến chết chóc, tù đày, gia đình bị tước đoạt mọi phương tiện, nguồn sống, ngòi bút của thi sĩ đôi lúc phải cong lại hoặc vừa viết lại vừa phải “lách”. [“hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe)  (Nghĩa là không chân thật, không lương thiện – Nguyên Lạc)]

— CÁI TÔI ĐÍCH THỰC: Khi thi sĩ thật cao hứng, lên cơn điên vì yêu, hận (giận), vui sướng, buồn bã, ghen ghét, ham muốn … cảm xúc sẽ sôi lên phủ mờ lý trí, “cái tôi đích thực” sẽ vùng dậy đẩy “cái tôi văn hóa” (và “cái tôi teo chim”, nếu có) vào bóng tối để dành quyền “đạo diễn” bài thơ của mình. Thi phẩm viết ra trong tâm cảnh ấy sẽ chẳng màng đến chính kiến, lập trường, truyền thống, đạo đức, lễ giáo, thước đo giá trị của người đời … mà chỉ là những gì tuôn trào ra ngòi bút bởi “cơn điên” của thi sĩ đang thôi thúc trong lòng. Cái tôi này không để ý đến sự hơn thua, và thường chấp nhận sự thua thiệt vì lý trí bị phủ mờ. Người ta thường nói “tình yêu thường mù quáng” là do vậy. Lúc ấy kỹ thuật thơ vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của thi sĩ, nhưng lời thơ, tứ thơ – không còn bị chi phối bởi cái tôi văn hóa – sẽ là tâm tình chân thật của “cái tôi đích thực”. Nếu thi sĩ chọn được thể thơ thích hợp, tứ thơ sẽ chảy thành dòng, cảm xúc sẽ lớn mạnh, bài thơ sẽ CÓ HỒN, thông điệp của thi sĩ sẽ đi vào lòng độc giả một cách dễ dàng…] 

Trong nhóm thi nhân đặt nặng CÁI TÔI LÝ TRÍ/VĂN HOÁ  có loại thi nhân tôi “gắn vương miện” là “thi nhân dao kéo”,  “thi nhân son phấn”. Giống như những “giai nhân” được tạo hình đẹp bằng thủ thuật giải phẫu, bằng son phấn trét bôi, đẹp thì có đẹp nhưng giống như bông hoa giả không hương. Những vầng thơ loại này không có HỒN.

2. Thơ hay

Qua trên, chúng ta thấy muốn làm THƠ HAY thì THƠ PHẢI CÓ HỒN, nghĩa là :“CÁI TÔI ĐÍCH THỰC” sẽ vùng dậy đẩy “CÁI TÔI VĂN HOÁ ” (và CÁI TÔI “TEO CHIM”, nếu có)  vào bóng tối để dành quyền “đạo diễn” bài thơ.

  — THƠ HAY là thơ đọc qua liền nghe lòng mình thổn thức, thuộc  và nhớ rất lâu:  Như người nữ đẹp (giai nhân), gặp qua một lần là suốt đời không quên!

— “Thơ hay không cần phải nói nhiều, nói thêm; đôi khi nửa câu cũng đã đủ ý. Cái phần còn lại để dành cho độc giả tưởng tượng thêm. Cái tưởng tượng bao giờ cũng hay hơn cái có thật, cái chưa có bao giờ cũng hấp dẫn hơn cái đã có.

Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động… Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng”  (Võ Kỳ Điền – Vài nét lạ trong thơ Lưu Nguyễn)

— Trong một bài thơ hay phải hội đủ ba yêu tố: VẦN, NHẠC và HỌA. Thơ hay là phải có vần điệu, nhạc diệu và hình ảnh (họa). Nhờ những điều này thơ mới dễ đi vào hồn người, thiếu một trong ba thì không thể là THƠ HAY được

Đọc (cảm nhận) thơ như LÀM TÌNH, gặp được GIAI NHÂN (thơ hay) sẽ đạt tới thống khoái. THƠ không có vần, nhạc và họa cũng giống như BỘ XƯƠNG (thịt đã đã mất hết). Ai có thể ôm ấp, LÀM TÌNH với BỘ XƯƠNG?

— Người làm thơ dày dạn kinh nghiệm,  kỹ thuật thơ cao thì thơ làm ra vẫn có thể “hay” , nhưng không có HỒN. Những người này là “nghệ nhân” chứ không phải là “nghệ sĩ “

— Một bài thơ chữ nghĩa “hàn lâm” quá , nặng về trí tuệ, kỹ thuật sắp xếp từ ngữ quá có thể toàn bích như một bức tranh, một bức tượng giai nhân tuyệt vời;  nhưng dù sao nó cũng là bức tranh, bức tượng “chết”, chỉ để ngắm nhìn thôi (Thơ chỉ có lý trí không cảm xúc); đâu bằng giai nhân đời thường, dù không hoàn toàn tuyệt bích, nhưng ta có thể ôm ấp, mân mê ve vuốt “cõi tồn sinh” (Thơ có hồn, đầy cảm xúc).

— Bài thơ hay phải là bài thơ mở để có được sự “đồng tham gia” của người đọc mà ta gọi là “Đồng tác giả”: Độc giả sẽ hứng khởi, thích thú thấy bài thơ hay hơn vì cảm thấy mình có thể dự phần, đặt tâm sự, kinh nghiệm riêng vào; thấy tác giả viết riêng cho tâm tư mình, thấy có mình trong đó.

HỆ QUY CHIẾU

Có thể giải thích thêm ở đây: — Đọc thơ, thưởng thức thơ còn tuỳ thuộc vào “Hệ quy chiếu” của mỗi người. Những Hệ quy chiếu này hoàn toàn khác nhau, do đó cách đọc và cảm nhận cũng khác nhau. Không thể đứng ở Hệ quy chiếu này mà phê bình, áp đặt Hệ quy chiếu khác, cho rằng mình là đúng và người sai.  Ngay ở một người, hai cái đọc ở hai thời điểm khác nhau, với những kinh nghiệm và quan điểm khác nhau, tác phẩm cũng có thể có những diện mạo khác nhau.

II. VỀ BÌNH THƠ

1. NHÀ BÌNH THƠ

Tôi xin góp vài ý về phê bình thơ:

Ngoại trừ các nhà phê bình thực sự, có thủ pháp riêng, trình độ thẩm thơ tuyệt vời; phần tay mơ còn lại, theo tôi, chỉ làm rắc rối thêm cho người thưởng lãm. Một bài thơ bình dị, rõ ràng, sáng sủa sẽ trở nên rắc rối, mù mờ và tối tăm qua tay các nhà bình thơ loại này.

Tôi nhớ câu chuyện này, từ người bạn tôi kể lại:

“Nhà thơ Jacque Prevert đi vào câu lạc bộ bình thơ của Pháp tại Paris. Gặp lúc các nhà bình thơ đem thơ ông ra mổ xẻ đủ loại, đủ điều Nhưng chả có ai chú ý đến một người vô danh mới vào và chăm chú theo dõi cuộc bình thơ. Hết cuộc bình thơ, người khách lạ bước lên sân khấu bắt tay các diễn giả và nói rằng: “Xin chân thành cảm ơn tất cả các ngài đã đem thơ tôi bình luận. Thật sự tôi chưa bao giờ biết rằng tôi đã có những ý nghĩ lạ lùng cao xa ấy trong thơ mình và tôi cũng không ngờ thơ tôi lại hay như vậy. Cảm ơn các ngài.

Nói xong, người khách lặng lẽ bước ra. Người khách lạ ấy chính là Jacque Prevert.”

2. THƯỞNG LÃM THƠ

Thưởng lãm thơ cũng như ăn uống: Đói ăn, khát uống.

– Đang đói gần chết, có thức ăn mừng quá định ăn, thì có người chặn lại bảo phải ăn cách như vầy, ăn thức nầy, chất này; không nên ăn thức này, chất này… và rồi giảng cho bài học về dinh dưỡng v.v. thì chết con người ta rồi.

– Cũng giống vậy, đang khát gần chết, có nước uống mừng quá định uống, thì lại bị chặn lại giảng dạy giống như trên thì chán mớ đời. Chết sướng hơn.

Các nhà binh thơ xin nhớ lại “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Yêu ai cứ bảo là yêu 

Ghét ai cứ bảo là ghét 

Dù ai ngon ngọt nuông chiều 

Cũng không nói yêu thành ghét. 

Dù ai cầm dao doạ giết 

Cũng không nói ghét thành yêu…

Hay của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà !

Hãy thật lòng mình, đừng bẻ cong ngòi bút vì tư lợi, ý đồ, phe cánh hoặc vì tiếng tăm người khác gắn cho thi nhân, nào là “nữ hoàng”, nào là “vua thơ” v.v… mà vội vàng hít hà khen thưởng, không thẩm định kỹ. Nên nhớ rằng, khen “quá lố” có khi làm hại người được khen.

Phần 2

GIỚI THIỆU NHÀ THƠ QUỲNH NGA

VỀ MỘT BÀI BÌNH THƠ GẮN VƯƠNG MIỆN 

Trước khi giới thiệu nhà thơ tôi thích, xin được vài hàng về một bài bình thơ gắn “vương miện” gần đây của ” Một nhà thơ trong đương đại thuộc hàng bậc cha anh… cũng xin ngả mũ chào em – Nàng thi sĩ” (sic). “Nhà” này cũng thường hay “tự sướng” thơ mình.

Ghê chưa ? Câu khen này chắc phải đúng vì được phát xuất từ miệng ” Một nhà thơ trong đương đại”. “Nhà” này đã khen nữ thi nhân “tiếng tăm vang dội tận thủ đô”. 

Thấy lời khen “quá dữ” tôi vội ghé vào đọc thử những lời “có cánh” xem sao .

Tôi xin được tạm dấu tên thi nhân – chỉ gọi XYZ – để trân trọng  “tiếng tăm” vì:  “Thơ XYZ đã được giới thiệu nhiều trên báo, tiếng tăm về thơ hay XYZ cũng lan khá rộng, ra tận thủ đô được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành bài hát”. Và dấu tên nhà binh thơ đương đại nầy vì yêu cầu lịch sự. 

Đây là những câu thơ “đập” vào đầu tôi và được ngài “nhà thơ trong đương đại thuộc hàng bậc cha anh”  hết lòng ca ngợi:

Kỷ niệm “quật mồ” lao trở về mai mỉa tiếng thời gian

Tình thu “cướp” nỗi nhớ trong ta chỉ để lại chiếc lá vàng

“Tranh thủ” đứng lên nhặt tình Thu xâu kết tặng cho đời

Quật mồ, cướp, tranh thủ … đọc tôi những chữ nầy sao tôi thấy “rợn tóc gáy”. 

Tác giả là người sáng tạo, có toàn quyền dùng từ nào mình thích, nhưng ít nhất cũng nhớ là viết cho AI, vậy nên chú ý dùng từ sao cho êm dịu, thanh thoát, không gây chia rẽ, buồn lòng người. Thi nhân thì tôi không đặt nặng nhưng quan trọng là ở “người bình thơ”, người “ca tụng” thơ. Theo tôi, đây là những từ dùng trong văn nói hoặc trong văn viết thì cũng tạm được, nhưng trong thơ thì … nên cẩn trọng. Nhà bình thơ “đương đại” phải giải thích rõ cho độc giả hiểu tại sao các câu thơ có những từ này là hay, là tuyệt? 

Chúng là ngôn ngữ tuyệt vời của thơ thật sao?

Chúng gợi nhớ đến những cụm từ : cướp chính quyền, quật mồ người chết … và nhất là cụm từ “tranh thủ” nhập từ Đại Hán: — Tranh thủ để chiếm đoạt? “Xin các đồng chí tranh thủ, khẩn trương” …

Những từ  chưa hoàn toàn đồng thuận này vẫn còn đang tranh cãi, đang gây chia rẽ “bên thắng / bên thua cuộc” và đâu có thanh thoát gì? Sao “nhà bình thơ” không giải thích rõ tại sao mình khen? Hay là “ngài bình thơ” tự cho là nó tuyệt vì thi nhân đã có “tiếng tăm”? Này nhé: – “Thơ XYZ  đã được giới thiệu nhiều trên báo, tiếng tăm về thơ hay TXYZ cũng lan khá rộng, ra tận thủ đô được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành bài hát”?

Cái “tiếng tăm” thật giả thì chưa rõ, nhưng theo tôi đây là “chuyện thường ngày ở huyện”, trong các “Hội” ở Việt Nam “đương đại”, nhất là “Hội nhà văn” ai cũng biết. Làm sao lọt qua được “bộ lọc””định hướng”, tôi gọi là “Sổ đoạn trường”, để được in ấn, công bố tâm huyết mình nếu không phải là “phe ta”, nếu không “có ô dù” ?.

Hay nhà binh thơ hiểu các từ trên là “tuyệt vời” vì ảnh hưởng nền giáo dục “mới”  , nền giáo dục chú trọng “hồng hơn chuyên” “đỉnh cao” XHCN ? Nếu thế thì tôi không trách nhà bình thơ, mà trách nền giáo dục này: Nền giáo dục tạo ra “Con người mới” luôn đặt nặng thắng/thua, ta/địch – Ta nhất định thắng / địch nhất định thua; ngược với nền giáo dục của tiền nhân, hay các nền giáo dục nhân bản khác chỉ dạy con người trân trọng và yêu thương nhau.

Xin được mở ngoặc ghi thêm về cách hành xử ở đời:

— Nên đối xử nhau bằng “Tình đáp tình”, đừng xem nhau ta / địch. Vì trao tha nhân ân tình thì sẽ nhận lại được ân tình. Giống như quả bóng ném vào bức tường sẽ dội ngược lại, ném mạnh thì dội mạnh. Ném sân si vào “bức tường đời” thì nhận lại được sân si thôi!,  nhân nào quả nấy như nhà Phật đã nói. Trân trọng yêu thương cuộc đời thì đời sẽ trân trọng yêu thương lại ta.

Tha thứ cho tôi, không thể nào tiếp tục cảm nhận thêm những lời bình thơ “tuyệt vời” mà nhà bình thơ “gắn vương miện” cho thi nhân được nữa, những lời có cánh:  “hòa quá nhiều nước lã vào mực.”  (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe).

GIỚI THIỆU NHÀ THƠ QUỲNH NGA

Xin được giới thiệu một thi sĩ thật sự có “cái tôi đích thực”, đầy cảm xúc như tôi đã nói ở phần ý niệm về thơ trên. Người thi sĩ tôi có “cảm tình” dù chưa lọt qua được “bộ lọc”,” “sổ đoạn trường” nhưng riêng tôi vẫn đánh giá cao. Tôi chỉ tình cờ biết thi nhân qua Facebook.

1. THI NHÂN

 Bút hiệu: Quỳnh Nga

Tên thật: Huỳnh Thị Quỳnh Nga

Nghề nghiệp: Giáo viên

Quê quán:  Cai Lậy-Tiền Giang

Như đã nói trên, mọi người đều có một “Hệ quy chiếu” riêng trong sáng tạo và thưởng lãm; cho nên tôi chỉ giới thiệu nhà thơ mà riêng tôi cho là “lý thú”, còn vấn đề nhận xét gì gì đó là tùy ở các bạn. Những bài thơ tôi giới thiệu đây đôi khi kèm theo vài hàng cảm nhận chủ quan riêng, có khi bạn không đồng ý. Cũng chả sao, hãy theo cảm nhận của riêng bạn. Dù sao đối với tôi, đây là nhà thơ “không son phấn”, “không dao kéo” với những lời thơ thanh thoát đầy “cái tôi cảm xúc, đích thực”.

Theo quan niệm riêng tôi, những bài thơ hay là những bài thơ gợi ý độc giả gán ghép thêm tâm tư riêng mình vào; độc giả hình như thấy cái tôi của mình trong ấy và hình như tác giả viết riêng cho mình.

Xin được giới thiệu những bài thơ như thế của  thi nhân “không son phấn, không dao kéo”

2. THI CA

Sau đây là những bài thơ tiêu biểu của thi nhân:

TÔi VÀ NHỮNG ĐOÁ TƯỜNG VI

Có một ngày bỗng dưng ngăn nắp lạ

Tôi xếp từng phiến nhớ lên nhau

Để gọn gàng một góc

Trên chiếc bàn cạnh những đoá tường vi

Tôi lắng nghe những câu chuyện nhỏ

Về tình yêu và những chuyến đi

Tôi mở trang sách 

Tôi không tìm thấy tôi 

Chỉ thấy cánh gió đón đóa tường vi chạy trốn

Qua vùng ánh sáng từ trái tim ban mai

Nghe rung rinh nhịp thở 

Cảm ơn mùa thu 

Cảm ơn người

Cảm ơn những đoá tường vi !

Tôi xếp lại một ngày 

Trang sách đi vào giấc ngủ 

Tôi trôi theo cơn mơ 

Và lắng nghe những câu chuyện tình !

@. Cảm nhận người viết:

— “Tôi mở trang sách (kết hợp bằng nhiều phiến nhớ)

Tôi không tìm thấy tôi”

Thật không ? Thi nhân giả bộ hoài! Vậy thì “từ trái tim ban mai rung rinh nhịp thở” là của ai? Chắc chắn là phải tìm thấy cái tôi kỷ niệm trong cuốn sách (hợp bởi nhiều phiến nhớ) ấy, phải không?  “Tôi trôi theo cơn mơ rồi lắng nghe những kỷ niệm chuyện tình” …của mình!

ĐÊM QUA NỞ MỘT NỤ TRẦM

Em về thả sợi tóc xanh 

Tóc bay qua ngõ tim anh chạm rằm

Đêm qua nở một nụ trầm

À ơi tình trót trăm năm ru tình

Em về để bóng lặng thinh

Vành trăng nghiêng nửa một mình bóng trôi 

Tóc xanh em thả về trời

Đêm qua chạm nụ môi người để quên !

@. Cảm nhận:

Trong cơn mơ tôi thấy em về cùng những nụ hôn trong quá khứ. Em đi, tức nhiên mang theo môi người, nhưng nụ hôn kỷ niệm vẫn mãi trong tôi , trong giấc mơ của tôi; tạm cho là em bỏ quên lại đi.

MÙA THU THEO CÁNH GIÓ

Em hái mùa thu giấu ở đâu 

Tôi tìm gặp vàng hanh phiến lá

Nghe hạt nắng rơi triền cỏ lạ

Một tôi về ngơ ngẩn gọi vàng thu

Tôi một lần tự hỏi giá như…

Em đi đi thôi đừng quay lại

Tôi đâu níu một bờ môi vụng dại

Để bây giờ còn đọng những cơn mơ

Tôi trở về gặp lại những ngày xưa

Và cánh gió gọi một mùa xa vắng

Tôi gặp tôi và em thời áo trắng

Nhớ chập chùng tím buốt triền mưa !

@. Cảm nhận:

Em đi rồi thì mùa thu xem như mất, xem như em đã dấu nó đi. 

Thật ra mùa thu vẫn còn: Em không nghe rừng thu / Lá thu kêu xào xạc…(Lưu Trọng Lư); 

nhưng những thu này không phải thu kỷ niệm xưa, nên xem như em đã dấu nó; khi em đi thu đã mất rồi.

Em đã đi rồi những hình bóng của em vẫn ở lại trong cơn mơ, Vẫn còn đấy nụ hôn (níu bờ môi) của thời vung dại áo trắng ngây thơ. 

Buồn kỷ niệm tím biếc chiều mưa !

NGHE NẮNG TRỔ NỤ HỒNG THƠM HƯƠNG

Em về đợi tôi nhé Mai

Nghe mênh mông phố chiều nay nắng vàng 

Còn tôi lại với nồng nàn

Thuở em tóc biếc buộc ngang lưng trời

Em về đợi nhé Mai ơi

Gọi con phố thức quên lời từ ly

Nhớ em nhớ phố xuân thì

Thu phơi vàng lá mùa đi lấy chồng…

Có còn Mai đợi tôi không ?

Về nghe nắng trổ nụ hồng thơm hương 

@. Cảm nhận:

Bài này không cần nói thêm, nó đã hay như nó là. Chỉ phần này:

— Mai chỉ là cái tên, tác giả dùng nó cho hợp vần. Mai chính là EM, NGƯỜI TÌNH  nghĩa là độc giả có thể thay bất cứ tên riêng tâm tư nào cũng được. EM có thể là Mai, Lan, Hồng, Thuý v.v .. hay Nga của thi sĩ Nguyễn Sa:  

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Ðể anh giận sao chả là nước biển…

hay là Quỳnh:

Những câu thơ nhẹ hương quỳnh nở

Anh gởi từ đâu em biết không? (Nguyên Lạc)

Đêm em về với tôi

Đóa quỳnh đừng tàn vội!

Hương quỳnh ngọt đẫm môi

Để ngày đừng mông đợi (Nguyên Lạc)

EM VỀ HÁI TRĂNG RẰM

Em về hái trăng rằm 

khuyết tôi đêm nguyệt thực

dòng sông nào thao thức

chưa xanh trọn đời nhau

hái một chút sắc màu

nhuộm lên ngày xa vắng

tôi nghe mùa yên lặng

trên tay sầu rưng rưng

tôi như gió miên du

đi qua miền ký ức

cơn mưa nào rưng rức

ru tím nụ tình chờ

em về hái giấc mơ

thả lên mềm con sóng

tôi ném chiều ảo vọng

xuống trăm nghìn sông trôi

tôi về qua đời tôi

ngược mùa trăng gió bấc

đêm nằm nghe mưa khóc

rơi hạt nào thương tôi!

@. Cảm nhận:

Hình bóng của em, của người tình đã về trong mơ. Tôi nhớ đến em, nỗi buồn xa vắng khiến trăng hết rằm, ngày nhuộm sắc buồn, chiều ảo vọng, đêm nghe mưa khóc … Tội tôi quá em ơi!


TRẢ TÔI VỀ 

Đâu có cánh hoa nào rơi trên vạt áo em

Mà nắm níu sợ hương bay vội vã

Chỉ còn lại một miền xưa rất lạ

Tôi chạm vào chiều xanh ngát lên thêm

Tôi chạm vào phía ánh nắng vàng lên

Ngày hôm ấy trời bỗng xanh mơ mộng

Chiếc lá nào bay qua triền gió lộng

Trả tôi về ngơ ngác tuổi mười ba !

@. Cảm nhận:

Trả tôi về tuổi mười ba, tuổi chưa biết yêu, tuổi chưa biết “cánh hoa nào rơi trên vạt áo em” để đừng “sợ hương bay vội vã” Được không?

HAY VÀNG LÊN MẤY NẺO TA VỀ !

Tạm biệt mùa thu ta về với tháng mười

Cơn mưa cuối cùng chưa trở lại

Để hôm qua là mãi mãi

Níu tay người níu vội một làn hương !

Sắc tím hoa xưa hay bóng nhỏ cuối đường ?

Ta về nhặt thêm tuổi hạ.

Thời gian có còn xanh màu lá

Hay vàng lên mấy nẻo ta về?

@. Cảm nhận:

Tạm biệt mùa thu ta về với mùa đông (tháng mười), mùa buồn, mùa lạnh lẽo. Tai sao?

— Mất mùa thu kỷ niệm, mất em rồi thì mùa nào không là mùa đông?

Ta trở về tìm kỷ niệm, tình còn xanh tươi không?

— Níu tay anh hỏi thu phai ?

Thưa em. thu đó vẫn hoài thu xưa ! (Nguyên Lạc)

ANH GỬI

Những câu thơ nhẹ như hơi thở

Anh gửi từ đâu em biết không ?

Ngày mai nắng biếc xanh nhung lụa

Là buổi em về khơi nhớ mong.

Phía ấy phải nơi ta hò hẹn

Quỳnh hoa một đóa trổ môi người

Anh thắp lên đêm nồng ân ái

Khơi trần một nốt nhạc trầm tươi!

@. Cảm nhận:

Bài này tự nó đã hay,  “nói năng chi cũng thừa” (Nguyễn Tất Nhiên)

MÙA SEN PHỐ

Em đan mùa hạ trên những ngón tay!

Thổi vào hoa sen hương thơm phố thị

Ta ngắt lấy chùm thời gian trên tờ lịch cũ

Thả những nốt trầm lên mảng tường rêu

Ngày hôm qua hanh vàng hay sắc áo em thêu

Và ai đó gửi mùa chia ly lên cánh bằng lăng tím

Hạ vẫn ngát xanh cháy mãi vùng hoài niệm

Ta bồi hồi ? Em hay nàng thiếu nữ trong tranh!

Con đường nào qua còn lại những dấu chân

Tơ nhện chùng chạm cong vênh nổi nhớ

Cảm ơn người mang mùa sen vào lòng phố

Để hương bùn non giữ lại hình bóng quê nhà

Phố vẫn cứ buồn buồn như sắp phải chia xa

Phố thức không ngủ đợi người về cùng tháng sáu

Trời chớm lạnh sắt se đi qua mấy mùa giông bão

Xin hãy cứ lặng thầm gửi lại phố những mùa sen!

@. Cảm nhận:

— “Ngày hôm qua hanh vàng hay sắc áo em thêu”: Gợi nhớ đến “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc / Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Nguyên Sa)

— Và ai đó gửi mùa chia ly lên cánh bằng lăng tím

Hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thủy, sự ngây thơ của màu tím đã tượng trưng cho tình đầu thuở học trò.

Bằng lăng hoa tím tôi về

Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai

Đường xưa áo trắng tóc dài

Trường xưa hoa rụng tím ai nỗi lòng! (Nguyên Lạc)

— Tình em như hương thơm hoa sen thổi vào phố thị hồn anh

BỞI EM LÀ MỘNG

(Tôi yêu đời bằng tình yêu tôi có 

Tôi yêu người bằng một trái tim vui !)

Tôi về phía biển tìm em

Để nghe nỗi nhớ ru mềm bước chân !

Sóng chiều nở đóa bâng khuâng

Biển xôn xao hát mỗi lần em qua 

Môi em một đóa ngọc ngà 

Tay em gối mộng lụa là đêm thiêng

Nghìn năm em vẫn trinh nguyên

Bởi em là mộng tôi điên say tình!

GỬI CÁT

Đôi cánh nào

bay về phía hoàng hôn

Cõng hạt nắng

mềm bờ vai của biển

Em có thấy

thời gian xanh quyến luyến

Chia khung trời

hai phía gửi mùa đi

Một nửa cho em

một nửa xuân thì

Tôi gửi lại

chút hồn thơ vào cát

Về đi em

nghe thì thầm biển hát

Khúc ru tình

rơi xuống mấy dòng thơ

@. Cảm nhận:

Hết những kỷ niệm buồn trong thành phố, giờ là biển, là bãi buồn với cát nhung êm khiến tôi nhớ đến “Nha trang ngày về” của Phạm Duy:

Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya 

Đêm xưa biển này, người yêu trong cánh tay 

Đêm nay còn cát trắng, đêm nay còn tiếng sóng 

Đêm nay còn trăng soi, nhưng rồi chỉ còn tôi 

Trên bãi đêm khóc người tình. 

***

Còn nữa, còn nhiều lắm những bài thơ thanh thoát “không son phấn”, “không dao kéo”, những bài thơ xuất phát từ “cái tôi chân thật”, cái tôi cảm xúc thật lòng, cái tôi sẵn sàng chịu thua thiệt.

Mong rằng sẽ đọc được thêm những tập thơ tuyệt vời từ thi nhân, dưới dạng thi tập nếu nó thoát qua được “bộ lọc định hướng”, hay “sổ đoạn trường” theo cách gọi riêng tôi.

Nguyên Lạc

………………..

Tham khảo: Võ Kỳ Điền, Nguyễn Hưng Quốc,Phạm Đức Nhì, Quỳnh Nga Facebook, Thi viện …

One comment

  1. .
    Xin lỗi các độc giả, trong phần cảm nhận thơ Quỳnh Nga bài MÙA THU THEO CÁNH GIÓ, chữ GIẤU tôi viết nhầm là chữ DẤU, xin các bạn chỉnh lại giùm cảm ơn

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s