NGUYỄN BẢO HƯNG – Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bạn Kim Quý ơi,

     Ba bài viết của ông bạn nói về cái chết của Bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, cũng như của hai cô con gái là Ngô Đình Lệ Thủy và Ngô Đình Lệ Quyên đã khiến tôi vô cùng xúc động. Xúc động, không riêng vì cả hai chi em đều thiệt mạng do tai nạn xe hơi, mà cái chết bi thảm của hai người, cũng như cái chết của bà Nhu, lại đều xảy ra vào tháng Tư là tháng của lễ Pâques, làm như có sợi giây định mệnh khắc nghiệt nào đó muốn kết hợp số phận ba mẹ con với nhau.

Bên cạnh nỗi xúc động này, phần Quý dành nói về phong cách giữ im lặng và khắc kỷ của Bà Nhu trong suốt thời gian sống lưu vong tại hải ngoại, đặc biệt tại Pháp, sau khi ông Diệm và ông Nhu bị bọn tướng lãnh phản bội sát hại. làm tôi nhớ lại và ân hận cho thái độ ngu ngốc tối dạ của mình thời xảy ra cuộc đảo chánh. Hồi đó, cũng nhu đa số người dân miền Nam lúc bấy giờ, tôi tin vào luồng dư luận của những fakenews do một số truyền thông Mỹ tung ra nhằm triệt hạ uy tín hai anh em ông Diệm và dọn đường cho cuộc đảo chánh: nào là chế độ gia đình trị, chính quyền độc tài tham nhũng, kỳ thị tôn giáo; thậm chí còn có tin đồn ông Diệm thông dâm với Bà Nhu nữa… Trước những lời đồn đại ấy, Bà Nhu đã cố lên tiếng, kể cả ra nước ngoài, gọi là để “giải độc”. Nhưng hồi đó tôi đâu có tin, và cho bà chỉ giỏi đóng kịch môm loa mép dài. Nay nhìn lại, tôi mới thấy rằng, đúng như Quý nhận định, tất cả đều là những nguồn tin ngụy tạo được Mỹ tung ra nhằm chuẩn bị cho việc thay đổi chính sách tại Việt Nam của họ. Chỉ riêng một sự kiện này thôi: Sau khi đảo chánh thành công, phe tướng lãnh đã kết tội anh em ông Diệm là tham nhũng. Nhưng họ có nêu ra được bằng chứng nào về dinh thự, về tài sản, về trương mục ở trong hay ngoài nước để nói lên tài sản kếch sù của gia đình họ nhà Ngô đâu. Như Quý cho biết : Ngô Đình Lệ Thủy bi thiệt mạng trên chiếc xe Peugeot do Tổng giám mục Ngô Đình Thục vừa mua cho. Còn Ngô Đình Lệ Quyên, dù đậu bằng tiến sĩ Luật nhưng không chịu vào quốc tịch Ý nên không được làm giáo sư đành chấp nhận đi làm trên một chiếc xe gắn máy để bị xe hơi tông chết thảm. Riêng Bà Ngô Đình Nhu, tôi nghe nói thời gian sống tại Pháp trước khi qua đời, Bà sống âm thầm ẩn dật  trong một appartement nhỏ ở quận 15 Paris, không thuộc quyền sở hữu của bà, mà là của một thân nhân cho ở nhờ. Chỉ một vài chi tiết cụ thể nêu trên cũng đủ cho thấy tất cả những dư luận liên quan đến gia đình ông Diệm đều là những câu chuyện dựng đứng nhằm lật đổ chính quyền do ông lãnh đạo nằm trong kế hoạch thay ngựa giữa dòng để thực hiện chiến lược mới của Mỹ trong vùng Đông Nam Á. Giờ nhớ lại, với khoảng cách tầm nhìn có được, tôi mới thấy thái độ vui mừng biểu lộ của tôi hồi đó, quả là nông nổi và xuẩn động.

     Trong niên khóa chót 1962-63 tại Văn Khoa Sài Gòn, Quý cho biết có được là bạn đồng môn với Ngô Đình Lệ Thủy. Tiếc rằng niên khóa đó tôi đã rời Văn Khoa và đang dạy học tại Gò Công nên không có cơ hội được tiếp xúc với cô Lệ Thủy. Tuy nhiên bài viết của Quý đã làm sống dạy trong tôi những kỷ niệm khi mới được làm cậu sinh viên văn khoa : Cái năm tôi theo học lớp Dự bi Pháp (Propédeutiques françaises) và cũng là năm Văn Khoa Sài Gòn bắt đầu khánh thành trụ sở tại góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Trung Trực, nguyên là khám đường cũ, và sau này khi trường chuyển về đại lộ Thống Nhất thì đổi thành Thư viện Gia Long.

Tấm băng tú tài hai còn thơm mùi giấy mực, nay lại được làm cậu sinh viên văn khoa đặt trụ sở ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông, khỏi phải nói cái mặt thằng tôi hồi dó nó câng câng như thế nào. Tuy nhiên, tôi chỉ biết vênh váo cái mặt ra điều ta đây vậy thôi. Là sinh viên ở trọ lại gốc dân thỏ đế, tôi đâu dám gạ gẫm làm quen với ai. Bởi vậy mỗi lần tan giảng đường, tôi không biết làm gì khác là tới la cà các tiệm sách Việt Bằng, Khai Trí trên đường Lê Lợi, lấy việc coi cọp ít trang của một vài tựa sách mới làm niềm vui. Hạnh phúc của tôi là những ngày chủ nhật. Buổi sáng mấy bũa đó, sau khi kiểm điểm số tiền ky cóp trong tuần thấy đủ, tôi mới thắng bộ đồ vía dành cho những dịp lễ lớn, lọc cọc đạp xe tới gửi trạm coi xe kế cận trường Văn Khoa. Tiếp đến, mò tới tiệm Phở Minh bên hông rạp hát bóng Casino trên góc đường Pasteur-Lê Lợi kêu một tô phở đặc biệt với đủ bộ tứ trụ tái, sách, gầu, vè không quên đòi phải có thêm hành trần nước béo. No nê rồi, tôi mới băng qua đường ghé lại quán Mai Hương đối diện kêu một ly cà phê sữa đá để giải khát. Ít khi tôi ngồi một mình, thường kiếm một khuôn mặt quen nào đó tới ngồi chung bàn, nhưng thanh toán sòng phẳng theo kiểu à l’américaine, nghĩa là tiền nước ai người nấy trả. Vừa nhâm nhi cà phê và tán gẫu, tôi vừa đưa mắt theo dõi mấy cô nữ sinh Gia Long, Trưng Vương thướt tha trong chiếc áo dài trắng, lí lắc trò truyện với nhau. Đôi khi gặp được một em dân Ma Ri Cút (nữ sinh Marie Curie) mặc váy chẽn (jupe serrée) để lộ hai bắp chân trắng nõn, còn cặp mông tròn lẳn dưới làn vải bó sát lại nhún nhảy đong đưa như hai quả lắc trên tay anh chàng đứng đánh nhịp cho vũ điệu mambo – cha cha cha, là tôi mỉm cười khoái trá. Anh bạn ngồi chung bàn thấy tôi mặt mày hớn hở như thằng ở nhăn nhở cười với chủ mấy ngày cuối năm, bèn phán một câu xanh rờn để chọc quê : “ Đã biết mình nghèo mà lại còn ham”. Biết anh bạn muốn đá giò lái, tôi đâu có vừa bèn phản pháo bằng một câu rờn xanh không kém : “Bởi em phận nghèo nên mới còn đường để mà ham”. Lúc đó, tôi tưởng trả lời theo kiểu tắc cô tắc (du tac au tac) như vậy là chỉ để đáp lễ anh bạn cho đúng luật ân oán giang hồ có ăn có trả. Ai ngờ sau qua nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, giờ ngẫm lại, tôi mới thấy chữ ham dùng trong câu trả lời lúc đó ý nghĩa làm sao. Chẳng khác chi chữ fête trong cuốn sách mang tựa « Paris est une fête » (1) của Hemingway cả. Bởi vì chữ ham trong câu trả lời của tôi không chỉ có nghĩa thèm thuồng, ấm ức như anh bạn có ý gán cho tôi. Trái lại, chữ ham của tôi lúc đó lại bộc lộ niềm tin phấn khởi vào một tương lai tốt đẹp sẽ tới. Đó cũng là cái tâm trạng của hầu hết người dân miên nam Việt Nam thời bấy giờ : Thời kỳ một đất nước người dân sống an lạc hài hòa, như Lam Phương ca ngợi trong bản « Nắng đẹp miền Nam ». Thời kỳ một đất nước lai láng « Tình quê hương » như tựa bài hát mang lời thơ Phan Lạc Tuyên được Đan Thọ phổ nhạc:

Anh về qua xóm nhỏ

Em chờ dưới bóng dừa

Nắng chiều lên mái tóc

Tình quê hương đơn sơ…

Nhưng tiêu biểu cho cái tinh thần lạc quan và chan chứa tình người ấy, chắc phải kể bản « Xóm đêm » của Phạm Đình Chương qua lời ca ghi lại dưới đây, mà tôi mong là đúng với nguyên bản :

Đường về canh thâu

Đêm khuya ngõ sâu như không màu

Qua phên vênh có bao mái đầu

Hắt hiu vàng ánh điện câu.

Đường dài không bóng

Xa nghe tiếng ai ru mơ màng

Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn

Có đôi lòng vững chờ mong.

Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm

Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm

Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thềm

Đẹp kiếp sống thêm.

Màn đêm tịch liêu

Nghe ai thoáng ru câu mến trìu

Nghe không gian tiếng yêu thương nhiều

Hứa cho đời thôi đìu hiu.

Đêm tha hương ai vọng trông

Đêm cô liêu chinh phụ mong

Đêm bao canh mưa âm thầm

Theo gió về khua cơn mộng

Hẹn mai ánh xuân nồng.

Cho nên đêm còn dậy hương

Để dìu bước chân ai trên đường

Để nhìn xóm khuya không buồn

Vì người biết mang tình thương.

Hãy khoan bàn về thể điệu tác giả chọn để diễn tả ý nhạc vội. Chỉ cần nhìn hình thức lời ca được phân đoạn như trên, ta đã có thể coi  Xóm đêm là một bài thơ. Mà quả đúng là một bài thơ, theo tôi. Không chỉ do nhịp điệu và vần điệu của mỗi khổ, mà mỗi từ Phạm Đình Chương sử dụng đều được chọn lọc cân nhắc để chuyển tải một ý nghĩa đặc biệt, khiến ta có thể sánh toàn bộ ca từ của ông với một bài thơ biểu tượng hàm súc, gợi cảm gợi ý.

Hai chữ canh thâu ngay trong câu mở đầu Đường về canh thâu, đã gợi trong ta, qua thành ngữ « thức suốt canh thâu », ý nghĩ khu xóm đó chắc phải xa xôi lắm. Thực tế, sự cách xa đó chưa hẳn do khoảng cách, mà do sự khác biệt lớn lao giữa hai thế giới, giữa hai cảnh sống : một bên là chốn phồn hoa ánh đèn rực rỡ, một bên là xóm nghèo với những con hẻm tối tăm (ngõ sâu như không màu), nơi sống âm thầm những con người thuộc thành phần vô tên tuổi (bao mái đầu) trong những mái tranh xiêu vẹo (phên vênh). Cũng trong câu hai này, ta cần để ý là Phạm Đình chương đã không viết ngõ tối hay ngõ vắng là những từ rõ nghĩa khiến trí tưởng tượng của ta ít còn đường dụng võ. Từ sâu, trái lại, không chỉ bao hàm ý vắng và tối, mà còn gây cho ta cảm giác một cái gì đó bí ẩn, đe dọa (hang sâu, vực thẳm), khiến người lạ đi ngang vội chùn bước, không muốn dấn thân vào một chốn được coi hiểm nghèo. Phạm Đình Chương, trái lại. Qua màu vàng hiu hắt của ánh điện câu, ông không chỉ tìm thấy nơi đây những con người, mà còn là những tấm lòng.

Thế nhưng, dường như đó lại không phải là cảm nhận của giới tự cho nghe nhạc sành điệu ngày nay, đặc biệt thành phần con cháu mấy ông bà tân đại gia hay viên chức của quyền. Chả thế mà trong một youtube được phổ biến trên mạng, có lần tôi được nghe một bà MC, để giới thiệu bản Xóm đêm, đã bày tỏ lòng trắc ẩn trước cảnh một cụ già tối tối ngồi co ro trong manh chiếu rách trong một khu xóm nghèo và kêu gọi mọi người đi ngang hãy nhủ lòng thương tới bố thí cho ông già. Điệu nghệ hơn, trong một youtube khác, là cảnh một ông ca sĩ ăn vận như ông hoàng trổ tài diễn tả bản Xóm đêm bên chiếc xe kéo nạm bạc đặt giữa tòa lâu đài hoành tránh như trong một câu chuyện huyễn hoặc Ngàn lẻ một đêm. Diễn tả bản nhạc theo các phong cách ấy, chắc chỉ dành cho những thành phần có thói quen vừa nghe nhạc vừa liếc mắt đọc mục nhắn tin trên smartphone loại xịn, và cho rằng chỉ cần lắc lư cái đầu theo nhịp gõ tắc sình tắc sình của giai điệu rumba quyến rũ là đủ chứng tỏ ta đây dân sành điệu. Họ đâu thắc mắc về hai chữ «điện câu » trong lời ca hắt hiu vàng ánh điện câu ý nói gì. Giả thử có thắc mắc, họ rồi cũng sẽ nhún vai nghĩ rằng điện câu hay điện soi, cũng thế thôi. Chẳng qua là do ca sĩ hát sai lời, hoặc do sơ ý của người viết nhạc mà ra. Tôi cho rằng một thái độ nghe nhạc hời hợt như vậy chẳng khác chi muốn biến bản nhạc mang giai điệu rumba của Phạm Đình Chương thành một thứ nhạc sến, bắt nhạc sĩ tài hoa của chúng ta phải đội mồ sống dạy để phân bua rẳng ông không hề nuôi ý đồ sáng tác bản nhạc trong tinh thần đó. Thực ra, cái đem lại cơm cháo cho bản Xóm đêm, cái khiến bản nhạc có đáng đồng tiền bát gạo để người yêu nhạc lắng nghe như là một tác phẩm có giá trị văn hóa nghệ thuật hay không là nằm trong ba chữ ánh điện câu, chứ không phải bằng biểu lộ thái độ trắc ẩn kênh kiệu ấy. Tại sao vậy ?

Học giả Pháp Ernest Renan trong L’Avenir de la science (1848) có viết một câu vẫn thường được dùng làm đề luận văn cho ban tú tài Pháp : « La vraie admiration est historique » (Sự tán thưởng đích thực có nội dung lịch sử). Với tôi, có lẽ chưa bao giờ câu nói để đời này lại thích hợp với trường hợp bản Xóm đêm cho bằng. Bởi vì có đặt bản nhạc trong bối cảnh lịch sử nó được sáng tác, ta mới thấy mấy chữ vàng ánh điện câu Phạm Đình Chương sử dụng là có chủ đích. Và có nắm được dụng ý này, ta mới thưởng thức hết được cái tinh hoa nghệ thuật trong ý nhạc lời thơ của bản Xóm đêm.

Xóm đêm, nếu tôi nhớ không lầm, được ra đời khoảng 1956 hay 1957 gì đó, nghĩa là chỉ vài ba năm sau Hiệp Định Genève, hiệp định biến cố dẫn đến hơn một triệu người dân rời miền Bắc đến sinh sống tại miền Nam. Do dân số gia tăng đột ngột, nhất là các khu ngoại ô quanh Sài Gòn, nhu cầu về điện cũng gia tăng theo. Hồi đó Đập Đa Nhim nhằm cung cấp năng lượng cho một công trình biến điện mới còn đang giai đoạn xây cất, Nhà máy điện Sài Gòn cũ không đủ khả năng cung cấp điện cho mọi người. Tại các khu xóm lao động ngoại ô, chỉ những người dân cư ngụ lâu đời mới có công tơ điện mà thôi. Những người mới đến lập nghiệp hầu như phải sống ngập chìm trong bóng đêm. Trước cảnh ngộ đó, chủ nhân các công tơ điện, để tỏ tình tương thân tương trợ, đã đồng tình cho các gia đình mới đến được dùng giây điện móc vào công tơ của mình để có ánh sáng, cho dù ánh đèn của họ có bị yếu ớt vàng vọt theo. Đó chính là ý nghĩa của câu « Hắt hiu vàng ánh điện câu », và Phạm Đình Chương đã sử dụng hai chữ « điện câu » với chủ đích rõ rệt.

Giả dụ có ai thay thế chữ « câu » bằng chữ « soi » để biến câu nhạc của Phạm Đình Chương thành « hắt hiu vàng ánh điện soi ». Câu nhạc được sửa đổi này, ta nghe thấy thích hợp hơn vì được làm sáng nghĩa hơn. Nhưng với từ « soi » được dùng để thay thế này, thì hình tượng« hắt hiu vàng » ở đây lại được hiểu theo nghĩa một ánh sáng èo uột, le lói nói lên sự nghèo hèn thấp kén. Và hình ảnh gợi lên do sự sửa đổi này sẽ đem lại cho người nghe cảm giác bản nhạc của Phạm Đình Chương chỉ để mô tả cảnh sống cơ cực lầm than của một khu xóm nghèo hèn tăm tối. Cảm giác này đã hoàn toàn phản lại tinh thần và quan niệm sáng tác của tác giả. Cảm xúc của ta, do đó, sẽ bị hướng theo một ngả khác.

Thọat nghe, bốn câu mở đầu của bản Xóm đêm cho ta cảm giác đứng trước một khu xóm tồi tàn với những mái tranh xiêu vẹo (phên vênh), trong đó sống lầm lũi những thân phận nghèo hèn không ai cần biết tới (có bao mái đầu). Nhưng với Phạm Đình Chương lại khác. Bằng cảm nhận tinh tế của một nghệ sĩ tài hoa, ông không chỉ thấy cái nghèo hèn của ánh vàng hiu hắt, mà qua ánh điện èo uột le lói đó ông lại nhìn ra ánh hào quang nhân bản của một thế giới chan chứa tình người. Cái hào quang nhân bản ấy được tỏa ra từ âm vang của những lời ru trìu mến, khiến Phạm Đình Chương cảm thấy bị cuốn hút vào cái ngõ sâu như không màu ấy. Và càng đi vào sâu, ông càng thấy đời sống ở đây không chỉ có là một bãi sình lầy hôi hám khiến kẻ phàm tục đã vội tìm đường lảng tránh. Trái lại, ông tìm thấy nơi đây một đầm sen quí với những bông sen tinh khiết đang tỏa ngát hương thơm. Con người nơi đây sống thầm lặng, nhưng tình cảm nồng nàn đằm thắm (Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm). Và chung thủy : Cảnh vật có thay đổi (Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn), nhưng lòng người không có đổi thay (Có đôi lòng vững chờ mong). Một vài ca sĩ khi hát, không biết do vô tình hay hữu ý, đã đổi chữ « vững » ra thành « vẫn ». Tôi cho đây là một sửa đổi đáng tiếc. Bởi vì « vững » và « vẫn » không đồng nghĩa trong bản nhạc này. « Vẫn » nói lên sự chờ mong mòn mỏi như một nỗ lực để làm tròn nghĩa vụ ; còn « vững », trái lại bày tỏ một sự trung kiên, một tấm lòng son sắt. Nếu chịu khó lắng nghe và tìm hiểu lời ca của Xóm đêm, ta sẽ thấy mỗi từ ngữ Phạm Đình Chương sử dụng đều được chọn lọc với dụng ý chuyển tải một nội dung thông điệp ý nghĩa. Và bản nhạc của ông, do đó, có thể coi thuộc loại tình ca để ca ngợi cái đẹp của một khung cảnh nghèo nàn, với những con người sống lam lũ nhưng lương thiện, ăn ở có tình có nghĩa với nhau. Thế nhưng Phạm Đình Chương lại không soạn theo điệu Slow hay valse lente là những giai điệu dành cho nhạc tình ca; trái lại, ông cố ý chọn thể điệu Rumba với những nốt nhạc nhịp nhàng quyến rũ như muốn dìu bước chân ta đi sâu vào cái Xóm đêm ấy, để được nghe trong không gian có tiếng yêu thương nhiều, để được thấy nơi đó có những con người biết mang tình thương.

Trên đây là cảm nhận của riêng tôi về bản Xóm đêm. Cảm nhận có thể chủ quan, nhưng bởi nó gắn liền với một kỷ niệm tôi vẫn muốn nhớ mãi. Kỷ niệm về cái thời tôi mới đặt chân tới miền Nam sau khi Hiệp Định Genève được ký kết.

Hồi ấy, gia đình tôi phải tới tá túc nhà một ông cậu xa tại Xóm Chiếu thuộc khu Khánh Hội bên kia sông Sài Gòn. Tuy không xa thủ đô là bao, chỉ cách một cây cầu ngắn, nhưng Xóm Chiếu thời đó là một xóm lao động nghèo với nhiều mái nhà tranh lụp xụp và một góc chợ lèo tèo dăm ba quán tranh xiêu vẹo mang tên Chợ Xóm Chiếu. Lúc đó, tôi còn là một thiếu niên đang lo chuẩn bị thi bằng Trung học đệ nhất cấp Pháp (BEPC). Một bữa, trên đường đi học về ngang qua chợ, chợt gặp một chị bán trái cây chừng ba chục tuổi bày bán một thúng chất đầy măng cụt, bên trên có trưng một trái được bổ ngang phô bày những múi dày dặn trắng nõn nổi bật trên màu vỏ nâu thẫm. Măng cụt là thứ trái cây tôi vốn ưa thích, lại thấy chị đang trò chuyện với khách, tôi tò mò đứng ngó. Chờ khách đi rồi, tôi mới rụt rè lại hỏi giá và xin mua một chục. Chị vui vẻ chọn một hơi mười sáu trái to nhất, đẹp nhất, gói lại trao cho tôi. Tôi vội đảy ra và nói : « Tôi chỉ mua một chục thôi, đâu có nhiều thế này. » Chị nhoẻn miệng cười, hiền hậu nhìn tôi rồi nhỏ nhẹ đáp bằng một giọng ngọt ngào ấm áp, cái giọng nói tôi vẫn muốn coi là thứ quà đặc sản của người dân miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long : « Em ở ngoải mới dzô, nên chưa biết đó. Trong Nam một chục không chỉ có mười như ngoài Bắc đâu. Gọi một chục nhưng thường là mười hai, mười ba, mười lăm, có khi còn nhiều hơn nữa. Chị bán một chục mười bốn, nhưng biết em thích thứ trái cây này nên chị thêm hai trái làm quà cho em đó. » Tôi lẽn bẽn cầm gói trái cây chị trao, chỉ biết lí nhí hai tiếng cám ơn rồi vội quay đi. Chưa bao giờ tôi lại cảm thấy yêu đời và phấn khởi bằng lúc đó. Không, tôi không đang phải sống tha phương cầu thực. Tôi vẫn ở trên quê hương tôi đấy chứ. Tôi chỉ đặt chân tới một vùng đất mới, với những con người chưa quen biết, nhưng không hề xa lạ. Những con người trung hậu, niềm nở tiếp nhận tôi trong tình thương ruột thịt, nghĩa đồng bào. Đôi tay nặng chĩu, một bên cặp sách, một bên túi trái cây, tôi hân hoan bước đi bằng những bước chân sáo tung tăng của cậu bé trong buổi khai trường. Một khung trời rạng rỡ, một tương lai hứa hẹn đang vẫy chào tôi.

Ôi ! Việt Nam, quê hương tôi !

Ôi ! Việt Nam, con người, đất nước tôi là thế đó.

Đã lâu lắm rồi tôi không trở về thăm Việt Nam. Tính từ lần chót vào năm 2008 đến nay là vừa đúng mười năm.

Mười năm nước chảy qua cầu…

Mười năm để mưa rơi rơi xóa biết bao lối đi mòn.

Mười năm để mưa rơi rơi, nhưng liệu vẫn còn những đôi lòng vững chờ mong ?

Tuy đã mười năm không về thăm Việt Nam, nhưng qua lời của những người quen thuật lại, và qua hình ảnh trên các đài truyền hình, đặc biệt là trên hai kênh VTV4 và NetVieT, tôi được biết Việt Nam nay đã thay đổi nhiều, đặc biệt là về mặt phát triển và hiện đại hóa. Múc sống người dân trong nước, nói chung đã được nâng cao và cải thiện nhiều. Những khu xóm tồi tàn ngoại biên các đô thị lớn, như khu Xóm Chiếu trước đây, đang lần lượt biến mất. Thay vào đó là những khu biệt thư xa hoa hoành tráng như Phú Mỹ Hưng (Quận 4 SG) hoặc những tòa cao ốc, như Vinahomes Central Park mới đây, đua nhau mọc lên như nấm. Đây là nơi tọa lạc dành riêng cho một giai tầng xã hội có tiền của, có thế lực như muốn sống tách rời với thế giới chung quanh. Không biết có phải vì lý do an ninh, hay vì muốn bắt chước lối sống của mấy tay đại tư bản hoặc mấy siêu sao màn bạc Hollywood, họ cũng biến mấy nơi cư ngụ xa hoa này thành những vùng cấm địa an toàn, ra vào có nhân viên bảo vệ kiểm soát và canh gác. Không chỉ sống tách rời quần chúng bằng hàng rào an ninh, họ còn muốn nói lên sự khác biệt của mình bằng những trò chơi ngông y chang kiểu Mỹ. Tôi nghe nói một vài nhân vật bỗng dưng gây được một vài tài sản kếch xù (không biết bằng cách nào, do mánh mung hay móc ngoặc), để chứng tỏ sự thành công, ắt là phải thành nhân của mình (theo tam đoạn luận), họ cho trưng bày trong phòng khách, trong phòng ngủ bộ sa lông hay cái giường ngủ được giáp vàng lấp lánh sáng chói, khiến thiên hạ nhìn vào, ai cũng phải lắc đầu lè lưỡi. Trớ trêu thay, và cũng báo hại thay, cái trò thích chơi ngông này, nghe đâu lại do một số ông bà Việt Kiều đầu têu, đặc biệt là Việt Kiều tại Mỹ. Sau cái ngày được đặt chân tới bển, một số người bỗng dưng mắc chứng ưa nổ, mỗi lần về thăm bà con lại đem cái tước vị, không biết hư hay thiệt, và cái vỏ giàu sang của mình ra khoe để làm le với bà con lối xóm. Và do thói quen thường xuyên đi về, dần dà họ đem đổ bệnh cho một số bà con trong nước. Bởi vậy hiện tượng những khu biệt thự xa hoa lộng lẫy, những tòa cao tầng ngày một mọc lên như nấm, cũng như hiện tượng các tước vị tiến sĩ, phó tiến sĩ ngày càng trỏ thành phổ biến trong nước, chẳng khác gì loại rau muống xanh thẫm ngày càng thấy lan tràn trên những vũng lầy ô nhiễm do chất thải kỹ nghệ. Dẫu sao cũng phải nhìn nhận Việt Nam ngày nay đã có những bước tiến đáng kể về mặt cải thiện đời sống vật chất, chứ không như ở cái thời còn « phải vác dép râu đi vào vũ trụ » nữa.

Tiếc thay những thực hiện đáng kể về mặt công trình xây cất ấy chỉ nói lên được sự bắt kịp đà tiến hóa về mặt văn minh kỹ thuật, nhưng dường như không đóng góp được gì cho việc cải thiện đời sống tâm linh đem lại cho xã hội một khuôn mặt nhân bản thực sự tiến bộ. Bên cạnh những công trình kiến trúc cầu cống vĩ đại, những khu biệt thự xa hoa hoành tráng, những tòa nhà chọc trời ngạo nghễ, vẫn còn dấu vết của đời sống nhược tiểu với những khu phố nghèo nàn chật chội, những con hẻm tăm tối, người dân sống chen chúc trong những khu nhà ổ chuột như bất cứ thành phố nhược tiểu nào trên thế giới. Nhưng không chỉ có biểu hiện nhược tiểu về điều kiện sinh sống, mà đặc biệt còn cả về mặt tinh thần nữa. Của cải càng đổ vào nhiều, càng khiến người ta mỗi lúc một thêm đánh mất lời khuyên « Đói cho sạch, rách cho thơm» hay « Giấy rách phải giữ lấy lề » vốn là những lời khuyên đạo đức truyền thống của ông bà ta. Thay vào đó, câu « Phú quý vi tiên » đã được chọn làm phương châm sống để người ta đua nhau lấy việc phô trương của cải hay quyền thế như là thước đo giá trị con người. Bởi vậy không chỉ hiện tượng du khách lên tiếng than phiền bị chặt chém hay mua phải hàng đểu, đồ đểu mỗi lúc một nhiều ; đôi khi còn xảy ra trường hợp bị ngộ độc dẫn đến tử vong do ăn phải đồ hư thối, nhưng người bán hàng đã dùng hóa chất tảy rửa biến thành đồ ngon lành để đánh lừa thực khách. Biểu hiện cho sự xuống cấp của đời sống tinh thần này là sự xuống cấp trong sinh hoạt văn hóa, mà tiêu biểu là ngôn ngữ sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.

Có thể nói có lẽ chưa bao giờ tiếng Việt lại được sử dụng kỳ quặc, dị hợm tràn lan nhiều như ở Việt Nam hiện nay. Kỳ quặc, dị hợm không phải do bản thân các từ ngữ đó, mà do cách thức người ta sử dụng chúng. Như tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết trước đây (2), tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm nhưng lại gồm các từ được kết hợp bởi nhiều âm khác nhau đem lại cho nó một khả năng diễn tả phong phú, đa dạng với nhiều âm hưởng, màu sắc khác nhau. Thay vi suy nghĩ tìm hiểu, chọn từ cho đúng để diễn tả cho cụ thể, chính xác, người ta lại bắt chước nhau đua đòi khoe chữ để che đậy sự lười biếng hay dốt nát của mình. Thấy chữ nào có vẻ hay, mới lạ hoặc uyên bác là nhắm mắt sử dụng một cách bừa bãi khiến chúng trở nên dị hợm hay kì quặc. Giả dụ để mô tả một thiếu nữ có thân hình đẹp, tùy theo vóc dáng cô ta, ta có nhiều hình thức diễn tả để gợi lên trong tâm trí người đọc, người nghe hình ảnh cô gái đó :

  • « Cô ta có thân hình mỏng manh sương khói », nếu là một cô gái tấm thân ẻo lả, yêu đuối.

  • « Cô ta thân hình mềm mại như cành tơ liễu rủ », nếu là cô gái có vóc dáng nhẹ nhàng thanh tú.

  • «Cô ta có một thân hình cân đối quyến rũ » để chi một thiếu nữ có những đường nét phát triển hài hòa.

  • « Cô ta có một thân hình nảy nở khêu gợi », để chỉ một cô gái có đường vòng số hai, số ba rất ư là bắt mắt…

Một vài thí dụ nêu trên đủ cho thấy tiếng Việt phong phú chừng nào để mô tả hay diễn đạt. Nhưng thay vì chịu khó quan sát và tìm từ để diễn tả cho chính xác giúp cho người đọc, người nghe hình dung được các nét đặc sắc của người đẹp, người phát biểu lại phang một câu búa tạ thuộc loại sau như để khoe với thiên hạ sư hiểu biết uyên bác của mình, hoặc ra điều ta đây con nhà có ăn học đàng hoàng tử tế: « Cô ta sở hữu một ngoại hình hoành tráng thuộc loại siêu khủng ». Trước một câu văn đày chữ nghĩa đao to búa lớn hoành tráng (?) như vậy, ông nội tôi có sống lại, sau khi rít xong trọn một bao thuốc lào, ông cụ chắc cũng đành lắc đầu chịu thua, không biết xoay sở thế nào để giúp tôi hình dung ra được cô gái xấu đẹp, béo gầy ra sao cả. Bởi vậy tác giả các câu văn thuộc loại này, càng cho đính kèm tên mình nhiều bằng cấp hay tước vị chừng nào thì lại càng để lòi cái đuôi trình độ văn hóa học (chứ không phải thất học ) của họ ra chừng đó.

Đã lâu rồi, tôi không còn là một công dân Việt Nam nữa. Trên danh nghĩa. Cũng đã lâu rồi tôi trở thành công dân một xứ sở văn minh tiên tiến cho phép tôi được hưởng một cuộc sống tương đối đày đủ về mặt tiện nghi vật chất, thoải mái về mặt tinh thần, đặc biệt là về quyền tự do ăn nói. Nhưng không vì thế tôi cảm thấy mình hết còn là một con người Việt Nam. Trái lại là đằng khác. Càng sống cách xa Việt Nam bao nhiêu, tôi càng cảm thấy luyến nhớ và gắn bó với mảnh đát mang hình chữ S năm bên bờ Thái Bình Dương ấy, nơi tôi đã sinh ra và trưởng thành, nơi đó tôi đã trải qua không ít biến cố thăng trầm, để lại trong tôi biết bao nỗi niềm vui có, buồn có nhưng với tôi nay đều là những kỷ niệm đẹp (3). Bởi vậy tôi cảm thấy buồn, nếu không muốn nói là đau lòng mỗi khi thấy bất cứ ai lên tiếng thóa mạ đất nước Việt, lăng nhục người dân Việt. Lịch sử thế giới cho thấy đất nước nào, quốc gia nào cũng đều trải qua nhiều triêu đại, nhiều thể chế, nhiều chính quyền khác nhau. Nhưng rồi mọi triều đại, mọi thể chế, mọi chính quyền, dù tốt đẹp hay thối nát, đều cũng qua đi. Chỉ riêng những đât nước và những con người sống bám rễ trên các mảnh đất mà họ gọi là tổ quốc ấy, là vẫn tồn tại. Bởi vậy tôi luôn luôn tin tưởng một ngày tương lai sáng lạn sẽ đến với Việt Nam. Tương lai sáng lạn, không phải chỉ bằng những công trình kiến trúc đồ sợ, những khu biệt thự lộng lẫy với đồ nội thất trưng bày xa hoa choáng ngợp, những tòa cao từng hoành tráng mọc lên như nấm. Bên trên mấy thứ đó, điều tôi mong muốn hơn hết cho Việt Nam, đó là cái ngày của « Mùa xuân đầu tiên » như tựa bản nhạc Văn Cao đã sáng tác vào đầu xuân 1956, gần hai mươi năm trước khi ông qua đời, nhưng được coi như bản nhạc chúc thư của ông. Gọi là bản nhạc chúc thư bởi vì nhạc sĩ Văn Cao đã nói lên niềm mơ ước được thấy sẽ tới cái ngày của « Mùa xuân đầu tiên » ấy , cái ngày để :

Từ đấy người biết quê người,

Từ dấy người biết thương người,

Từ đấy người biết yêu người…

Cám ơn ông bạn Nguyễn Kim Quý, tác giả Kim Thanh đã gửi cho bài viết về cái chết của ba mẹ con bà Ngô Đình Nhu. Bài viết của ông bạn không chỉ là một bài tường thuật về trường hợp cái chết của ba nhân vật này. Nó còn là một tài liệu sưu tầm hữu ích cho những ai muốn làm công tác « trả lại cho César cái gì của César », hay đúng ra là trả lại cho lịch sử ánh sáng chân lý lịch sử. Riêng về phần tôi, bài viêt của ông bạn còn tạo cơ hội cho tôi làm cuộc hành trình đi tìm thời gia đã mất, qua đó tôi được bồi hồi sống lại những cảm xúc đẹp của một thời huy hoàng vang bóng. Cái thời tôi còn là một học sinh niên thiếu được đến sống tại một khu xóm ngoại ô nghèo hèn với một góc chợ lèo tèo dăm ba quán tranh xiêu vẹo. Nhưng ở đó tôi đã được nghe không gian tiếng yêu thương nhiều. Nhưng ở đó tôi đã được gặp những con người biết mang tình thương.

Than ôi, thời oanh liệt (ấy) nay còn đâu ! (Lời thơ Thế Lữ)

(Bắt đầu đặt bút viết một ngày vào cuối tháng Tư 2018,

viết xong một ngày vào thượng tuần tháng Bảy 2018)

NGUYỄN BẢO HƯNG

————————————————————————–

  1. Mời đọc bài «Paris est une fête, hay là câu chuyện về một cuốn sách » đã được phổ biến trên một số trang mạng hay diễn đàn hải ngoại.

  2. Bài « Có nên đặt vấn đề về khả năng diễn đạt của tiếng Việt ? » đã được phổ biến.

  3. Bài « Dấn bước thăng trầm », cũng của người viết.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s