Ngô Viết Trọng – LIỆT NỮ NGUYỄN THỊ NIÊN

Đền thờ Liệt Nữ Nguyễn Thị Niên

Văn phái hầu Nguyễn Quyện lấy quận chúa Ngọc Tỷ (con của Khiêm vương Mạc Kính Điển, tể tướng nhà Mạc) sinh được hai con gái là Thị Thể và Thị Niên.

Chị em Thị Thể và Thị Niên càng lớn lên càng xinh đẹp. Cả hai đều tỏ ra ngoan hiền, thông minh khác thường. Khiêm vương thấy hai cháu ngoại như vậy thì mừng lắm. Ông đặc biệt cho lựa những vị nữ quan xuất sắc lo việc dạy dỗ cho hai cháu.

Năm 1575 vua Mạc Mậu Hợp ở ngôi đã được 13 năm. Tuy mới 15 tuổi vua đã ra dáng một thanh niên cao lớn, phương phi. Được các cung nhân xinh đẹp săn sóc chiều chuộng từ thuở nhỏ nên ngài cũng sớm mắc chứng đắm mê nữ sắc.

Ngày đêm ngài chỉ biết vui thú với đám cung nhân, mọi việc trong triều ngài phó mặc cho Khiêm vương lo tính cả. Thấy cần phải có một người chính danh đủ khả năng tiết chế sự buông tuồng của vua, triều thần thưa với Khiêm vương:

-Nay hoàng thượng sắp đến tuổi trưởng thành, tưởng cũng nên lập hoàng hậu để có người cai quản tam cung lục viện giúp thái hậu giảm bớt gánh nặng. Xin đại vương xét vấn đề ấy cho.

Khiêm vương nói:

-Các khanh nói phải lắm. Thật ra ta đã có chủ định về việc ấy rồi. Ta thấy con gái của Văn phái hầu Nguyễn Quyện là Thị Thể tài sắc vẹn toàn, nết na hơn người, rất xứng đáng ở ngôi vị hoàng hậu. Ta sẽ tâu trình việc này với thái hậu để ngài quyết định.

Thế rồi năm 1576, Thị Thể được rước vào cung phong làm hoàng hậu.

Sau khi cô con gái lớn Thị Thể vào cung, Nguyễn Quyện được cải phong từ tước Văn phái hầu lên tước Thạch quận công. Vì cuộc chiến ngày càng mở rộng, ông vẫn phải tiếp tục lăn lộn trên các chiến trường.

Thị Niên vốn sống khắng khít bên Thị Thể suốt thời thơ dại, sự ra đi của Thị Thể đã làm Thị Niên thương nhớ đến biếng ăn biếng ngủ, thân xác héo mòn. Quận chúa Ngọc Tỷ thấy thế vô cùng lo ngại. Tới khi nhận được tin Thạch quận công đang về dưỡng quân ở Hoa Lư (Ninh Bình) một thời gian, quận chúa Ngọc Tỷ quyết định dẫn Thị Niên đi thăm cha một chuyến cho khuây khỏa lòng.

Ngày hội ngộ tại quân doanh, Thạch quận công hỏi vợ:

-Quận chúa Ngọc Điểm độ này thế nào rồi?

Ngọc Tỷ thở dài:

Dì ấy mỗi ngày mỗi khô héo trông tội nghiệp lắm! Đã quá lâu Phủ hưng hầu có mấy khi về thăm nhà đâu. Có chồng mà cũng như không, trông có một đứa trẻ để tri trô với nó đỡ buồn vẫn không được. Hôm sớm dì ấy cứ vò võ ngồi than trời oán đất thôi!

-Nhà ta vậy mà may phước. Thị Thể bây giờ đã trở thành quốc mẫu, vinh quang cũng tột bậc rồi. Nay còn một mình Thị Niên tài sắc cũng vẹn toàn, ta cũng muốn kén cho con một chàng rể xứng đáng. Phu nhân đã nghĩ đến đám nào chưa?

Ngọc Tỷ cười:

-Dân gian vẫn có câu “Trai khôn tìm vợ chợ đông, Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” há lẽ chàng chưa nghe? Dưới tay chàng là cả một đạo quân lớn, thiếu gì anh hùng tuấn kiệt! Sao chàng không chọn cho con một tấm chồng?

-Việc chọn chồng giữa chốn ba quân cho con chưa hẳn là tốt đâu! Cứ nhìn cái gương dì Ngọc Điểm thì rõ! Nếu cứ gặp cảnh chinh chiến lâu dài thế này thì khổ cho con! Ta không muốn sau này con nó oán ta!

-Chàng nghĩ như thế cũng có lý. Nhưng tâm chí nữ nhi không phải ai cũng như ai. Thiếp biết Ngọc Điểm vốn hiền lành mềm mỏng, không ưa đọc sách mà chỉ ham việc thêu thùa. Thị Niên lại khác, hiếu động, ưa đọc sách sử và cũng thích cưỡi ngựa bắn cung như nam nhi. Thiếp nghĩ nó sẽ thích hợp với một vị trượng phu có tương lai khanh tướng. Hay là để con nó ở đây với chàng một thời gian biết đâu nó có cơ hội gặp các thuộc hạ của chàng mà chọn được bạn trăm năm vừa ý?

-Ý của phu nhân cũng hay đấy! Ta vốn phải đi chinh chiến liên miên, nay có dịp sống gần gũi gia đình một thời gian thì còn gì hơn? Nhưng quân ta đâu có thể đóng mãi ở chỗ này. Thôi thì mình với con cứ ở lại nơi này được ngày nào hay ngày đó. Mọi việc sẽ từ từ tính liệu.

*

Vào những ngày Thạch quận công bận rộn việc quân, mẹ con Ngọc Tỷ thường sai người nhà đánh xe dạo chơi quanh vùng cho biết. Hôm đó Thị Niên ghé chợ Trường Yên mua ít món đồ. Khắp chợ đâu cũng nghe thiên hạ bàn tán về lễ cống thần Thuồng Luồng sắp tới ở vực Vông. Nghe lạ tai, Thị Niên tò mò nhiều lần muốn hỏi chuyện cho rõ nhưng đều bị quận chúa gạt đi. Tới khi nghe loáng thoáng phần lễ vật có một thiếu nữ đồng trinh, Thị Niên không chịu được nữa, kêu lên:

-Lại cái trò nhũng nhiễu hại dân nữa đây! Mẹ phải để con hỏi cho ra chuyện chứ?

-Hỏi ra thì con sẽ làm được gì chứ?

-Con sẽ có cách! Dân đen bị chúng giết để làm giàu thế đó mẹ nỡ làm ngơ sao?

Thấy con gái giận dỗi quận chúa xiêu lòng:

-Thôi, được rồi! Hỏi chuyện giữa đường sá không tiện. Mình hãy tìm một quán ăn nào đó ngồi ăn rồi dò hỏi những thực khách cũng tiện. Con phải bình tĩnh, không được bợp chợp, nóng nảy, hỏi gì từ từ!

Lát sau mẹ con Ngọc Tỷ đã vào một quán cơm. Bà chọn một bàn ở góc trong cùng. Khi một người đàn bà đến hỏi dùng gì thì Ngọc Tỷ nói:

-Chị có rảnh không? Nếu rảnh, xin mời chị cùng dùng cơm với chúng tôi. Chúng tôi sẽ tính chuyện phải với chị. Cứ cho chúng tôi ba phần ăn hảo hạng. Thú thật chúng tôi ở xứ khác đến, có câu chuyện muốn biết. Mong chị không từ chối!

Người đàn bà nói:

-Tôi chỉ là người giúp việc, không dám tự tiện nhận lời. Nhưng tôi sẽ trình lại với bà chủ ý muốn của quí khách. Có thể bà chủ sẽ đến tiếp quí khách.

-Vâng, thì ai cũng được. Chị cứ dọn cho tôi ba phần cơm hảo hạng.

Cơm vừa bưng ra thì bà chủ cũng vừa đến:

-Kính chào quí khách. Tôi là chủ quán, đến đây để đáp ứng những điều quí khách yêu cầu.

-Thế thì may quá! Xin cám ơn bà quán. Nhân tiện, mời bà quán ngồi dùng cơm với chúng tôi luôn thể. Chúng tôi đã gọi sẵn ba phần ăn.

-Không sao, tôi ăn rồi, ngồi uống nước nói chuyện với quí khách cũng được. Quí khách muốn hỏi gì xin cứ hỏi.

Thị Niên lên tiếng:

-Thưa bà quán, nghe ở đây hằng năm vẫn có tổ chức lễ cống thần Thuồng Luồng một thiếu nữ đồng trinh phải không?

-Vâng, chắc tiểu thư ở xa tới nên chưa rõ. Chuyện đó ở đây vẫn tổ chức hằng năm.

-Tại sao người ta phải tổ chức lễ cống thần Thuồng Luồng như vậy?

-Thưa tiểu thư, nguyên ở con sông Hoàng Long chảy ngang qua huyện này có một cái vũng xoáy rất nguy hiểm gọi là vực Vông. Hàng năm cứ vào mùa nước lớn vực Vông vẫn thường nuốt trôi nhiều thuyền bè xuôi ngược trên sông, giết hại không biết bao nhiêu người. Các cụ xưa đã nhờ các đấng cao siêu cho biết nguyên nhân thì các ngài nói dưới vực có một vị thần Thuồng Luồng đòi hỏi mỗi năm phải nộp cho thần một thiếu nữ đồng trinh xinh đẹp để làm thiếp ngài. Vì thế, mỗi năm dân địa phương lại phải tổ chức một cuộc lễ tế linh đình, phải cống nạp thần Thuồng Luồng một cô gái đẹp còn trinh để cầu thần giúp đỡ giảm bớt sự chết chóc.

-Thưa bà quán, tục cống thần Thuồng Luồng này có từ khi nào?

-Cũng lâu lắm, từ lúc tôi còn nhỏ đã có rồi!

-Vậy chắc từ ngày có lễ cống thiếu nữ cho Thuồng Luồng thì vực Vông không còn làm đắm thuyền nữa?

-Không hẳn. Chuyện đắm thuyền chết chóc vẫn xảy ra như thường.

-Vô lý quá, vậy cống người làm gì?

-Thưa tiểu thư, các quan vẫn cho là bởi cống người không được đẹp như ý thần Thuồng Luồng đòi hỏi. Nhưng làm sao tìm ra được người đẹp vì cứ gần đến ngày cúng tế thì bao nhiêu con gái đẹp được thân nhân giấu sạch. Rốt cuộc chỉ có mấy cô con nhà bần cùng không được ai che chở phải hi sinh thôi.

Thị Niên nói với giọng uất hận:

-Thế đó! Bọn này gian ác thật!

Thấy con gái đã nổi nóng, Ngọc Tỷ lườm:

-Đó là phong tục địa phương, liên can gì đến mình mà con hỏi kỹ vậy?

-Con sẽ trình việc này cho bố biết!

Bà quán giật mình nhìn Thị Niên:

-Bố của tiểu thư là ai vậy? Ông ấy làm gì được đây?

Ngọc Tỷ nói giả lả:

-Không có gì đâu, cám ơn bà quán đã kể cho chúng tôi nghe chuyện này.

Hai mẹ con tính tiền xong rồi ra đi. Ngay tối hôm đó, Thị Niên thuật lại những gì đã nghe được với Nguyễn Quyện. Ông ni:

Thói tục địa phương, mặc họ con.

Thị Niên tỏ vẻ không bằng lòng:

-Thưa, một cái tục man rợ như vậy, bố làm cha mẹ dân mà ngó lơ đi được sao?

Nguyễn Quyện ngạc nhiên khi thấy tư tưởng của đứa con út có vẻ trưởng thành ngoài mong đợi của mình, ông vừa sợ vừa mừng hỏi lại:

-Vậy, theo con, bây giờ bố nên làm như thế nào?

-Con nghĩ đây là một việc xấu do các ông đồng bà cốt hợp mưu với các chức sắc địa phương bày đặt ra để ăn tiền dân chúng! Bố không thấy mỗi năm lại có một mạng người chết oan, một gia đình đau khổ! Bố phải tìm cách trừng trị những kẻ quyền thế ở địa phương đã dám bày chuyện vô lý để hại người, để bóc lột dân chứ! Nếu không ai trị chúng, dân địa phương sẽ phải gánh nỗi khổ này cho đến bao giờ?

Nguyễn Quyện lặng người nhìn vợ. Ngọc Tỷ hỏi:

-Dựa vào đâu mà con dám nói bọn quyền thế ở địa phương bày chuyện để bóc lột dân? Hơn nữa, nếu quả có những kẻ bày đặt ra tục này để bóc lột dân thì những kẻ ấy cũng thuộc các thế hệ xa xôi rồi, làm sao trừng trị họ?

-Thưa bố mẹ, con nói chắc như thế vì trước đây con đã đọc được một câu chuyện tương tự. Đó là chuyện ông Tây Môn Báo bài trừ mê tín dị đoan. Khi đến nhậm chức huyện lệnh Nghiệp Thành, ông thấy dân tình ở nơi đó có vẻ bất an, sợ hãi. Ông cho người đi tìm hiểu thì được biết ở đây có một dị tục đáng sợ là cống vợ cho Hà Bá. Trong huyện có con sông Chương chảy ngang qua, hàng năm hay gây lụt lội làm mất mùa. Vì thế các quan cai trị địa phương cấu kết với một nhóm đồng cốt bày ra hủ tục đáng sợ ấy. Mỗi năm họ bắt dân địa phương phải cống một người con gái đồng trinh cho Hà Bá. Họ thường tổ chức một buổi lễ lớn để đưa dâu, tất nhiên là phải đẩy người con gái xấu số xuống sông… Ngoài việc tàn ác giết người vô tội, các viên chức địa phương lại tha hồ sách nhiễu những nhà có con gái khác buộc họ phải hối lộ để được miễn trừ. Với những nhà không có con gái thì phải đóng góp tiền để tổ chức cuộc lễ được linh đình. Tây Môn Báo dò biết được hủ tục này rồi, đợi đến hôm người ta tổ chức lễ cống vợ này ông cũng thân hành dẫn một đám tùy tùng đến dự. Thấy có quan huyện lệnh dự, đám quan viên địa phương và đám đồng cốt lấy làm hãnh diện lắm. Khi cuộc lễ sắp mở màn, Tây Môn Báo bảo đưa cô dâu đến để ông xem mặt. Xem xong, ông lắc đầu nói cô này không được đẹp, không xứng đáng làm vợ Hà Bá. Ông nhờ bà đồng chính xuống gặp Hà Bá để xin hoãn lại vài hôm ông sẽ kiếm cho một cô gái đẹp hơn. Thế rồi ông sai lính đẩy bà này xuống sông rồi nghiêm chỉnh chắp tay đứng đợi. Mọi người thấy vậy đều xanh mặt. Lát sau ông tỏ vẻ nôn nóng nói có lẽ bà đồng ấy ăn nói không thông, cần phái thêm một người đi nói giúp. Thế là bà đồng thứ hai bị đẩy xuống sông. Lát sau ông lại nói mấy bà vụng về nên chậm trễ, cần phải cử vài quan viên ăn nói giỏi hơn đi gặp Hà Bá mới xong. Các viên chức địa phương đều hoảng sợ biết đâu ông lại cử mình đi thì bỏ đời! Chẳng còn chước nào hơn, họ đồng loạt quì xuống lạy quan huyện lệnh xin tha tội! Nhân dịp đó Tây Môn Báo liền buộc đám chức sắc này phải đóng góp tiền của để bồi thường cho những gia đình nạn nhân. Từ đó cái hủ tục cống vợ cho hà bá ở Nghiệp Thành chấm dứt!

Nguyễn Quyện nghe xong khen:

-Không ngờ con gái của bố giỏi thế! Con đã thông chuyện cổ kim, thấu hiểu được nỗi khổ của dân, biết lo cho dân, bố rất hãnh diện điều đó. Nhưng việc con đã nêu ra cũng khó thực hiện lắm! Quân ta chỉ tạm đóng ở đây ít lâu thôi, hễ tình hình đòi hỏi là phải đi ngay. Hơn nữa, bố không phải là quan cai trị địa phương, dễ gì tìm ra được chính phạm bày ra hủ tục mà trị? Vả lại, việc quan dẫm chân lên nhau cũng có thể sinh chuyện rắc rối. Dù sao bố cũng sẽ gắng thu xếp.

Thị Niên nghiêm trang nói:

-Việc cứu dân thoát khổ là trách nhiệm chung của những người làm quan chứ đâu phải là một vụ tranh giành quyền lợi mà ngại dẫm chân lên nhau! Về phương tiện để hành xử, con thấy bố có ưu thế hơn các quan cai trị địa phương nhiều. Giờ hãy tạm gác việc tìm thủ phạm đã bày ra cái hủ tục hại dân ấy đã. Bố đã sẵn có trong tay cả một đội quân lớn không thiếu nhân tài, tại sao bố không thử cho người đến xem xét cái vực xoáy oan nghiệt kia hình thế ra sao biết đâu lại chẳng có phương cách đối phó?

Nguyễn Quyện chợt tươi nét mặt nói:

-Cám ơn con, có vậy mà bố nghĩ chưa ra chứ. Được rồi, con gái yên chí, bố nhất định sẽ làm việc đó.

Thị Niên cũng hớn hở nói:

-Cám ơn bố, con tin chắc bố sẽ thành công!

*

Khi Thạch quận công đem chuyện đó bàn với các thuộc cấp thì một viên võ tướng trẻ tên Bùi Văn Khuê thưa:

-Vực Vông nằm ngay trên làng của tiểu tướng nên tiểu tướng chẳng xa lạ gì. Đó là một vũng xoáy rất nguy hiểm. Nó đã giết hại không biết bao nhiêu người. Vài người bạn thuở nhỏ của tiểu tướng cũng đã bỏ mình ở đó. Cái tục cống người ở đây cũng đã có từ lâu, cứ mỗi năm lại hi sinh một mạng, nhưng tai nạn vẫn không chấm dứt. Nay đã được tiểu thư quan tâm đến thật may phước cho dân địa phương. Tiểu tướng tin chắc khi tiểu thư đã nhúng tay vào thì tai ách của dân ở đây sẽ được cởi bỏ ngay!

Nguyễn Quyện ngạc nhiên hỏi:

-Con ta có quyền phép gì mà ngươi nói chắc như vậy?

-Bẩm tướng công, tiểu tướng nghĩ muốn giải trừ cái họa này không khó lắm đâu! Cái khó chính bởi lòng người thôi! Vốn sống gần sông nước, từ nhỏ tiểu tướng đã trở thành một tay bơi lặn có hạng. Tiểu tướng đã mấy lần bơi lặn gần cái vũng xoáy ấy. Tiểu tướng biết những vũng xoáy trên sông thường do dòng nước bị đá ngầm ngăn chận làm đổi hướng chảy mà sinh ra. Cái vực Vông này hẳn cũng vậy thôi. Muốn giải trừ sự nguy hiểm của nó chỉ cần lấp được dòng chảy đối lưu là xong. Hễ chịu bỏ công sức ra tất việc phải nên!

Nguyễn Quyện hỏi lại:

-Chỉ có vậy sao người ta lại không chịu làm mà cứ chịu đựng mãi cái họa vô lối đó?

-Bẩm, như tiểu tướng đã nói, cái khó chính là ở lòng người! Trước kia tiểu tướng đã mấy lần đề nghị cách giải trừ mối nguy hiểm của vực Vông ấy với các viên chức địa phương nhưng đều bị các quan chức và đám đồng cốt phản đối quyết liệt. Họ cứ viện cớ không thể đem công sức đổ vào một công việc mà chưa chắc có kết quả. Tiểu tướng nghĩ là họ ngại khi cái tai ách đó không còn nữa họ cũng sẽ mất đi ít nhiều lợi lộc. Họ không điều động sức dân làm việc ấy thì ai làm được nữa? Khi tiểu thư đã có lòng nhân hậu nghĩ tới việc này mà tướng công lại có một lực lượng quân đội sẵn sàng giúp sức tất nhiên việc phải thành! Nay gặp lúc nước cạn rất tiện cho việc quan sát, nghiên cứu. Xin tướng công cho tìm mấy tay thợ lặn giỏi cậy họ xuống xem xét hình thế ra sao rồi sẽ tìm cách để giải trừ. Làm được việc này dân chúng sẽ đội ơn tướng công lắm!

Thấy Khuê nói có lý, Nguyễn Quyện vui mừng nói:

-Làm thành công việc này là tạo được nhiều phước đức lắm. Nhưng ta quá bận rộn việc quân, việc sông nước ta lại không thông thạo bằng ngươi, vậy ngươi hãy thay ta thực hiện việc đó. Ta nghĩ đây là công việc tạo ích lợi cho chính quê hương của ngươi, chắc hẳn không ai làm hết lòng hơn ngươi được. Cho phép ngươi tuyển chọn những thợ lặn giỏi trong quân để sử dụng. Sau đó, nếu cần sức người hay tài vật để thực hiện công tác ta sẵn sàng cung cấp đủ. Ngươi liệu gánh vác công việc đó được không?

Bùi Văn Khuê cũng vui mừng thưa:

-Với tư cách là người bản xứ, tiểu tướng xin thay mặt dân chúng nơi này đa tạ thịnh tình của tướng công. Tiểu tướng sẽ hết lòng thực hiện công tác được giao phó.

Khi Nguyễn Quyện vừa về tư dinh Thị Niên hỏi ngay:

-Bố đã có kế hoạch gì để giải trừ mối nguy hại vực Vông chưa?

Ông vui vẻ nói:

-Con gái yên chí. Bố đã giao việc ấy cho viên tướng Bùi Văn Khuê làm rồi.

-Có chắc viên tướng đó làm nổi việc ấy không?

-Bố tin Văn Khuê sẽ làm việc này rất kết quả. Y là một viên tướng thông minh lanh lợi, lại là dân Trường Yên chính hiệu. Chắc hẳn y lo cho dân Trường Yên còn hơn ta nữa.

Ngọc Tỷ cũng lộ vẻ phấn khởi:

-Vậy thì tốt quá. Viên tướng đó già trẻ thế nào?

-Y mới ngoài ba mươi, đã có gia thất nhưng vợ y lại mới mất khoảng một năm. Y nhiều mưu kế, lại rất can đảm, đã lập được nhiều công trạng ở chiến trường. Tương lai của y có nhiều hứa hẹn lắm.

Ngọc Tỷ quay nhìn con gái rồi hỏi chồng:

-Y là dân Trường Yên? Tướng mạo chắc cũng…

Nguyễn Quyện bật cười:

-Phu nhân muốn chọn giai tế hẳn? Văn Khuê là người cao lớn, đẹp đẽ, văn võ kiêm toàn, quả là một mẫu đàn ông lý tưởng. Nhưng cứ thong thả đã, đợi y làm xong công việc này rồi tính sau…

Thế rồi Thạch quận công yêu cầu địa phương phải ngưng ngay việc thực hiện lễ cống thần Thuồng Luồng.

Trong khi đó, Bùi Văn Khuê đã tuyển chọn được mấy tên thợ lặn giỏi trong quân để phụ lực với mình. Sau đó, Văn Khuê dẫn họ đến vực Vông, tìm cách lặn xuống tận đáy sông để thăm dò. Quả thật dòng nước khi qua nơi này thường xoáy mạnh là do bị đá ngầm ngăn chận làm đổi hướng mà sinh ra như Khuê đã dự đoán. Khuê bèn cùng đám thuộc hạ nghiên cứu chỗ cạn, chỗ sâu và các hướng dòng chảy trên sông rất kỹ càng. Sau đó Khuê trình lại mọi sự lên chủ tướng. Ông hỏi:

-Đã biết hình thế đáy vực như vậy, bước kế tiếp ta sẽ làm sao?

-Bẩm tướng công, việc này phải cậy sức cả một đội quân lớn mới làm được. Cũng may ở gần vực xoáy này có sẵn một ngọn núi đá. Xin tướng công cho quân phá ngọn núi này lấy đá để lấp dòng chảy đối lưu thì tự nhiên dòng sông sẽ trở lại bình thường.

-Vậy thì không có gì trở ngại. Cần bao nhiêu lính phục vụ cho phép ngươi cứ lấy lệnh ta để điều động. Khi nào ngươi sẽ bắt đầu?

-Bẩm tướng công, lúc này nước đang cạn, việc lấp dòng đối lưu càng sớm càng dễ. Nếu dây dưa để mùa mưa kéo tới ta sẽ phải mất công hơn nhiều!

-Vậy, ngày mai ta sẽ truyền cho toàn quân biết. Ngươi có thể khởi sự lúc nào tùy ý!

Nhờ sức quân lính dồi dào, chưa tới một tháng việc lấp dòng chảy đối lưu ở vực Vông đã hoàn tất.

*

Quả nhiên mùa nước lớn năm đó vực Vông không còn là cái vũng xoáy ác hiểm cuốn hút thuyền bè xuôi ngược trên sông Hoàng Long nữa.

Thế là đám đồng cốt và các viên chức địa phương đã cấu kết với nhau để hút máu mủ của dân tự nhiên lộ rõ bộ mặt gian ác của chúng. Chúng trở thành mục tiêu phỉ báng, chê cười của người đời, không còn lường gạt được ai nữa.

Sau khi giải trừ được mối nguy hiểm của vực Vông, dân địa phương hết sức vui mừng. Họ đã vận động nhau đóng góp tiền bạc, trâu heo rồi xin tổ chức một tiệc khao vọng rất lớn để tạ ơn quan quân. Nguyễn Quyện vừa cảm động vừa hãnh diện, ông dâng sớ tâu trình việc này lên vua Mạc.

Không lâu sau đó ông gả Thị Niên cho Bùi Văn Khuê.

Năm sau, Nguyễn Quyện lại được cải phong tước Thường quốc công, Bùi Văn Khuê được cải phong tước Sơn quận công. Từ đó đường công danh của Khuê ngày càng rộng mở. Khuê giỏi về thủy chiến nên được giao chỉ huy một đạo thủy quân.

Cuối năm 1591, quân Lê Trịnh dưới quyền Tiết chế Trịnh Tùng từ Thanh Hóa đánh ra Thăng Long. Quân Mạc thua lớn. Đầu năm 1592 Thường quốc công Nguyễn Quyện thất thế bị quân Lê bắt sống, sau đó ông bị chết trong ngục (1593). Quân Lê Trịnh tuy chiếm được Thăng Long nhưng chưa đủ lực lượng để giữ vững, lại thiếu lương thực nên chỉ san lấp các hào lũy kiên cố rồi rút về Thanh Hóa.

Quân Lê Trịnh rút lui thì quân Mạc quay trở lại. Một số tướng lãnh giỏi được vua Mạc triệu về trấn giữ các địa điểm chủ yếu để bảo vệ Thăng Long. Trong số các tướng đó có Sơn quận công Bùi Văn Khuê.

Lúc bấy giờ Thị Niên thường theo chồng sống ở quân doanh. Tiện dịp Văn Khuê đóng quân gần kinh thành, thỉnh thoảng Thị Niên lại vào hậu cung để thăm Nguyễn hoàng hậu.

Ngày kia Thị Niên đến thăm chị lại gặp lúc hoàng hậu vào thăm sức khỏe Mạc thái hậu chưa về. Trong khi Thị Niên đang thơ thẩn chờ gặp chị ở tiền đình bất ngờ vua Mạc cũng ngự giá đến. Tiếng hô “hoàng thượng giáng lâm” vang lên đột ngột khiến Thị Niên giật mình. Bà hoảng hốt hướng về phía xa giá sụp lạy:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế!

Vua Mạc kinh ngạc xiết bao nhận ra một người đàn bà đẹp chưa từng thấy đang ở trước mắt. Ngài cho ngừng xe bước xuống tiến lại gần người đàn bà hỏi:

-Trông khanh không phải là cung nữ, vậy khanh là ai?

-Tâu bệ hạ, thần thiếp là Nguyễn Thị Niên, em gái của hoàng hậu. Thiếp đến đây để thăm hoàng hậu. Thánh thượng giáng lâm bất ngờ thiếp không biết nên nghinh giá trễ tội đáng muôn chết. Kính mong được lượng thánh rộng dung.

Người đã đẹp như tiên, giọng nói lại thánh thót ngọt ngào khiến vua như bị hút hồn. Ngài vồn vã xua tay:

-Không biết thì không tội. Cho phép khanh bình thân.

-Tạ ơn hoàng thượng, thần thiếp không dám!

Vua tươi cười rạng rỡ:

-Cứ đứng dậy đi! Khanh là em của hoàng hậu thì cũng là em của trẫm rồi. Niên muội đã có gia thất chưa?

-Tâu bệ hạ, đã có. Chồng thần thiếp là Sơn quận công Bùi Văn Khuê đang đóng quân gần đây.

-Vợ của quận Sơn? Niên muội có hay đến thăm hoàng hậu không? Sao bây giờ trẫm mới gặp?

-Tâu bệ hạ, chỉ lâu lâu mới đến một lần.

Vua thân mật, niềm nở:

-Đứng lên đi. Trẫm là anh rể của Niên muội, tuy nghĩa quân thần nhưng tình gia đình. Niên muội chớ ké né như người ngoài…

Vua nói đến đây thì hoàng hậu cũng vừa về. Bà cho ngưng kiệu để xuống bái lễ:

-Thánh thượng vạn tuế! Thần thiếp bận đến vấn an Thái hậu nên tiếp giá trễ, xin thánh thượng thứ tội!

Vua cười vui vẻ:

-Đi vấn an Thái hậu trẫm dám bắt tội sao? Thái hậu có được an khang không?

-Tâu bệ hạ, Thái hậu vẫn mạnh khỏe, vui vẻ. Bệ hạ ngự giá đến đây lâu chưa?

-Chưa bao lâu. Cũng nhờ dịp này mà trẫm gặp được Niên muội đấy. Sao lâu nay ái hậu không hề cho trẫm biết về người em này? Nhân tiện đây mời Niên muội vào cung để trẫm ban thưởng luôn thể.

Vốn biết rõ tánh háo sắc của vua, hoàng hậu rất ái ngại cho Thị Niên. Sợ việc không hay xảy ra, hoàng hậu tìm cách trì hoãn:

-Tâu bệ hạ, Niên muội mới sơ kiến đã được tích sự gì đâu mà ban thưởng? Nếu bệ hạ ban thưởng e thiên hạ sẽ nghĩ là bệ hạ tư vị. Xin để lần khác vậy.

Thế rồi hoàng hậu quay lại nói với Thị Niên:

-Hiền muội tới thăm lại gặp lúc chị đi vắng, thật đáng tiếc. Giờ chị lại phải tiếp kiến hoàng thượng, hiền muội bỏ lỗi cho chị nhé! Thôi, chị em thấy mặt nhau thế này cũng tạm đủ, hiền muội hãy trở về kẻo phu quân mong đợi. Sẽ gặp hiền muội vài ba hôm nữa!

Biết chủ ý của hoàng hậu, vua đành nói xuôi:

-Vậy, trẫm cho phép Niên muội lui ra!

-Tạ ơn hoàng thượng! Thần thiếp xin cáo từ!

Sau khi Thị Niên đi rồi vua hỏi hoàng hậu:

-Ái hậu biết khi nào Niên muội trở lại không?

-Thần thiếp không rõ. Hôm nay Niên muội đến gặp thần thiếp mà chưa nói được gì ắt mai mốt Niên muội cũng sẽ đến.

*

Từ khi gặp được Thị Niên, vua Mạc sinh lòng vấn vương, khao khát tột độ. Nàng còn xinh đẹp hơn hoàng hậu bội phần! Vì nóng lòng gặp Thị Niên, ngài đã nghỉ lại chánh cung mấy hôm liền. Nhưng bóng dáng người ngọc vẫn biền biệt. Hoàng hậu thấy rõ thái độ nôn nao, bồn chồn của vua trong suốt thời gian ấy bà càng lo ngại cho Thị Niên.

Vì quá luyến ái Thị Niên, vua Mạc đã nghĩ tới biện pháp loại bỏ tướng Bùi Văn Khuê để chiếm đoạt. Một hôm ngài ướm ý với hoàng hậu:

-Ta rất tiếc, Thường quốc công đã lầm lẫn khi gả Niên muội cho Bùi Văn Khuê. Trước đây có một thuật sĩ cho ta biết Văn Khuê là người có tướng phản chúa. Biết thế nhưng thấy nó có tài, lại gặp lúc nhà nước đang cần người bất đắc dĩ ta phải dùng nó. Nhưng gần đây ta thấy Khuê đã lộ nhiều dấu hiệu trở lòng. Trước sau ta cũng phải trị tội nó thôi. Vì tình ruột thịt, ái hậu hãy gọi Niên muội về cung sống một thời gian để chị em được gần gũi nhau rồi ta sẽ chọn cho Niên muội một người chồng khác danh giá, xứng đáng hơn là để bị ô danh bởi tiếng làm vợ một kẻ bất trung.

Hoàng hậu giật mình – thế này thì em ta mang khốn rồi! Ta giúp được gì cho em ta không? Làm sao ngăn được ý đồ bất hảo của chồng ta? Không muốn chồng nổi giận, bà tươi cười nói:

-Đội ơn hoàng thượng. Thiếp sẽ truyền đạt thánh ý cho em gái thiếp.

Sau đó hoàng hậu cho người ngầm gặp Thị Niên dặn đừng vào cung nữa và cũng dặn Văn Khuê phải cẩn thận đề phòng.

Khi nghe Thị Niên thuật lại việc này, Văn Khuê than:

-Ta luôn hết lòng tận trung với vua ai ngờ vua lại xử tệ với ta như thế? Mà cũng phải thôi, một bậc sắc nước hương trời như nàng vua không thích sao được! Ta rất sợ mang tiếng phản vua! Vua đã muốn vậy ta đành làm giấy tự nguyện dâng nàng cho vua tất xong. Chắc cũng bởi duyên nợ của đôi ta không trọn, mong nàng vui vẻ chịu sự an bài của số phận vậy!

Thị Niên nghe chồng nói thế liền khóc lớn:

-Chàng ơi, từ trước tới nay thiếp vẫn một dạ thờ chàng, có bao giờ thiếp phạm lầm lỗi nào chưa? Sao chàng nỡ đẩy thiếp vào chỗ bất nghĩa? Gái chính chuyên không thể lấy hai chồng! Nếu chàng phụ bạc như thế thiếp đành xin lấy cái chết để tỏ lòng trinh tiết của mình vậy!

Nói xong, Thị Niên liền vói rút thanh kiếm của chồng toan tự đâm vào cổ. Văn Khuê hoảng hốt ngăn cản lại:

-Ta thành thật xin lỗi, ta hiểu lòng trung trinh của nàng rồi! Xin thề cùng sống chết với nhau vậy! Nhưng gặp tình thế này biết tính sao bây giờ?

Thị Niên nói:

-Chúa thượng quá mê muội, thật không hiểu đạo làm vua. Nay quốc gia đang nghiêng ngửa thế này mà không biết lo kết cấu lòng người, cứ hoang dâm vô độ, chuyện bại vong trước sau cũng phải đến thôi! Sao chàng không nghĩ cách trở về với nhà Lê?

Văn Khuê thở dài:

-Ta học đạo thánh từ thuở nhỏ mà bây giờ muốn làm người trung nghĩa cũng không được nữa sao? Đành chuẩn bị để đi xa thôi! Ta chịu ơn nhà Mạc quá nhiều, lòng ta đâu muốn phụ vua! Nhưng lâm tình trạng này ta biết làm sao hơn được?

Tuy nói thế nhưng Văn Khuê vẫn còn dùng dằng. Hôm sau thì có mấy viên nội quan đến doanh trại tuyên đọc chiếu chỉ triệu Văn Khuê vào triều gấp. Thị Niên thấy vậy giận dữ nói với chồng:

-Tới giờ phút này mà chàng vẫn chưa chịu quyết định đành bó tay chịu chết sao?

Văn Khuê liền cho bắt giam bọn nội quan lại rồi kéo hết quân bản bộ về đóng ở huyện Gia Viễn.

Vua Mạc biết tin chột dạ, nhiều lần sai người đến vỗ về Văn Khuê và khuyên ông trở về nhưng ông một mực từ chối. Cuối cùng, vua Mạc tức giận sai tướng đem quân đến trừng phạt. Văn Khuê hoảng sợ, một mặt dàn quân chống trả, một mặt sai con là Bùi Văn Nguyên chạy vào Thanh Hóa xin đầu hàng vua Lê và xin viện binh ra cứu giúp. Gặp lúc Tiết chế Trịnh Tùng đang sửa soạn Bắc phạt, thấy thư hàng của Văn Khuê, Tùng vui mừng nói:

-Văn Khuê về hàng là trời khiến ta thành công đó! Chuyến này ta có thể thu phục lại đất đai của bản triều rồi!

Thế rồi Trịnh Tùng tâu xin vua Lê sai tướng Hoàng Đình Ái kéo quân đi trước cứu Văn Khuê. Quân Mạc thấy Văn Khuê có quân Lê Trịnh tiếp viện bèn lui về giữ sông Thiên Phái. Văn Khuê vui mừng kéo 3.000 quân bản bộ ra đón tiếp tướng Ái. Tướng Ái bèn sai Khuê đem quân đến giữ bến đò Đàm Giang.

Khi Trịnh Tùng đốc suất đại quân đến phủ Trường Yên thì Văn Khuê đến chào, khóc và lạy dưới cờ. Trịnh Tùng an ủi rồi ban cho Văn Khuê tước Mỹ quận công. Sau đó Trịnh Tùng lại sai Văn Khuê đem quân bản bộ đi tiên phong đánh quân Mạc.

Trận chiến này quân Lê đại thắng, vua Mạc bị bắt rồi bị giết. Nguyễn hoàng hậu không biết thất lạc về đâu, từ đó không còn nghe tăm tích.

*

Dù vua Mạc Mậu Hợp không còn nhưng các thân vương của họ Mạc vẫn còn thay nhau nổi lên vùng vẫy nhiều nơi. Các tướng Lê Trịnh phải vất vả nhiều năm dài đánh dẹp. Trong số các tướng đó rất nhiều tướng cũ của nhà Mạc. Tiết chế Trịnh Tùng vốn là người khí độ hẹp hòi nên luôn nghi kỵ những người có tài khác. Bởi thế, ông chỉ tin dùng đám thuộc cấp cố cựu. Những viên tướng cũ của nhà Mạc về hàng tuy cũng lập được nhiều công lớn nhưng vẫn không được Trịnh Tùng tin tưởng, trọng dụng. Sự phân cách đó đã làm họ không được yên lòng. Bởi thế, khi nghe Thái úy Nguyễn Hoàng tâm sự “ta đây là cậu ruột của Tùng mà cũng chưa biết bị Tùng khử lúc nào đây huống là kẻ khác” họ càng hoảng sợ hơn.

Cuối cùng ba viên hàng tướng Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn và Ngô Đình Nga đã thông đồng với nhau nổi lên làm phản. Kinh đô Thăng Long trở nên rối loạn, lòng người vô cùng dao động. Nguyễn Hoàng giả vờ tình nguyện kéo quân đi đánh dẹp nhưng rồi lại kéo tuốt quân bản bộ trở về Thuận Hóa.

Thấy kinh thành có biến, dư đảng của họ Mạc ở các nơi cũng rục rịch nổi dậy. Phan Ngạn thấy rõ tình hình, biết phải kiếm ngay một chỗ dựa và phải khuếch trương thế lực để tồn tại. Thế là Ngạn cho người đi Long Châu rước Mạc Kính Cung đã xưng vương với niên hiệu Kiền Thống về. Vua Mạc Kiền Thống mừng rỡ, nhưng còn dè dặt chưa về, chỉ cho đặc sứ về trước phong Phan Ngạn làm Đại nguyên soái. Nhờ lấy danh nghĩa Kiền Thống để hiệu triệu, dư đảng của họ Mạc kéo về qui tụ dưới trướng của Ngạn rất đông.

Tiết chế Trịnh Tùng thấy biến cố xảy ra bất ngờ và bộc phát quá mạnh phải rước vua Lê chạy về Thanh Hóa để bảo toàn cơ sở chính.

Phan Ngạn thấy Nguyễn Hoàng đã rút quân về Thuận Hoá, giờ Trịnh Tùng lại bỏ Thăng Long chạy về Thanh Hóa thì mừng lắm. Ngạn liền cho một cánh quân chiếm lại kinh thành và coi đó là kỳ công của mình. Nghĩ thế lực của mình đã vượt trội mọi thế lực khác, Ngạn tự xưng “Tiết chế thủy bộ chư doanh Bình chương quân quốc trọng sự Thái úy Sinh quốc công”. Muốn quan quân khỏi dị nghị, Phan Ngạn cũng triệu Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê đến quân doanh của mình để phong chức tước. Bùi Văn Khuê không đến, Ngô Đình Nga thì được phong Thái bảo Hoa quốc công. Để trắc nghiệm uy quyền của mình, Ngạn thông báo sẽ tổ chức một buổi tiệc mừng tái chiếm kinh đô tại quân doanh. Ngạn cho mời tất cả các thủ lãnh các đơn vị quân sự lẫn hành chánh trong kinh thành và ngoại vi Thăng Long đến dự. Hầu hết các thủ lãnh ai nể sợ Ngạn nên đều răm rắp có mặt. Chỉ có Bùi Văn Khuê thấy Phan Ngạn có vẻ hung hăng, bon chen quá nên bực mình cáo bệnh không đến dự.

Thấy nhiều người tỏ ra quị lụy, tâng bốc mình, Phan Ngạn càng lên mặt. Một viên thổ quan tiến dâng Ngạn mấy kỹ nữ xinh đẹp để giúp vui. Phan Ngạn vui vẻ khiến họ ca múa trong tiệc để thưởng ngoạn. Các văn quan, võ tướng thay nhau chúc mừng ca ngợi toàn những lời tốt đẹp khiến Ngạn tưởng chừng như bay lên mây. Thế là Ngạn cứ tha hồ nốc rượu vào. Không bao lâu Ngạn chếnh choáng, gọi nàng kỹ nữ xinh đẹp nhất lại cho ngồi lên đùi mình rồi cao hứng nói:

-Mỹ nhân hãy ngồi đây để chuốc rượu cho ta.

Rồi hướng về đám thực khách, Ngạn hách dịch:

-Ta từ khi đầu quân trải qua không biết bao nhiêu gian khổ mới có ngày hôm nay. Nay ta ở ngôi vị Thái úy Sinh quốc công, dưới một người trên vạn người cũng xứng đáng lắm chứ! Giờ ta muốn gì mà chẳng được? Nhớ tới những lúc bị họ Trịnh mắng nhiếc mà giận! Thật ra nó chẳng tài giỏi gì hơn ai, nó chỉ gặp thời thôi! Rồi đây họ Trịnh sẽ biết tay ta!

Nhìn lướt đám thực khách Ngạn bỗng đấm bàn quát:

-Tại sao Bùi Văn Khuê không đến dự tiệc? Rõ ràng Khuê đã có ý làm phản! Trịnh Tùng kia còn phải ngán ta huống hồ cái ngữ ấy! Phải trị nó để làm gương mới được!

Hơi men đã khiến Ngạn càng ngông:

-Văn Khuê ỷ vào cô vợ tuyệt sắc Thị Niên chắc? Rồi đây Thị Niên sẽ thuộc về tay người khác cho coi! Ta nhất định phải gặp mặt cô con gái cưng của Thường quốc công một lần mới thỏa lòng!

Bùi Văn Khuê bình thường vẫn ít mất lòng ai nên nhiều thực khách có vẻ khó chịu khi nghe Phan Ngạn nói thế. Ngô Đình Nga biết ý nên đâm hoảng, vội thưa:

-Quốc công đã say lắm rồi, xin mời ngài đi nghỉ.

Các văn quan võ tướng thấy vậy cũng khuyên Ngạn đi nghỉ. Cuối cùng Ngạn cũng nghe lời, truyền bãi tiệc.

*

Hôm sau Phan Ngạn mời Ngô Đình Nga đến hỏi:

-Ông thấy không khí buổi tiệc hồi hôm thế nào? Có điều gì thất thố không? Mong ông cứ thẳng thắn nói cho ta biết để sửa chữa.

-Thưa quốc công, số khách mời đến dự gần như đầy đủ. Điều đó chứng tỏ uy tín của quốc công đã lên rất cao. Chỉ tiếc một điều…

-Điều gì? Chắc là chuyện ta say chứ gì?

-Vâng, đúng thế, thưa quốc công.

-Ta vì vui quá uống nhiều nên lỡ say. Không rõ lúc đó ta có làm điều gì thất lễ với ai không?

-Khi say nếu vấp lầm lỗi mọi người vẫn dễ thông cảm. Đáng tiếc hồi hôm quốc công hơi nặng lời xúc phạm tới Bùi Văn Khuê. Khuê vốn được lòng nhiều người, nếu có ai học lại điều đó với ông ta thì thật không hay. Tôi nghĩ quốc công nên tìm cách để đánh tan mối hiềm nghi với ông ta để tránh chuyện lôi thôi, ít nhất là trong lúc cần người này.

Thế rồi Nga thuật lại những lời Ngạn đã nói hồi hôm. Nghe nhắc tới tên Thị Niên – vợ của Văn Khuê, lòng ham muốn của Ngạn lại nổi lên. Ngạn nghĩ ngay tới việc phải triệt hạ Văn Khuê. Nhưng thấy chính Ngô Đình Nga cũng có vẻ nể trọng Văn Khuê, Ngạn làm ra vẻ hối hận, nói lớn:

-Rượu hại ta rồi! Nếu ta đã nói nặng lời như thế Văn Khuê không dễ bỏ qua đâu! Chuyện lỡ rồi, sớm hay muộn Văn Khuê cũng sẽ phản ta thôi! Ta đành phải ra tay trước vậy. Ông có kế gì giúp ta không?

Ngô Đình Nga chưa hề biết ý riêng của Ngạn nên nói:

-Văn Khuê chưa hé lộ ra một hành vi phản bội nào. Cũng có thể Văn Khuê không biết được những lời quốc công nói. Lúc này ta đang cần người mà Văn Khuê lại là kẻ có tài, xin quốc công thận trọng.

Thấy Nga không sốt sắng giúp mình, Ngạn giả lả:

-Ông nói vậy cũng phải, thôi, ta nghe ông.

Khi Ngô Đình Nga đi khỏi, Ngạn suy nghĩ: Ta đã lỡ lời xúc phạm đến Văn Khuê, ắt hẳn nó khó để ta yên. Nó lại được nhiều tướng sĩ nể trọng mà xem ra tài đức nó cũng chẳng nhường ai. Hai con chim dữ không thể đậu chung một cành. Nếu để nó cùng phò nhà Mạc chưa chắc ta giữ được địa vị “dưới một người trên vạn người”. Nhất định phải loại trừ nó mới được! Thế rồi Ngạn cho gọi người em là Phan Hạo đến nói:

-Ta biết chắc Văn Khuê sẽ làm phản nhưng xem chừng Ngô Đình Nga không muốn giúp ta triệt hạ nó. Nếu không trừ Khuê, mai mốt đây nó sẽ chiếm được lòng vua Mạc, đường công danh của anh em ta ắt sẽ gặp trắc trở. Việc này khó mà cậy tay người khác giúp, em gắng giúp ta nhé!

-Vậy, em phải làm thế nào?

-Ta đã lấy hiệu lệnh vua Mạc truyền triệu Văn Khuê về bàn việc. Văn Khuê hiện đang ở Trường Yên, muốn tới đây Khuê sẽ đi đường thủy trên sông Hoàng Long rồi qua sông Đáy mới tiện. Em phải tuyển một đội quân giỏi bắn cung, ngụy trang làm dân chài phục sẵn hai bên bờ ở khúc Bến Vạn là cầm chắc. Khi Văn Khuê đi ngang qua đó hãy ra lệnh nhất loạt bắn vào thuyền tất nhiên hắn không thể thoát được!

Phan Hạo vâng lệnh, ra về chuẩn bị thực hiện mưu kế.

Đúng như Phan Ngạn đã dự tính, chiều hôm sau Bùi Văn Khuê đã cùng một nhóm thuộc hạ đi thuyền về Thăng Long. Khi thuyền vừa ngang Bến Vạn thì một trận mưa tên từ hai bờ sông đồng loạt trút xuống thuyền Văn Khuê. Mười mấy người đi trên thuyền đều chết sạch. Phan Hạo cho đem các xác chết lên bờ, ra lệnh cho dân địa phương phải đào hố để chôn. Riêng Bùi Văn Khuê thì Hạo cắt lấy đầu đem về Thăng Long báo công.

Dân địa phương nhận lệnh nhưng chưa vội chôn. Họ loan tin ra cho thân nhân các người bị hại biết để đến nhận xác về. Nhận được tin dữ, Nguyễn Thị Niên cũng dẫn người nhà đi nhận xác. Thấy xác chồng không còn đầu, bà biết ngay chiếc đầu ấy sẽ bị đem bêu ở cổng thành Thăng Long để làm hiệu lệnh. Thế là bà cho người nhà đem xác chồng về trước. Riêng bà cng bốn nữ tì khỏe mạnh tức tốc về Thăng Long xin chuộc đầu chồng. Khi bà đến trại quân, quân giữ cửa đón hỏi:

-Thưa bà, bà đến đây có việc gì?

-Tôi là vợ của Bùi Văn Khuê. Mới đây tôi nghe tin chồng vì phạm tội với Thái úy Sinh quốc công nên đã bị trừng trị. Xin cho tôi được vào yết kiến Sinh quốc công để thỉnh cầu một việc.

Nghe nói là vợ của Bùi Văn Khuê, viên chỉ huy đội lính gác liền báo với thượng cấp. Đã nghe tiếng Thị Niên nhan sắc tuyệt trần, Phan Ngạn không bỏ lỡ cơ hội âm mưu chiếm đoạt. Ngạn cho gọi Thị Niên vào diện kiến. Thị Niên được dẫn đến quì trước mặt Ngạn thưa:

-Bẩm Thái úy quốc công, thiếp là Nguyễn Thị Niên, vợ của tội tướng Bùi Văn Khuê. Chồng thiếp phạm tội đã bị trừng trị, thiếp không dám kêu nài. Thiếp chỉ muốn được lãnh xác chồng về chôn cất cho trọn đạo. Nhưng đến khi tìm ra xác chồng thì chỉ còn cái thây không có đầu. Hỏi ra mới biết lệnh trên đã cho đem đầu chồng thiếp về Thăng Long. Nghĩa tử là nghĩa tận, dù sao chồng thiếp cũng một thời cùng vào sinh ra tử với Thái úy quốc công, xin quốc công thương tình cho thiếp xin lại cái đầu của chồng đem về chôn cho toàn thây.

Phan Ngạn lập nghiêm nói:

-Văn Khuê dù trước đây có công nhưng nay đã phạm tội phản vua hại nước, không thể dung thứ được. Tuy bản thân y đã bị trừng trị nhưng vẫn chưa đủ. Cái đầu của Văn Khuê phải được đem bêu ở các cửa thành để làm gương cho những kẻ phản loạn. Phép công không thể thiên vị một ai cả. Bà hãy trở về đi đừng xin xỏ mất công.

Thị Niên phải khóc lóc năn nỉ một hồi Ngạn mới làm ra vẻ động lòng, nói:

-Thôi, được rồi. Ta cũng vì nể tình phu nhân mà châm chước một lần. Nhưng phải có một điều kiện. Phu nhân hiểu không?

-Bẩm Thái úy quốc công, nguyện vọng tha thiết nhất của thiếp là được chôn cất chồng với thi thể toàn vẹn cho trọn đạo. Nếu Thái úy mở lượng hải hà cho thiếp được thỏa nguyện thì thiếp đội ơn vô cùng. Dẫu tốn kém bao nhiêu hay chịu cảnh búa rìu gì thiếp cũng vui lòng.

Phan Ngạn đưa mắt ra hiệu cho các thuộc hạ ra ngoài rồi hạ giọng:

-Ta vẫn nghe tiếng nàng đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nay thấy mặt thì quả không sai. Tiếc thay, một giai nhân tuyệt thế lại gặp phải một anh chồng tâm địa bất trung bất nghĩa nên phải chịu vạ lây! Nàng còn quá trẻ dại gì chịu mang tiếng là vợ góa của một tên phản thần? Ta muốn ra tay cứu vớt nàng, nàng thấy thế nào?

-Bẩm, thiếp chưa rõ ý của Quốc công!

-Nói trắng ra, ta muốn nàng về chung sống với ta để cùng hưởng phú quí lâu dài, nàng có thuận lòng chăng?

Thấy Phan Ngạn bộc lộ dã tâm như vậy, Thị Niên muốn mắng vào mặt y. Nhưng nghĩ tới việc chồng còn dang dở, bà cố nhẫn nhịn lau nước mắt thưa:

-Bẩm Thái úy quốc công, đội ơn ngài đã có lòng thương xót kẻ trầm luân. Tấm ơn lớn này thiếp sẽ khắc sâu vào tâm khảm. Vậy trước hết xin cho thiếp được nhận thủ cấp của chồng về để chôn cất cho trọn đạo đã. Xong việc, quốc công dạy bảo thế nào thiếp cũng xin vâng.

Phan Ngạn cười giở giọng trắng trợn:

-Nghĩ như vậy là biết điều đấy! Nhưng lời nói của nàng lấy ai làm chứng? Ta nên thực tế với nhau đi! Nếu nàng chịu ở lại đây với ta qua đêm nay, ngày mai nàng muốn sao ta cũng chấp thuận hết.

Thị Niên nghiêm giọng:

-Thiếp dù sao cũng là cháu ngoại của Khiêm vương, nếu quốc công chỉ coi thiếp như một con điếm để mua vui qua đêm thiếp sẽ cắn lưỡi chết để rửa nhục ngay! Khi ấy thiên hạ sẽ nghĩ quốc công giết chồng thiếp chỉ vì muốn chiếm đoạt thiếp.

Phan Ngạn nghe Thị Niên nói vậy đâm hoảng. Y đổi giọng:

-Không đâu. Ta quả thật muốn đưa nàng về cùng hưởng phú quí lâu dài với ta đấy. Nếu không, ta đã ghép nàng chung tội với Văn Khuê rồi còn gì?

Thị Niên thấy Ngạn đã nhịn, lại nôn nóng việc nhà nên đành xun xoe:

-Bẩm Thái úy quốc công, được một bậc anh hùng dưới một người trên vạn người đoái tưởng đến thì còn gì hân hạnh bằng! Thiếp nghĩ trên thế gian này không một người đàn bà nào khờ dại để từ chối cái hân hạnh đó. Nhưng thiếp cũng muốn quốc công được tiếng là người rộng lượng, không ai dám thị phi. Vậy, xin giúp đỡ thiếp, thư thả ít hôm để thiếp lo việc cho chồng cũ hầu che miệng thiên hạ đã. Xong việc đó quốc công muốn gì thiếp cũng xin chiều ý cả.

Thấy khó ép Thị Niên, Phan Ngạn nói:

-Thôi, ta cũng chiều ý nàng. Đã hứa thì phải nhớ lời nhé! Cho nàng lo việc đó trong ba ngày được không?

-Vậy thì gấp quá. Xin cho bảy ngày mới kịp!

Phan Ngạn mỉm cười truyền thuộc hạ đem cái đầu của Văn Khuê gói bằng vải thô trao cho Thị Niên. Bà đã cố kìm giữ nỗi xúc động, rối rít cám ơn rồi nói:

-Bẩm, sau khi xong việc thiếp sẽ đến đây để tạ ơn quốc công, có phải vậy không ạ?

Phan Ngạn tươi cười lả lơi:

-Còn bẩm với thưa gì nữa? Hôm nay mùng bảy, nàng hẹn bảy ngày nữa, hôm đó nhằm ngày mười bốn, mặt trăng sắp tròn. Khá khen cho nàng thật khéo chọn giai kỳ. Ta nghĩ nàng chẳng cần đến đây làm gì mà hãy gặp ta trên sông Hoàng Long ở khúc Bến Vạn như thế sẽ thơ mộng hơn. Anh hùng gặp mỹ nhân mà! Phải không?

Khi nghe Phan Ngạn hẹn gặp ở khúc Bến Vạn trên sông Hoàng Long, Thị Niên không sao khỏi thấy nhói buốt trong lòng. Văn Khuê đã bị hại chính ở khúc sông này! Nhưng một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu bà, bà cũng tươi cười nói:

-Thật không ngờ quốc công không phải chỉ là một bậc anh hùng mà còn có một tâm hồn nghệ sĩ đáng yêu đến thế! Vậy, thiếp xin tình nguyện tự trang trí một chiếc thuyền hoa thật đẹp để rước quốc công vào đêm hợp cẩn đó, quốc công có vui lòng chăng?

Phan Ngạn được khen hớn hở vui mừng:

-Nàng đã có lòng đến thế còn gì hay hơn! Ta tin chiếc thuyền hoa do nàng trang trí cũng sẽ xinh đẹp như chủ nhân của nó. Mình gặp nhau vào đầu giờ Thân nhé. Chúng ta sẽ cùng thưởng trăng trên sông. Nhớ chớ sai lời.

-Ơn lớn của quốc công thiếp đâu dám phụ! Hôm đó cứ đầu giờ Thân thuyền hoa của thiếp sẽ đến điểm hẹn!

*

Có lẽ nôn nóng với cuộc hẹn, từ giữa giờ Mùi, Phan Ngạn đã dùng một chiếc thuyền lớn có mui, có kết hoa, treo đèn đuốc và 4 chiếc thuyền nhỏ chở một số lính tráng đến đậu sẵn gần Bến Vạn. Đầu giờ Thân thì thuyền hoa của Nguyễn Thị Niên đến. Bà cho neo thuyền giữa sông mà không đến gần đám thuyền kia. Phan Ngạn thấy vậy liền cho ba thuộc hạ chèo một chiếc thuyền nhỏ tiến lại gần, một người lễ phép lên tiếng:

-Thưa, đây có phải là thuyền của Nguyễn phu nhân không ạ?

Một thị nữ trong thuyền đáp:

-Thưa đúng vậy. Phu nhân đã sẵn sàng đón tiếp Thái úy Sinh quốc công, xin rước đại nhân sang thuyền đàm đạo.

-Không, Quốc công muốn mời phu nhân sang thuyền của người.

Ả thị nữ vào mui thuyền giây lát rồi trở ra:

-Quốc công đã hẹn nên phu nhân chúng tôi đã tự mình trang trí thuyền hoa. Phu nhân rất muốn được Quốc công thưởng thức công trình của bà. Bây giờ lại sang thuyền của Quốc công thì hóa ra công trình của phu nhân chúng tôi thành công uổng. Phu nhân chúng tôi không muốn thế.

-Theo lệnh của Quốc công, nếu phu nhân đã muốn vậy thì chúng tôi xin phép được làm nhiệm vụ lục soát trong thuyền của phu nhân trước.

Ả thị nữ lại vào hỏi ý rồi trở ra đáp:

-Nếu vậy, mời các ông cứ tự nhiên.

Hai người lính liền nhảy sang thuyền hoa, lòn vào trong mui để xem xét khá kỹ. Trên thuyền chỉ có một đàn ông là người chèo thuyền ở sau lái. Số còn lại đều là đàn bà gồm phu nhân và sáu thị nữ. Trong mui thuyền chia làm hai ngăn, đều lót ván ngăn cách bởi một bức màn đỏ. Ngăn trước có thể dùng để tiếp khách, uống trà uống rượu. Ngăn sau có lẽ dành riêng cho chủ nhân. Vật dụng chỉ có ly chén đũa bát với mấy khay thức ăn và mấy bầu rượu.

Xem xét xong bọn lính trở về báo lại với chủ. Phan Ngạn vui mừng bảo chúng đưa y cùng một vệ sĩ trở lại thuyền Thị Niên. Thấy quả đúng trên thuyền chỉ toàn là đàn bà, Ngạn yên tâm ra lệnh cho đám thuộc hạ trở về thuyền, khi nào cần y sẽ cho gọi. Riêng gã vệ sĩ Ngạn cho ra đuôi thuyền ngồi chơi với người chèo. Thế là cuộc tiệc bắt đầu.

Mở màn, Thị Niên hết lời tán tụng tài năng đức độ của Thái úy quốc công. Bà cũng không quên cám ơn Quốc công đã không nề hà phân biệt ơn, thù mà giúp bà làm tròn đạo nghĩa đối với người chồng quá cố. Nói xong bà tự tay rót một chén rượu nâng ngang mày dâng Quốc công. Trong khi đó các thị nữ cũng bắt đầu kẻ đàn người múa hát giúp vui. Phan Ngạn nhận chén rượu từ tay Thị Niên cười khoái trá:

-Dù nàng dâng rượu độc ta cũng sẽ uống cạn!

Thế rồi Ngạn uống một hơi rồi rót một chén khác trao cho Thị Niên:

-Xin nàng vì ta uống cạn chén này!

Thị Niên cảm tạ nhận chén uống một ngụm rồi trao lại cho Ngạn:

-Xin lỗi Quốc công, tửu lượng của thiếp kém lắm, xin ngài chia sẻ!

Ngạn tiếp lấy chén uống một hơi rồi nói:

-Rượu quá ngon. Mình được vui nhưng cũng không nên quên kẻ dưới. Hãy thưởng cho tên vệ sĩ của ta và gã lái đò mỗi đứa một chén.

Một thị nữ liền rót rượu đưa ra sau lái cho hai người. Phan Ngạn tiếp:

-Các thị nữ gắng hầu hạ, múa hát cho giỏi nhé, ta không quên phần thưởng xứng đáng cho các ngươi đâu!

Các thị nữ lên tiếng một loạt:

-Tạ ơn Quốc công! Chúng con xin tuân lệnh!

Trong khi Phan Ngạn đang mê mẩn vừa uống vừa tán tỉnh giai nhân thì bất ngờ một tiếng “bõm” vang lên ở phía đuôi thuyền. Liền đó người lái đò bỗng cất cao giọng:

-Xin phu nhân rót rượu dâng Quốc công!

Nguyễn Thị Niên cao giọng đáp:

-Ta nghe rõ! Sẽ dâng ngay!

Lập tức các thị nữ đồng loạt nhào đến đè ngửa Phan Ngạn ra trước sự ngơ ngác của y. Họ nhét một chiếc khăn vào miệng y rồi trói nghiến lại. Một thị nữ ngồi đè lên mình Ngạn dí ngón tay vào mặt y quát:

-Mày có biết tao là ai không? Tao chính là Bùi Văn Nguyên, con trai của Mỹ quận công đây. Cha tao tội tình gì mà mày nỡ sát hại? Mẹ tao chỉ muốn đem xác chồng về chôn cất sao mày vẫn không chịu? Tại sao mày vẫn quyết hành hạ thân xác của người khi ông đã chết? Lại còn âm mưu lợi dụng mẹ tao nữa chứ! Mày đã thấy rõ tội ác của mày chưa? Nhân nào quả ấy, giờ đã tới lúc mày đền tội! Tao sẽ lấy cái đầu của mày để tế vong linh thân phụ tao, mày có ân hận không?

Hóa ra Văn Nguyên đã cải trang làm thị nữ! Lúc mới bị khống chế Phan Ngạn còn đạp mạnh hai chân lên ván thuyền cố gây tiếng động để tên vệ sĩ nghe mà tiếp cứu. Giờ nghe Văn Nguyên ngang nhiên hài tội như vậy y đoán biết ngay số phận tên vệ sĩ đã như thế nào rồi. Nước mắt Phan Ngạn bỗng trào ra ràn rụa…

Bùi Văn Nguyên lấy chính thanh kiếm của Phan Ngạn cắt cái đầu của y gói vào một tấm vải thô. Cái thây Phan Ngạn thì Văn Nguyên quăng xuống sông. Thị Niên cho rửa bớt máu cái đầu Ngạn rồi ra lệnh:

-Nhổ neo đi gấp!

Thế là chiếc thuyền hoa trở hướng đi một mạch về Trường Yên. Về đến nhà, Thị Niên liền sai Văn Nguyên đặt chiếc đầu của Phan Ngạn trước bàn thờ để tế chồng. Tế xong bà nói với Văn Nguyên:

-Bây giờ con phải nghe lời mẹ, phải lập tức dẫn em con lén đi gấp tới hành tại An Trường để qui thuận với vua Lê. Nếu chậm trễ để quân Mạc đến đây thì khốn đó!

-Thế còn mẹ?

-Cứ để mặc mẹ tính liệu. Bọn con phải đi ngay mới được!

Văn Nguyên không dám chần chờ, khăn gói dẫn đứa em đi. Thị Niên bèn gọi tất cả các những người ăn ở trong nhà lại rồi bà phát mỗi người một gói vải đã gói sẵn. Phát quà xong bà nói:

-Đa tạ các người đã gắn bó với gia đình ta lúc bình thường cũng như lúc hoạn nạn. Tên Phan Ngạn tuy là kẻ thù của gia đình ta nhưng trên danh nghĩa y vẫn là một vị đường quan đầu triều. Các người vì thương yêu gia đình ta, đã không ngại nhúng tay vào một vụ mưu sát quan trọng. Ta vô cùng cảm kích tấm ân tình sâu đậm ấy. Và chắc hẳn dưới suối vàng đức lang quân ta cũng cảm kích không kém. Nay thì hiếu sự đã xong. Chẳng có gì hơn, hiếu chủ xin tặng mỗi người một chút quà mọn mong các người không chối bỏ chút lòng biết ơn này. Mọi việc khác ta đã tính toán sắp đặt. Các người đừng vì lưu luyến gia đình ta nữa mà rước họa lây. Ngay bây giờ xin tất cả ai về nhà nấy. Hãy nghe ta, nếu không, các người có thể bị quân Mạc giết hại vô ích. Xin chúc tất cả có một cuộc sống mới an lành.

Phần kính nể bà, phần sợ bị quân Mạc sát hại, mọi người khuyên nhau giải tán để trả lại sự tự do cho gia chủ. Tuy thế, vẫn có một số đi không đứt, lén lẩn quẩn ở lại để xem bà làm gì. Người ta thấy bà bưng bát hương của chồng nhắm về phía sông Hoàng Long mà bước. Khi đến bờ sông, bà nâng bát hương lên ngang mày khấn nguyện:

-Khi xe tơ kết tóc với chàng thiếp đã ước nguyện gắn bó với chàng trọn kiếp. Nào ngờ gặp phải tên Phan Ngạn khốn kiếp đã nhẫn tâm mưu hại chàng! Nay thiếp đã trả được thù rồi, thôi thì xin theo gót chàng cho trọn ước!

Khấn xong, bà nhảy ùm xuống sông…

*

Câu chuyện Nguyễn Thị Niên đã lập kế giết Phan Ngạn để trả thù cho chồng rồi trầm mình tử tiết ở sông Hoàng Long không mấy chốc đã lan truyền khắp vùng. Điều làm thiên hạ ngạc nhiên là chẳng thấy quân Mạc phản ứng gì cả. Có lẽ lúc đó họ đã quá bối rối trước áp lực của quân Lê Trịnh nên phải làm ngơ chuyện ấy. Dân chúng nghe chuyện này ai cũng cảm kích, thương tiếc. Nhiều người đã tự nguyện rủ nhau đi suốt dọc sông Hoàng Long nhiều ngày để tìm xác bà nhưng chẳng thấy tăm hơi. Ai cũng tưởng xác bà đã trôi ra biển.

Nào ngờ bảy ngày sau thì xác bà Niên nổi lên ở vực Vông. Tay bà vẫn khư khư ôm lấy cái bát hương. Dân địa phương liền thuê thợ lặn vớt lên làm đám rất lớn. Sau đó người ta lập đền thờ cả hai ông bà Bùi Văn Khuê, Nguyễn Thị Niên để nhớ ơn hai người đã cứu dân địa phương thoát cái nạn cúng người cho thần Hà Bá và đút hối lộ cho bọn chức sắc tham lam hằng năm. Dân gian vẫn quen gọi đó là đền Vực Vông đến nay vẫn tồn tại.

Ngô Viết Trọng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s