Long Ton – Phụ nữ trong trang phục nam giới – Trường hợp Jeanne d’ Arc với ‘trang phục chéo’ vào thế kỷ 15

Cross-dressing (trang phục chéo, ăn mặc chéo) mô tả việc mặc quần áo theo giới tính của người khác giới. Thuật ngữ này thường gắn liền với xu hướng tình dục của người mặc, nhưng các nghiên cứu lịch sử và văn hoá đã chỉ ra rằng ‘ăn mặc chéo’ có thể thực hiện các chức năng mang tính kinh tế, thực dụng và chính trị.

Một người phụ nữ nổi tiếng với ‘trang phục chéo’ là Jeanne d’ Arc, người bị kết án vào năm 1431, bị đóng cọc đốt cháy cùng các nữ tội nhân khác vì mặc quần áo nam giới. Vụ án pháp lý cũng như một số lời khai của các nhân chứng vẫn còn được ghi chép rõ ràng, đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng về các chuẩn mực xã hội, tôn giáo và chính trị trong nửa đầu thế kỷ 15.

* * *

Danh mục nội dung

1. Dẫn nhập

2. Phụ nữ trong trang phục nam giới

    1. Bối cảnh lịch sử trường hợp Jeanne d’ Arc
    2. Phiên tòa giáo hội xử tội Jeanne d’ Arc
    3. Vượt qua những hạn chế của trang phục nữ giới

2.4 Tính dục – Thánh thiện

3. Kết luận

4. Danh mục tài liệu và nguồn trích dẫn

 

1. Dẫn nhập

Một phụ nữ không nên đeo trang bị của một người đàn ông và một người đàn ông không nên mặc trang phục của phụ nữ. Một khi những ai làm điều đó, là một điều ghê tởm cho Giê-hô-Va Ðức Chúa Trời các ngươi. – Deuteronomium, 22,5

Như theo trích dẫn ở trên, việc phụ nữ mặc quần áo nam giới hoặc ngược lại, đàn ông mặc quần áo của phụ nữ không phải là một khái niệm mới mẻ, nhưng đã gây bận tâm cho nhân loại trong nhiều thế kỷ. Quần áo không chỉ phục vụ để che đậy cơ thể trần truồng, để bảo vệ chống lại những nguy hiểm đến từ bên ngoài như thời tiết và ánh sáng mặt trời, mà còn thể hiện nhu cầu xã hội. Quần áo của một người nói lên một kỳ vọng về một vai trò với bên ngoài, bởi vì nó phục vụ như một nhân tố để nhận diện ra ai, làm gì v.v…

Quần áo do đó phục vụ như là một chức năng quan trọng trong cấu trúc xã hội và do đó tạo ra bản sắc cho người mặc. Những mong đợi về vai trò và chức năng này bị đảo ngược qua cái gọi là ‘cross-dressing’.

Cross-dressing (trang phục chéo, ăn mặc chéo) mô tả việc mặc quần áo theo giới tính của người khác giới. Thuật ngữ này thường gắn liền với xu hướng tình dục của người mặc, nhưng các nghiên cứu lịch sử và văn hoá đã chỉ ra rằng ‘ăn mặc chéo’ có thể thực hiện các chức năng mang tính kinh tế, thực dụng và chính trị.

Một người phụ nữ nổi tiếng với ‘trang phục chéo’ là Jeanne d’ Arc, người bị kết án vào năm 1431, bị đóng cọc đốt cháy cùng các nữ tội nhân khác vì mặc quần áo nam giới. Vụ án pháp lý cũng như một số lời khai của các nhân chứng vẫn còn được ghi chép rõ ràng, đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng về các chuẩn mực xã hội, tôn giáo và chính trị trong nửa đầu thế kỷ 15.

Tính đặc thù và ý nghĩa của trường hợp Jeanne d’ Arc dựa trên những phát hiện gần đây về lịch sử của cơ thể con người. Lịch sử cơ thể xem xét sự kết nối lịch sử và tương tác giữa cơ thể con người và xã hội của nó. Qua đó, đây là một câu chuyện liên quan đến các mối quan hệ của các cấu trúc xã hội, các chuẩn mực và các giá trị, trong bối cảnh của cơ thể trong một khung lịch sử-xã hội. Kể từ những năm 1960, phong trào phụ nữ nẩy mầm lên đã xác định sự phát triển của lịch sử phụ nữ và giới tính và ngày nay là một thành phần đặc biệt quan trọng trong khoa học lịch sử hiện đại, có thể áp dụng để nhìn lại cho nhiều giai đoạn trong quá khứ, ví dụ như trường hợp Jeanne d’ Arc.

Tác động của việc mặc quần áo nam của Jeanne d’ Arc được diễn giải và thảo luận một cách khác nhau trong khi nghiên cứu. Đặc biệt là lịch sử giới tính và lịch sử văn hoá khi đề cập đến Jeanne d’ Arc. Thêm vào đó, nhà hoạt động đồng giới tính Leslie Feinberg đã viết trong cuốn sách của mình về ‘Giải phóng người chuyển giới’ năm 1992 rằng, Jeanne d’ Arc đã được xem như là một người chuyển giới, sẵn sàng chết vì niềm tin và bản sắc của bà ấy1. Các sử gia Hoa Kỳ như Kelly DeVries và Susan Crane nhấn mạnh đến sự phong phú của các lời bày tỏ về quần áo của Jeanne d’ Arc, sự đảo ngược vai trò giới tính, và sự chuyển đổi giới của Jeanne d’ Arc2. Regine Pernoud, một phụ nữ người Pháp đã viết rất nhiều trong nửa sau của thế kỷ 20 về phụ nữ và vị trí của họ trong thời Trung Cổ và đặc biệt dành riêng cho Jeanne d’ Arc, cho rằng mục đích thực dụng của hành động Jeanne d’ Arc mặc trang phục nam giới là để thuận tiện trong khi chiến đấu trong thời gian chiến tranh và cũng để bảo vệ tránh bị hãm hiếp3. Các nguồn dẫn khi điều tra trong vụ án của Jeanne d’ Arc được dựa trên các ấn bản Jules Quicherat (1814-1882) và các ấn phẩm gần đây hơn Pierre DuParcs4. Đây là những nguồn tài liệu rất phong phú. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, thành quả nghiên cứu của Quicherat đối với ngày nay được xem là không đầy đủ, thiếu sót, cũng như một số phần của các tài liệu đã được chỉnh sửa và xuất bản lại trong thời gian sau này5. Những nghiên cứu và diễn giải một số hồ sơ được chọn, cũng như những lời khai từ các nhân chứng đương thời về quá trình điều tra vụ án của Jeanne d’ Arc cung cấp cái nhìn sâu sắc về động cơ và phạm vi hành động của từng cá nhân. Lồng trong bối cảnh lịch sử, cần phải chỉ ra rằng, trong số những cáo buộc khác nhau mà Jeanne d’ Arc bị kết án, việc buộc tội mặc quần áo của đàn ông được biện minh là một chủ nghĩa hình thức chứ không phải là một cuộc bức hại ý thức hệ. Ngoài ra, trong trường hợp Jeanne d’ Arc cho thấy, thuật ngữ Chuyển Đổi Giới có thể bị che dấu. Thay vào đó, ‘trang phục chéo’ của bà được giải thích như là một hình thức cần thiết chống lại bạo lực nam giới.

2. Phụ nữ trong trang phục nam giới

Mặc quần áo của người khác giới vì mục đích đánh lừa người khác là một vấn đề tế nhị đã được thảo luận và phê bình ngay cả trong nhà thờ và trong các lĩnh vực văn học, xã hội. Tuy nhiên, ‘mặc chéo’ là một thực tế của các xã hội thời Trung Cổ, được phản ánh trong các văn bản văn học, truyền thuyết, huyền thoại, và các câu chuyện thiêng liêng, do đó được luận giải theo hình thức văn hoá. Liệu ‘mặc chéo’ có được sự chấp nhận xã hội vào cuối thời Trung Cổ không? Mặc dù có nhiều thí dụ cho thấy có một số vị thánh nữ và thánh chuyển giới tính tồn tại trong và trước thời của Jeanne d’ Arc (ví dụ như Euphrosyne hay Eugenia), còn cần phải phân biệt giữa luật pháp thế tục và của giáo hội khi về sau muốn thánh hóa những người này, như trong trường hợp của Jeanne d’ Arc.

Như đã trình bày ở phần dẫn nhập, khái niệm ‘mặc chéo’ không mang ý nghĩa về một xu hướng tình dục và do đó đầu tiên nó không phải là một bản sắc tình dục. Đây là điểm quan trọng bởi vì ‘mặc chéo’ được thực hành vì nhiều lý do. Tiếp nữa, tổng hợp các khái niệm, ‘mặc chéo’ là một phần lớn của sự hình thành bản sắc những người thay đổi giới tính. Quần áo là một hình thức bên ngoài để khẳng định cụ thể giới tính nhằm tiếp cận người khác phái. Thuật ngữ ‘mặc quần áo chéo’ bây giờ được định nghĩa là việc thực hành chuyển giới. Một phụ nữ trong quần áo của nam giới mở ra khả năng, tạo được một đời sống khác mà trước đây cô ta đã từng bị từ chối khi muốn tham dự vào. Các diễn giải về bản sắc chuyển đối giới tính là để làm sáng tỏ một khía cạnh quan trọng đối với những động cơ của Jeanne d’ Arc.

2.1 Bối cảnh lịch sử của Jeanne d’ Arc

Jeanne d’ Arc sinh ngày 06.01.1412 tại Domremy thuộc Vương quốc Pháp, ở giữa thời gian cuộc chiến tranh kéo dài trăm năm giữa Anh và Pháp(5). Cuộc tranh giành ngôi vua của Pháp khởi đầu từ cái chết của Karl IV, năm 1328, dẫn đến cuộc chiến giữa nhà quý tộc Lancaster Henry V và Valois Charles VI,1415 tại chiến trường Azincourt để tranh giành ngai vàng. Sau cái chết của Dauphin Ludwig (người thừa kế), người Pháp lâm vào cuộc nội chiến giữa những người ủng hộ Công tước Burgundy (gọi là Bourguignons) và những người theo Dauphin ủng hộ công tước Louis von Orleans. Bourguignons liên minh với người Anh, chiếm đóng Paris và kiểm soát một khu vực rộng lớn ở miền bắc nước Pháp. Thông tin chi tiết về cuộc đời của Jeanne d’ Arc chủ yếu là thông qua những báo cáo của chính bà trong quá trình diễn ra vụ án. Bà cho biết, khi đang ở tuổi 13, lần đầu tiên bà đã được nghe giọng nói của thiên thần, ra lệnh hãy tìm kiếm viên chỉ huy Robert de Baudricourt của Vaucouleurs, để cùng phá vòng vây Orleans6. Ngoài những lời khai của Bertrand de Poulengys, một nhân chứng và là người bạn đồng hành, người ta còn biết Jeanne d’ Arc hành động theo một sứ mệnh thiêng liêng của Thiên Chúa, và cũng để giúp Dauphin (Charles VII) giữ ngôi vua của Pháp7. Vào trong tháng 4.1429, Jeanne d’ Arc gia nhập đội quân do Poulengy lãnh đạo để phá vỡ vòng vây Orleans của quân Anh8. Đây là một bước ngoặt trong chiến tranh, khi Orleans được dùng như một căn cứ chiến lược để vượt sông Loire, mở đường tiến về Paris và Reims. Từ đó bà mở ra những chiến dịch quân sự lớn hơn và nhận được sự ủng hộ như từ Jean Gerson, viện trưởng Đại học Paris và các thành viên của Hội đồng Constance từ 1414 – 14189. Một vài tháng sau, vào tháng 7.1429, quân đội trung thành với Dauphin thành công tiến chiếm những khu vực do Công tước Burgundy lãnh đạo, từ Đông Bắc nước Pháp đến Reims rồi trao vương niệm tại đây cho nhà vua Charles VII. Sự thành công bất thường của Jeanne d’ Arc, một phụ nữ trong quân phục nam giới và xuất thân từ một gia đình nông dân đơn giản, với sứ mạng thiêng liêng đánh đuổi người Anh làm cho phía Anglo-Burgundian không thể không quan tâm đến. Vào tháng 5.1430, Jeanne d’ Arc bị Johann II. của Luxembourg bắt trong cuộc vây tỏa Compiegne và sau đó giao cho người Anh tại Rouen. Ở đó bà đã bị cáo buộc là dị giáo sau một quá trình xét xử qua tòa án giáo hội.

2.2 Phiên tòa giáo hội xử tội Jeanne d’ Arc

Từ ngày 21.2.1431 Jeanne d’ Arc bị đem ra xét xử trước tòa án giáo hội dưới sự điều khiển của giám mục Pierre Cauchon của thành phố Beauvais, là một người thân Anh. Ngay từ ban đầu, cuộc xử án chỉ là hoạt cảnh do người Anh đạo diễn nhằm miêu tả Jeanne d’ Arc như là một kẻ dị giáo và qua đó làm mất giá trị cho lễ đăng quang của Charles VII do phiên tòa bị Công tước Bedford và Earl of Warwick kiểm soát10. Cộng thêm vào đó, ngay từ đầu các giáo luật quan trọng của một tòa án xử về dị giáo đã bị bỏ qua. Điểm đầu tiên, Giám mục Pierre Cauchon không được phép tiến hành một vụ xử án như vậy bên ngoài giáo phận của mình. Ngoài ra, luật giáo hội đòi hỏi nhà điều tra địa phương Jean Le Maistre phải xác nhận chính xác tiến trình vụ án, điều đó cũng không xảy ra. Trong quá trình thẩm vấn và các ngày xử án, bản chất của Jeanne d’ Arc được truy xét và làm giảm sự tin cậy về các bằng chứng. Ngoài ra, các công tố viên đã được huấn luyện hùng biện đã cố ý kích động những mâu thuẫn về Jeanne d’ Arc để buộc tội bà lạc giáo, chẳng hạn như cho rằng bà có phép thuật và liên hệ với ma quỷ11. Trong thời gian tranh cãi, hành động Jeanne d’ Arc mặc quân phục nam giới cũng được đề cập đến. Theo yêu cầu để được tham dự buổi lễ, Jeanne d’ Arc nói: “Nếu tôi được phép tham dự buổi Thánh lễ, được cởi bỏ sợi dây xích và chuyển đến nhà tù đúng mực cùng với một nữ tu ở bên cạnh, tôi sẽ mặc một chiếc váy dài chạm đất và khi quay trở lại tôi lại mặc quần áo nữ của tôi.”12. Trả lời câu hỏi, tại sao không muốn cởi bộ quân phục nam giới, bà Jeanne d’ Arc nhắc lại rằng vì bà sợ bị lính canh cưỡng hiếp. Theo báo cáo vào ngày 12.5.1456 của Guillaume Manchon, công chứng tòa án, được biết như sau: “Khi được hỏi tại sao bà ấy không mặc quần áo của phụ nữ, bà được giảng rằng, mặc áo choàng và quần của đàn ông là không phù hợp với một người phụ nữ, áo quần đàn ông được buộc chặt từng túm cùng với nhiều sợi dây thừng, bà nói bà không tin tưởng được an toàn khi từ bỏ những chiếc quần đó, bởi vì Giám mục [của Beauvais] và Công tước [của Warwick] biết rõ rằng, theo lời của bà, các lính canh liên tục tìm cách hãm hiêp bà. Đã có một lần, sau khi bà kêu cứu, ngay chính Công tước đã xuất hiện, nếu không, bà đã bị hãm hiếp“13. Là một phần của nguyên tắc bội đạo (Abjuration), vào sáng ngày 24.5.1431, Jeanne d’ Arc đã được lựa chọn hoặc bị treo cọc đốt cháy hoặc phải nhận tất cả mọi tội bị truy tố và ngừng mặc quần áo của người lính. Trong nỗi sợ hãi, bà đã ký vào bản án, nhận tội lỗi của mình và bị kết án chung thân trong nhà tù của nhà thờ. Tuy nhiên mục đích chính trị của người Anh là kết tội Jeanne d’ Arc là một kẻ dị giáo để làm mất giá trị buổi lễ đăng quang của Charles VII, nhằm làm suy yếu vị thế của ông ta ở Pháp. Chỉ bốn ngày sau đó, Jeanne d’ Arc rút lại lời thú nhận của mình và mặc quần áo của người lính trở lại. Jean Massieu, nhân viên phục vụ tòa nói: “Và rồi một trong số những người Anh này lấy quần áo của phụ nữ của bà, đổ tất cả đồ trong túi xách, trong đó có quần áo nam giới rồi ném cho bà ấy. Họ thu lại tất cả quần áo của phụ nữ rồi nhét vào trong túi xách. Và, như bà nói, bà mặc những bộ quần áo của đàn ông mà người ta đã trao cho bà và nói: “Quý vị biết đấy, điều đó bị cấm đối với tôi: Tôi sẽ không chấp nhận điều đó”. Nhưng họ không cho bà ấy bất cứ gì khác […] vì vậy bà ấy buộc lòng phải rời khỏi phòng để mặc những bộ quần áo này, và khi bà ấy trở lại, bà không được mặc quần áo nào khác, bất kể những lời yêu cầu của bà ấy”14. Tòa án đưa vụ tái phạm này trở thành tội dị giáo như là một dấu hiệu của sự hư hỏng không thể giáo dục được của Jeanne d’ Arc và biện minh dưới danh nghĩa này để đốt giết bà: “Chỉ có những người đã từng thề từ bỏ sai lầm của họ nhưng lại tái phạm, có thể bị kết án tử hình trong một tòa án của giáo hội15. Jeanne d’ Arc bị tước bí tích vào ngày 30.5.1431 rồi bị đốt cháy khỏa thân tại chỗ.

2.3 Vượt qua những hạn chế của trang phục nữ giới

Tính hợp pháp của việc Jeanne d’ Arc ‘mặc áo quần chéo’ đã được tranh luận rộng rãi sau khi phiên xử của bà giữa các nhà thần học và hàng giáo sĩ. Mãi đến năm 1450, sau chiến tranh và qua một diễn trình phục hồi danh dự, do mẹ của bà Jeanne d’ Arc khởi xướng, các lời khai của các nhân chứng tham dự phiên xử đã cho thấy lý do chính để Jeanne d’ Arc ‘mặc chéo’ là để bảo vệ lấy mình và giữ gìn trinh tiết cho bà16. ‘Mặc chéo’ dù bị cấm ở cấp độ giáo hội, tuy nhiên, trước đó không có trường hợp nào được nêu ra cho đến khi vụ án của Jeanne d’ Arc xảy ra, dẫn đến việc thi hành án tử hình. Ngược lại, trong tác phẩm thần học Summa theologica (thần học tổng hợp) của Aquinas năm 1265, người ta nói rằng phụ nữ mặc quần áo nam giới dù là tội lỗi, nhưng đôi khi cần thiết phải mặc, hoặc để che mắt kẻ thù hoặc vì không có gì khác để mặc17. Học thuyết Công giáo này được các nhà thần học và các nhà kinh điển khác như Huguccio Pisanus vào cuối thế kỷ 12 hỗ trợ18. Hoặc như Guido de Baysio vào thế kỷ 1319 và Hildegard von Bingen vào thế kỷ 1220. Có thể nói rằng, Hội Thánh có thái độ chối bỏ rõ ràng việc ‘mặc áo quần chéo’ nhưng lại không nên được hiểu là tuyệt đối cấm. Quần áo của Jeanne d’ Arc cũng được mô tả chi tiết hơn trong quá trình xử án: Quần dài cột với áo Wams với 20 dải băng (Wams tương tự như áo Jerkin là một loại áo khoác, được xem là tiền thân của áo gi lê ngày nay – Ghi chú của người dịch), đi kèm theo còn có đôi giày cao tận eo, giày cũng được cột chung với chiếc áo Wams21. Có thể giả định một cách hợp lý rằng, với một bộ quần áo như vậy sẽ rất khó khăn cho những ai có ý định hãm hiếp phụ nữ. Ngoài ra, người ta cũng biết rằng, những người bạn của bà từ Vaeucouleurs đã khuyên Jeanne d’ Arc và thậm chí còn là điều bắt buộc bà phải sử dụng loại quần áo này22. Cũng như ở ngoài mặt trận, quần áo của bà cũng không có gì đặc biệt khác, điều này làm yếu đi các lý lẽ trong các cuộc tranh luận của người nữ nổi loạn trước quan tòa thần giáo: “bất cứ khi nào ngay cả khi bà ấy ngủ cùng đội quân của bà trong trại, bà ấy không bao giờ cởi ra những trang bị áo giáp trên người của mình” 23. Giám mục của Noyon, Jean de Mailly nói thêm vào ngày 2.4.1456: “Tôi nghe nói rằng quần áo đàn ông được ném vào lều của bà ấy24. Một lời phát biểu của Jean Massieus cho thấy: “Và cuối cùng, bị ép buộc vì sự cần thiết về thể chất, bà phải chấp nhận quần áo nam giới và bà không thể có được quần áo nào khác ngoài quần áo do lính canh đưa cho, rồi bị nhiều người khác nhìn thấy đang mặc trang phục nam giới, để rồi bị bị kết án tái phạm”25. Adrien Harmand, người đã viết rất nhiều về quần áo và các trang bị quân đội của Jeanne d’ Arc, cũng lưu ý rằng 20 cái móc và những sợi dây băng để cột quần với chiếc áo Wams (jerkin) của Jeanne d’ Arc, vượt quá con số bình thường từ 10 đến 12 sợi, làm tăng thêm tính lý luận của những tiện ích thiết thực26. Bối cảnh nỗi sợ hãi của Jeanne d’ Arc bị hãm hiếp trở nên rõ ràng hơn khi người ta cân nhắc đến hoàn cảnh vụ việc bắt Jeanne d’ Arc. Yêu cầu của bà được chuyển đến một nhà tù thuộc giáo hội, để được các nữ tu bảo vệ, đã bị từ chối27. Một lý do khác tại sao Jeanne d’ Arc lại một lần nữa chấp nhận quần áo của đàn ông sau khi đã một lần thề từ bỏ, sẵn sàng ăn mặc áo quần của phụ nữ, với điều kiện là bà được bảo vệ khỏi sự lạm dụng nam giới, được thấy qua lời khai vào ngày 12.5.1456 của Guillaume Manchons: “Và bà ấy nói rằng các thẩm phán đã hứa với bà rằng, bà sẽ được đặt trong sự chăm sóc trong nhà tù của Giáo Hội và một phụ nữ [nữ tu] bên cạnh cùng cô ấy; và nếu những vị thẩm phán vui lòng đưa bà đến một nơi an toàn, để bà ấy không phải sợ hãi nữa, khi ấy bà sẽ sẵn sàng để mặc quần áo phụ nữ”28. Jean Massieu nói vào ngày 5.3.1450: “và vào ngày đó (ngày Jeanne d’ Arc thề từ bỏ mặc áo quần nam giới, sau bữa ăn tối, với sự có mặt của hội đồng, bà đã bỏ mặc quần áo của nam giới và mặc quần áo của phụ nữ, như bà ấy đã thề29. Một sự cần thiết phải mặc quần áo và áo giáp của người lính sau trận chiến nếu không xảy ra thì bà ấy đã có ý thức mặc quần áo phụ nữ30.

Theo luật pháp, việc giải thích quan niệm của nhà thờ về trang phục nam của Jeanne d’ Arc dù là tội lỗi, nhưng trên thực tế đã chứng minh Jeanne d’ Arc mặc quần áo nam giới là cần thiết khi chiến đấu và để bảo vệ lấy mình. ‘Trang phục chéo’ của Jeanne d’ Arc, qua đó, không phải là do từ mong muốn thay đổi nhân dạng nam giới, như những lời chứng khẳng định. Do đó, rõ ràng là không có thời điểm nào trong khi và sau phiên tòa, lời khai của Jeanne d’ Arc và các nhân chứng khác nghi ngờ về động cơ và sự cần thiết của bà để mặc quần áo của đàn ông. Vào ngày 7.7.1456, bản án của Jeanne d’ Arc đã bị xóa bỏ dựa trên cơ sở Summa theologica, vì động cơ của bà không phải là tội lỗi và vì hoàn cảnh mà bà thấy cần thiết phải mặc ‘trang phục chéo’31.

2.4 Tính dục – Thánh thiện

‘Trang phục chéo’ và xu hướng mặc áo quần người khác giới (Transvestitismus) trong văn học phổ biến thường có liên quan đến tình dục đồng giới và chuyển đổi giới tính. Người ta tin rằng những người mặc quần áo của người khác giới muốn thể hiện bản sắc tình dục của họ. Mặc dù quan niệm về quần áo tạo bản sắc tình dục không phải là một hình thức mới mẻ gì, nhưng là sai lầm khi truyền nó sang quá khứ, và trong trường hợp này là trường hợp của Jeanne d’ Arc. Câu chuyện huyền thoại cho rằng, Jeanne d’ Arc có thể có xu hướng về đồng tính, chủ yếu xuất phát từ nhà văn nữ Vita Sackville-West và tác phẩm của bà „Jeanne d’Arc, Trinh nữ của Orleans“ (Jeanne d’Arc, die Jungfrau von Orleans), xuất bản ở Đức vào năm 1937. Sackville-West dựa vào lời khai của Jeanne d’ Arc và các nhân chứng khác cho rằng, Jeanne d’ Arc ngủ chung giường với các cô gái và những phụ nữ trẻ khác, để từ đó suy diễn ra, đây là hành động đồng tính32. Tuy nhiên, hành động đồng tính luyến ái này bị phản bác nhiều lần và cho đến khi bị đốt cháy, trinh trắng của Jeanne d’ Arc đã được xác nhận33. Các nhà sử học và các tác giả khác của thế kỷ 20 ủng hộ quan điểm cho rằng, xu hướng mặc áo quần người khác giới của Jeanne d’ Arc không thể tách rời hoàn toàn khỏi bản sắc tình dục của bà. Susan Crane lập luận rằng, hình ảnh của mỗi người có liên quan đến giới tính của họ và rằng, người có tính dục không đồng tính không có nghĩa phải là người dị tính34. Leslie Feinberg nhận thấy Jeanne d’ Arc có xu hướng chuyển đổi giới tính, điều mà không thể phủ nhận qua ‘trang phục chéo’ của bà35. Cuộc tranh luận về tính dục của Jeanne d’ Arc cũng nhất thời, không dựa trên những cơ sở vững chắc, vì nó đã được khuấy động lại trong lịch sử của phụ nữ và giới tính cũng như có nhiều tác giả đồng tính luyến ái và chuyển giới có thể bị cáo buộc cho rằng, cố tình tìm kiếm một nữ anh hùng cho ý thức hệ của mình. Điều này có thể xem xét kỹ hơn qua các bằng chứng. Jeanne d’ Arc không phải là trường hợp đầu tiên trong lịch sử giáo hội, đã biện minh cho việc ‘ăn mặc chéo’ của mình vì những lý do thiết thực. Giám mục của Lisieux, Thomas Basin, trích dẫn các câu chuyện của một số nữ thánh mặc quần áo của đàn ông vì những lý do cần thiết: Margareta của Scotland vào thế kỷ 11, Marina của Bithynia vào thế kỷ thứ 5 và Euphrosyne của Alexandria vào thế kỷ thứ 536, tiếp thêm còn có Đức Giám mục Le Mans và Avranches và các nhà thần học của đại học Paris và Noyon cũng đưa ra những nữ thánh tiêu biểu khác giống như Jeanne d’ Arc, vì cần thiết phải mặc quần áo của đàn ông37. Trên thực tế, cho thấy có những câu chuyện tự thuật liên tục diễn ra trong lịch sử giáo hội, có nhiều phụ nữ vì không còn cách nào khác hơn nên phải ẩn mình trong bộ quần áo của đàn ông vào đầu thời Trung Cổ. Tuy nhiên, dù mặc ‘quần áo chéo’ họ được miễn tội, trước hết là những phụ nữ này đã hành động để bảo vệ sự trinh trắng và tính mạng của mình. Sự cần thiết này phù hợp với đức hạnh của Cơ đốc giáo. Một ngụ ý về trinh trắng trên sứ mệnh thiêng liêng được tìm thấy một lần nữa trong câu chuyện về Jeanne d’ Arc. Là một trinh nữ can đảm và trung tín với một sứ mệnh thiêng liêng Thiên Chúa giao phó, sứ mệnh ấy là bà nên đánh đuổi những kẻ xâm lược và giúp Dauphin lên ngai vàng hợp pháp trong vương quốc của Thiên Chúa. Năm 1920 Jeanne d’ Arc được Đức Giáo hoàng Benedict XV. phong thánh.

3. Kết luận

Nhờ vào các ghi nhận, hồ sơ, tài liệu tòa án và lời khai từ các nhân chứng trong quá trình thẩm vấn, vụ án giáo hội xử Jeanne d’ Arc cũng như cuội hồi tố phục hồi danh dự cho bà được nghiên cứu rộng rãi và dẫn đến thực tế là đã có rất nhiều tác phẩm và lý thuyết về con người Jeanne d’ Arc được hình thành. Trường hợp Jeanne d’ Arc được xem là vẫn phù hợp khi phóng cái nhìn vào những diễn biến lịch sử về phụ nữ, giới tính và cơ thể ngày càng xảy ra nhiều hơn. Trong bối cảnh này, lại càng cho thấy rằng, quá trình vụ án được điều khiển từ người Anh chống lại Jeanne d’ Arc mang động cơ chính trị, mặt khác, việc truy tố Jeanne d’ Arc là bội giáo đã có rất nhiều khó khăn để đưa ra được các bằng chứng đáng tin cậy. Chỉ đến khi thất bại, cuộc truy tố khi đó mới dùng lập luận dựa căn bản trên quyển sách Đệ Nhị Luật (Deuteronomium) về tội lỗi của việc dùng ‘trang phục chéo’. Các học giả và các nhà lãnh đạo giáo hội cố tình bỏ qua các ví dụ về lịch sử và học thuyết của giáo hội trong đó phụ nữ được phép mặc quần áo nam giới trong một số hoàn cảnh nhất định, những hoàn cảnh hoàn toàn trùng hợp mọi khía cạnh với trường hợp của Jeanne d’ Arc. Trong quá trình vụ án, không có gì rõ ràng hơn để thấy rằng, Jeanne d’ Arc mặc quần áo nam giới không vì các lý do nào khác ngoài mục đích phòng vệ bản thân hoặc khi ra chiến trường. Chỉ như vậy, một phụ nữ như Jeanne d’ Arc mới có thể xâm nhập vào, đạt được sự chấp nhận, được tôn trọng và hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của mình trong một xã hội do nam giới thống trị. Tương tự như vậy, không thể lập luận rằng, khuynh hướng tình dục của Jeanne d’ Arc bị ảnh hưởng qua việc chấp nhận quần áo nam giới. Trong bối cảnh này, và trong thế giới kinh nghiệm của Jeanne d’ Arc, quần áo của đàn ông không chỉ là một biểu tượng mà còn là một phương tiện giúp cho bà thực hiện sứ mệnh mà Đức Chúa Trời đã giao phó. Một sứ mệnh mà bà sẽ không thể làm được nếu bà bước vào cuộc chiến với một bộ váy.

4. Danh mục tài liệu và nguồn trích dẫn

– Aquin, Thomas. Die deutsche Thomas-Ausgabe (Summa theologica). Heidelberg, 1933.

– Bouzy, Olivier. Errors in Joan of Arc’s Texts. In: Fresh Verdicts on Joan of Arc. New York 1996. S. 75-76

– Böckeler, Maura. Wisse die Wege. Scivias. Salzburg, 1954. Crane, Susan. -Clothing and Gender Definition: Joan of Arc. In: Journal of Medieval and early Modern Studies, Bd. 26. 1996. S. 297-314.

– De Baysio, Guido. Rosarium decretorum. Düsseldorf, 2011.

– DeVries, Kelly. A Woman As A Leader Of Men. In: Fresh Verdicts on Joan of Arc. New York, 1996. S. 3-19.

– DuParc, Pierre. Proces en Nullite de la Condamnation de Jeanne d’Arc. 5 Bände. Paris, 1977-1988.

– Feinberg, Leslie. Transgender Liberation: A Movement Whose Time Has Come. New York, 1992.

– Feinberg, Leslie. Transgender Warriors: Making History from Joan of Arc to Rupaul. Boston, 1996.

– Harmand, Adrien. Jeanne d’Arc; ses Costumes, son Armure. Essai de reconstitution. Paris, 1929.

– Hobbins, Daniel. Jean Gerson’s Authentic Tract on Joan of Arc: Super facto puellae et credulitate sibi praestanda. In: Mediaeval Studies, Bd. 67, Toronto, 2005, S. 99-155.

– Hobbins, Daniel. The Trial of Joan of Arc. Cambridge, 2005.

– Hotchkiss, Valerie. Clothes Make the Man: Female Cross Dressing in Medieval Europe. London, 1996.

– Pernoud, Regine. Joan of Arc. New York, 1998.

– Pernoud, Regine. Joan of Arc: By Herself And Her Witnesses. Scarborough, 1990. – Pisanus, Huguccio. Summa Decretorum, I: Distinctiones I-XX, Vatikanstadt, 2006.

– Quicherat, Jules. Proces de la Condamnation et de Rehabilitation de Jeanne d’Arc, dite la Pucelle. 5 Bände. 1841-1849. Neuveröffentlicht in Charleston, USA, 2012.

– Sackville-West, Vita. St. Joan of Arc. New York, 1936.

TTP chuyển dịch từ nguyên bản tiếng Đức

Eine Frau in Männerkleidung, Der Fall Johanna von Orleans und ihr ‘cross-dressing’ im 15. Jahrhundert“

1 Feinberg, Leslie. Transgender Liberation: A Movement Whose Time Has Come. New York, 1992.

2 DeVries, Kelly. A Woman As A Leader Of Men. In: Fresh Verdicts on Joan of Arc. New York, 1996. S. 3-19, sowie Crane, Susan. Clothing and Gender Definition: Joan of Arc. In: Journal of Medieval and early Modern Studies, Bd. 26. 1996. S. 297.

3 Pernoud, Regine. Joan of Arc. New York, 1998.

4 Quicherat, Jules. Proces de la Condamnation et de Rehabilitation de Jeanne d’Arc, dite la Pucelle. 5 Bände. 1841-1849. Neuveröffentlicht in Charleston, USA, 2012, sowie DuParc, Pierre. Proces en Nullite de la Condamnation de Jeanne d’Arc. 5 Bände. Paris, 1977-1988.

5 Bouzy, Olivier. Errors in Joan of Arc’s Texts. In: Fresh Verdicts on Joan of Arc, New York 1996. S. 75- 76. 4 2 Eine Frau in Männerkleidung Das Tragen der geschlechtsspezifischen

6 Pernoud, Regine. Joan of Arc: By Herself And Her Witnesses. Scarborough, 1990. S. 30.

7 Ebd. S. 33-34.

8 Ebd. S. 71-80.

9 Hobbins, Daniel. Jean Gerson’s Authentic Tract on Joan of Arc: Super facto puellae et credulitate sibi praestanda. In: Mediaeval Studies, Bd. 67, Toronto, 2005. S.99.

10 Pernoud, Regine. Joan of Arc: By Herself And Her Witnesses. 1990. S. 165-167.

11 Hobbins, Daniel. The Trial of Joan of Arc. Cambridge, 2005. S. 62-72.

12 Quicherat. Bd. 1, S. 456.

13 DuParc, Pierre. Proces en Nullite de la Condamnation de Jeanne d’Arc. 5 Bände. Paris, 1977-1988, Bd. 1, S. 426.

14 Quicherat. Bd. 2. S. 18.

15 Pernoud, Regine. Joan of Arc. S. 132.

16 S.o. Zitat Guilleaume Manchon.

17 Aquin, Thomas. Die deutsche Thomas-Ausgabe (Summa theologica). Heidelberg, 1933. IIa-IIae, Frage 169.

18 Pisanus, Huguccio. Summa Decretorum, I: Distinctiones I-XX, Vatikanstadt, 2006.

19 De Baysio, Guido. Rosarium decretorum. Düsseldorf, 2011.

20 Böckeler, Maura. Wisse die Wege. Scivias. Salzburg, 1954.

21 Quicherat. Bd. 1. S. 220-221.

22 DuParc. Bd.1. S. 290, 298, 306.

23 Quicherat. Bd. 4. S. 250.

24 Quicherat. Bd. 3. S. 55.

25 Quicherat. Bd. 3. S. 158.

26 Harmand, Adrien. Jeanne d’Arc; ses Costumes, son Armure. Essai de reconstitution. Paris, 1929. S. 143f.

27 Quicherat. Bd. 1. S. 456.

28 Quicherat. Bd. 3. S. 148f.

29 Quicherat. Bd. 2. S. 18.

30 Hotchkiss, Valerie. Clothes Make the Man: Female Cross Dressing in Medieval Europe. London, 1996. S. 54.

31 DuParc. Bd. 2. S. 465-467.

32 Sackville-West, Vita. St. Joan of Arc. New York, 1936. S. 86f.

33 Pernoud, Regine. Joan of Arc. New York, 1998. S. 62-64.

34 Crane, Susan. Clothing and Gender Definition: Joan of Arc. In: Journal of Medieval and early Modern Studies. Bd. 26, 1996. S. 297-314.

35 Feinberg, Leslie. Transgender Warriors: Making History from Joan of Arc to Rupaul. Boston, 1996. S. 36f.

36 DuParc. Bd. 2. S. 208.

37 DuParc. Bd. 2. S. 249, 262, 328.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s