Nguyên Nguyên – Những mùa Xuân năm cũ (2018)

Rất dễ đi đến một nhận xét tổng quát là thế hệ hiện tại phải chứng kiến rất nhiều biến đổi về trật tự xã hội cũng như những tiến hóa vượt bực của kỹ thuật và công nghệ. Nhưng có lẽ cũng không khó nếu dựa vào dữ kiện để biện luận rằng thế hệ nào cũng phải đối phó với thay đổi về nếp sống, về kinh tế, về thách thức với con người – tựu chung bắt nguồn từ gia tăng nhân số trên trái đất, và từ một hai thế kỷ nay đa phần tập trung vào các đô thị khắp nơi trên thế giới.

Nếu lấy khoảng thời gian 30 năm tương đương với một thế hệ, ta thấy có nhiều phát minh kỹ thuật khoa học có thể phát triển đến mức không ngờ chỉ trong vòng một thế hệ.

Thí dụ trước mắt là chiếc điện thoại di động (mobile phone hay cell phone), được lăng-xê trong thời gian mạng điện tử internet được giới thiệu với toàn cầu khoảng giữa thập niên 1980 sang qua thập kỷ 1990, thì chỉ trong vòng 20-30 năm sau, người ta thấy Twitter, App trên các điện thoại di động rồi Phây tức Facebook trên các iPad, tablet và laptop. Song song với các tiện nghi đó là những thứ như Uber, cửa hàng bách hóa trên mạng, khách sạn tư gia Airbnb, v.v.. Bắt đầu là điện thoại di động rất to và cồng kềnh, nhưng chỉ vài mươi năm, phát triển đến điện thoại thông minh, có thể chứa tự điển, bản đồ; ghi lại các dữ kiện về sức khỏe; rút tiền từ ngân hàng; chỉ dẫn địa điểm tiệm ăn, trạm xăng, trong vùng; tìm địa chỉ người thân; dùng làm trò chơi điện tử cho các em bé; theo dõi thị trường chứng khoán; kiểm soát sức khỏe; xem tin tức thay TiVi; đọc báo, đọc sách; thuê xe đạp; nhắn tin riêng, nhắn tin chung; v.v.. Có thể nói đối với rất nhiều người trong thế kỷ 21 này, rất khó sống nều không có điện thoại di động bên mình.

Thử lấy thêm một vài ví dụ về con số 30 năm đánh dấu cho ảnh hưởng đến đời sống do tiến bộ vượt bực của kỹ thuật mang lại. Vào khoảng hai thập niên 1920-30, muốn bay từ London (Anh quốc) đi Brisbane (Úc) người ta phải tốn từ 11 cho đến 15 ngày với nhiều chặng nghỉ ngơi bơm xăng dọc đường. Phí tổn du hành cho chuyến bay lên đến khoảng $20000 theo thời giá đô-la hiện tại. Đến khoảng thập niên 1960 bay từ Anh sang Úc hoặc Úc đi Anh xuống khoảng 2-3 ngày với chừng 1-2 chặng dừng bay lấy sức. Đến ngày nay người ta chỉ tốn khoảng 20 giờ với chừng 1 trạm dừng chân dọc đường và giá vé khứ hồi có thể tìm trên dưới $1500. Chuyện giá vé máy bay xuống thấp không phải chỉ đơn thuần do ở tiến bộ kỹ thuật mà còn là hậu quả của phát triển kinh tế mậu dịch toàn cầu đáp ứng với gia tăng dân số. Trước năm 1975 không mấy người Việt được cơ hội hoặc đủ tiền để di chuyển bằng phi cơ. Thật ra không phải chỉ người Việt không thể có tiền để di chuyển bằng máy bay mà chuyện đi từ chỗ này sang chỗ khác hay nước này đi nước kia ngày trước là một chuyện chỉ dành cho những người khá giả (hơn mức trung bình một tí) hay trong việc quân sự. Tiền lương hằng năm của 1 kỹ sư tại các nước tiên tiến chỉ đủ trả tiến vé máy bay khứ hồi cho hai người bay từ Úc sang Âu Châu, vào khoảng đầu thập niên 1970. Và không phải ở thành phố nào cũng có đường bay quốc tế. Vào những năm “xưa” đó, di chuyển bằng tàu thủy xuyên qua nhiều nơi trên thế giới hãy còn là một hoạt động kinh tế có lời bởi giá phi cơ còn cao so với tiền thu nhập bình quân. Tàu chuyên chở hành khách lúc đó vẫn chạy qua lại giữa Sydney và Auckland hay Wellington (Tân Tây Lan) cũng như thiệp Giáng Sinh hay Năm Mới vẫn có người gởi cho bạn bè thân hữu bằng đường thủy, bởi giá biểu tem thư cho đường tàu thủy rẻ rất nhiều, so với giá tem cho đường Hàng Không, Par Avion hay Air Mail.

Phát triển chuyên chở bằng đường hàng không thật ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ giao thương mậu dịch, mà còn dính dáng đến chuyện chấm dứt chiến tranh lạnh, phát triển kinh tế khắp nơi (nhất là ở Á Châu với số dân cư cực lớn), tiếng Anh-Mỹ trở thành ngôn ngữ chung thế giới, phát triển của mạng thông tin toàn cầu qua internet và TiVi, phát triển kinh tế trong kỹ nghệ du lịch, v.v.. Việc chấm dứt chiến tranh lạnh thật ra là một điểm mốc hết sức quan trọng nếu nhớ trong thời kỳ chiến tranh lạnh mọi liên hệ giao dịch, xuất nhập khẩu, thư từ giữa bà con họ hàng, những phát minh kỹ thuật, hàng hóa mới, sách vỡ, tin liệu, v.v., giữa hai khối đều bị cấm chỉ tối đa. (Ngay cả chiếc máy điện toán thô sơ thời đó chạy bằng MS-DOS với đĩa mềm 5¼-inch, tức vào thời chưa có Windows, cũng không thể cho xuất cảng sang phía bên kia bức màn sắt.) Đặc tính kinh tế toàn cầu theo quan điểm của thời hiện tại, có thể khác xa với thời chiến tranh lạnh vừa mới chấm dứt, khoảng 1990. Vào lúc đó có thể là xu hướng toàn cầu hóa mậu dịch là một thứ mô hình thích hợp nhất, hoặc một lối suy nghĩ dễ được nhiều người chấp nhận, để Đông và Tây bắt tay với nhau “làm ăn chung”. Giao thương giữa Đông và Tây cũng dẫn đến phát triển nhiều ngành kỹ nghệ khác mà qua nhiều thập kỷ vẫn nằm im không động đậy như những kỹ nghệ và dịch vụ dành riêng cho từng quốc gia. Trong đó, ngành giáo dục và huấn nghệ nằm ở hàng đầu, và nhiều khi trên cả, hoặc dẫn theo, du lịch. Từ thuở đó cho đến nay, hằng năm hàng chục, hàng trăm ngàn sinh viên từ những nước trên đà phát triển ùn ùn kéo sang các quốc gia tiên tiến để du học. Ngành giáo dục, tư vấn và huấn luyện trong vòng vài năm đã trở thành địa hạt kinh tế quan trọng cho các quốc gia tiên tiến. Trong tư vấn có tư vấn về cách làm các bộ luật thích hợp với xã hội đã hay đang phát triển, tư vấn về thành lập thị trường chứng khoán, tư vấn về lóp-bi để xuất nhập khẩu, tư vấn về ngân hàng, v.v.. Huấn luyện thường trải dài qua nhiều ngành nghề dịch vụ khác nhau. Đáng kể là học sinh ngữ, huấn luyện về quản lý, về thanh tra, về an ninh cảnh sát, về giao thông công lộ, về huấn luyện phi công, về hàng không dân sự, về xí nghiệp, về khách sạn, về báo chí truyền thanh, truyền hình, về ẩm thực nầu ăn, về dịch vụ hỗ trợ cho kỹ nghệ du lịch, về đủ thứ.

Tất cả các phát triển về kinh tế toàn cầu đều dẫn đến một tăng gia khủng về nhu cầu chuyên chở hàng hóa, con người, và lao động bằng máy bay. Từ đó di chuyển bằng máy bay bắt trớn phát triển nhanh hơn về kỹ thuật lẫn dịch vụ. Đáng kể nhất trong kỹ thuật là lúc đầu, người ta chế tạo ra những chiếc phi cơ thật lớn như Boeing 747, Concorde. Nhưng những chiếc máy bay cực to này trong vòng vài thập niên bắt buộc phải lùi bước bởi nhu cầu chuyên chở hàng không đã thay đổi, thường nằm về phía dịch vụ. Đó là chuyện đi máy bay bắt buộc phải nhanh, tiện và rẻ như đi xe buýt. Gần như các biến chuyển kỹ thuật, dịch vụ và xã hội thường xem có tính cách đột phá lại bắt nguồn từ một chuỗi biến đổi nho nhỏ trước đó mà đến khi có “cú-đờ-phút” cuối cùng người ta ưa quên những thay đổi khơi mào trong nhiều năm trước. (Nó cũng giống như chuyện hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính xảy ra hiện nay tại nhiều quốc gia Tây Phương bắt nguồn sâu xa từ việc dân sự hóa việc đăng ký hôn thú thay vì qua con đường duy nhất là nhà thờ, vào vài ba thế kỷ trước. Rồi đến luật cấm chỉ đồng tính lần lượt được hủy bỏ vào cuối thế kỷ 20.) Chuyện đi máy bay thời toàn cầu hóa mậu dịch trở thành giống như đi xe buýt, đi song song với việc lao động trở thành một dịch vụ di động liên tỉnh thành, liên khu vực, và liên quốc gia. Nó cũng đi đôi với việc phát triển tàu điện cao tốc tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Người phát kiến ra vận tải bằng máy bay mộc mạc giống như đi xe ô-tô-buýt đầu tiên có lẻ là một thương gia người Anh, Sir Frederick Laker (Freddie Laker) (1922-2006) (xem Wikipedia). Laker Airways của ông biến máy bay đi đường Đại Tây Dương qua lại giữa London và New York thành một thứ Skytrain (xe lửa trên không), mà hành khách chỉ việc mua vé (thật rẻ) tại phi trường rồi bước lên máy bay mà đi, chứ không cần giữ vé trước. Phát triển của Laker Airways gợi ý cho các hãng hàng không lớn và sẵn có như British Airways, Pan Am hay TWA thay đổi cách làm ăn và cạnh tranh dữ dội với hãng hàng không của ông Laker. Ngày nay, xe buýt trên không (airbus) với thân rộng là một lối vận tải hàng không tiêu chuẩn trên toàn cầu. Hầu như bất cứ hãng hàng không lớn nào cũng có hãng hàng không phụ (mang tên khác) để cung ứng dịch vụ xe buýt trên không cho hành khách và lao động trên thế giới. Người đi du lịch ghé phi trường Kuala Lumpur bằng AirAsia (Mã Lai) sẽ có dịp chứng kiến rất nhiều người lao động, nhất là những người giúp việc trong nhà, gốc Á Châu qua lại các đô thị trên thế giới, giữa Á Châu, Âu Châu, Mỹ Châu và Trung Đông.

Nếu xem chuyển vận bằng phi cơ như một thành tố của cơ sở hạ tầng ta thấy ngay biến đổi xã hội thường đi đôi với việc tái thiết cơ sở hạ tầng, bởi các cơ sở này thường trở thành xưa cũ hoặc hư hao với dòng thời gian. Kinh phí để tái thiết hay xây dựng thêm cơ sở hạ tầng có vẻ càng ngày càng tốn kém hơn ra, nếu không nói là “khủng”, và là một chuyện khá nhức đầu cho chính quyền khắp nơi, mặc dù đa số đều tư hữu hóa. Vai trò của nhà nước tại nhiều nơi trên thế giới gần như bị co nhúm lại trong vòng 50 năm qua, từ khoảng 3/4 trong thập niên 1950, xuống đến chừng 1/5 trong thời gian hiện tại. Nói một cách tổng quát tất cả các biến đổi do kỹ thuật-khoa học, nền dân chủ hay chính trị nói chung, mang lại, thường đưa đến con người nhiều sự lựa chọn hơn, mà nhiều phương cách lựa chọn cũ có thể bị hay được hoàn toàn thay thế bởi các giải pháp hoặc kỹ thuật mới.

Cũng thử xem điện thoại là một phương tiện của cơ sở hạ tầng, và thử xem lại các phim “xưa” thời sau thế chiến thứ 2. (Thập niên 1950’s có thể xem như đánh dấu bằng nền hòa bình mang nhiều hứa hẹn, với sự trưởng thành của Hoa Kỳ nắm giữ vai trò then chốt quốc gia nâm-bơ-oanh, kéo theo hai nước nhận nhiều giúp đỡ của Mỹ là Nhật và Đức.) Đáng kể là các phim như Pillow Talk (Doris Day và Rock Hudson). Trong phim hai vai chính chia chung một đường dây điện thoại, và người nữ rất ghét anh chàng chia đường dây nhưng lại có cảm tình với cũng anh chàng đó nhưng không biết đó là chuyện tuy hai mà một. Anh chàng mà cô ta ghét cũng chính là người kép mà cô mết. Xử dụng điện thoại thời đó rất tốn kém. Rất nhiều người Việt không bao giờ có cơ hội dùng điện thoại cho đến khi ra nước ngoài. Trong phim All the Money in the World, thuật lại vụ bắt cóc cháu nội một ông vua dầu hỏa Mỹ vào năm 1973, có đoạn thuật lại một sự thật về ông J.Paul Getty, tỷ phú có tiền nhất thế giới vào đầu thập niên 1970. Ông Paul Getty thấy khách hoặc người làm vào ra lâu đài của ông ưa xử dụng điện thoại để gọi xa (“viễn liên”) rất tốn kém thời đó, nên ông mới kêu hãng điện thoại lắp vào nhà một trạm gọi điện thoại công cộng chỉ xử dụng được khi bỏ tiền đồng xu như các trạm ở ngoài đường. Vào thời đó gọi điện thoại viễn liên hết sức khó khăn, nhất là phải dùng tiếng nước người, và viễn liên cũng chỉ mang nghĩa thường thường là gọi điện thoại cho một người cư ngụ ở thành phố khác hay ngay cả khu ngoại ô của cùng thành phố người gọi đang cư ngụ. Gọi viễn liên quốc tế phức tạp hơn và tốn tiền hơn. Tất cả các thứ gọi viễn liên đều phải thông qua tổng đài. Nếu gọi từ trạm điện thoại phải đem theo thật nhiều đồng xu chứ thời đó chưa có thẻ tín dụng như kiểu Visa hay Mastercard bây giờ. Nếu không có sẵn đồng xu người gọi viễn liên có thể xin với tổng đài là gọi theo kiểu collect, tức hãng điện thoại sẽ thu tiền từ phía người nhận điện thoại chứ không phải từ người gọi. Một chuyện cũng mang nhiều nhức đầu không ít là quyển sổ điện thoại hay điện thoại niên giám. Sổ nầy hằng năm được phát không cho những ai có máy điện thoại, và thường được đặt để hoặc gắn tại các trạm điện thoại. Những sổ gắn tại các trạm thường bị xé rách khi người xử dụng cần số điện thoại người thân để mang theo mà không có giấy bút để chép lại. Cũng bởi lí do này rất nhiều trạm điện thoại công cộng được lắp tại các tiệm bán tạp hóa nhỏ để chủ tiệm có thể chăm nom điện thọai hay hơn. Sau khi điện thoại di động và internet ra đời khoảng 20-30 năm, khó khăn và phí tổn gọi điện thoại xa được giải quyết rất đẹp và ngày nay rất khó tìm một trạm điện thoại công cộng thiết bị như kiểu ngày xưa. Niên giám điện thoại cũng biến mất, không còn in nữa. Nhớ là ngày xưa một quyển sổ điện thoại mọi tư gia có chỉ là sổ điện thoại của thành phố hay thị xã mình cư ngụ mà thôi. Muốn biết điện thoại của người thân ở thành phố khác lại phải gọi qua tổng đài, cho biết tên họ và địa chỉ người thân thì tổng đài mới cho số điện thoại. Thông thường, muốn tránh phức tạp lôi thôi thì phải ra nhà bưu điện. Ở đó thường có giữ tất cả sổ điện thoại của các khu vực lân cận hay các thành phố lớn. Cần để ý là tất cả những biến đổi về điện thoại, TiVi hay internet mang tiện nghi truyền thông ở thế kỷ 21 đều được đánh dấu chung bởi kỹ thuật dùng số thay vì dùng sóng, hay kỹ thuật sao phỏng.

Điểm khác biệt rõ rệt giữa Đông và Tây trong khoảng 30 năm trở lại đây có lẽ là lối tiêu xài thì giờ sau giờ làm việc. Thời đó, đa phần các đô thị trên thế giới, nhất là ở Á Châu ngoài đường lúc nào cũng có những tiết mục “ăn” và “sống” trong và ngoài giờ làm việc, kể cả những nơi tiên tiến như Tokyo, Hongkong, và Singapore. Trong khi đó tại rất nhiều  thành phố lớn ở Tây Phương, đời sống sau 6 giờ chiều là dành riêng cho gia đình. Ngoài đường cửa tiệm đa số đều đóng im và tại rất nhiều thành phố không có sinh hoạt về đêm. Ngay cả ở Mỹ tại các thành phố lớn như Minnesota, Boston, Las Cruces, đêm trong tuần thường yêng ắng sau khoảng 7 giờ tối. Đối với những gia đình có công ăn việc làm ban ngày, chuyện đi ra ngoài đường vào ban đêm là một chuyện rất hiếm, bởi ngay cả shopping cũng không có, và mỗi tuần chỉ có một hai đêm là các cửa hàng mở cửa thêm cho “late night shopping” đến khoảng 9 giờ tối mới đóng cửa. Thế người phương Tây thường tiêu xài thời giờ “tại gia” ra sao? Điểm đầu tiên cần để ý là người phụ nữ ở thời kinh tế phồn thịnh sau thế chiến thứ hai vẫn đóng vai chính là nội trợ. Chi tiêu gia đình chỉ cần lương một người là cũng đủ. Mỗi gia đình chỉ cần nhiều nhất là một chiếc xe hơi. Di chuyển bằng phương tiện công cộng hãy còn dễ và thoải mái. Đi lại khá đúng giờ. Do đó chuyện gia đình đoàn tụ với nhau vào chiều và tối là một chuyện thiết yếu cho đời sống gia đình. Thông thường bữa ăn tối của họ kéo dài và gồm cả tráng miệng và trà nóng. Xong bữa ăn tối cũng đến 8 giờ tối. Sau đó là chơi game toàn gia đình. Họ có thể vây quanh chiếc đàn dương cầm rồi ca hát. Hoặc đánh ping-pong. Hoặc đánh cờ, đánh bài chơi cho vui. Họ có một cái bàn nhỏ chừng 1 thước xếp lại được, dùng để chơi bài, chơi trò xếp chữ. Con còn nhỏ thì mẹ hoặc cha thường ngồi kể chuyện đời xưa cho con nghe. Một thú vui gia đình khác là trò chơi mỗi người thay phiên nhau ra đứng giữa và làm dấu và những người ngồi đó đoán cho biết đó là thứ gì. Thí dụ người đứng ra dấu giang hai tay ra vẫy vẫy thì những người ngồi la to là con chim. Muốn biết loại trò chơi này hãy tìm xem các phim phỏng theo các tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie với hai nhân vật thám tử Hercule Poirot và Miss Marple, thường trình chiếu trên rất nhiều kênh truyền hình TiVi. Để ý rất nhiều xen kinh dị của Agatha Christie viết vào khoảng thập niên 1920-30 về sau mang ảnh hưởng cho nhiều nhà làm phim như Alfred Hitchcock, nhất là những vụ án mạng hay bắt cóc trên xe lửa (Murder on the Orient Express, The Lady vanishes, 4:50 from Paddington, Strangers on a train, v.v.), cũng như được cập nhật hóa với phim loạt thành công như Murder, She wrote với thám tử nghiệp dư là một nhà văn cùng thể loại, Jessica Fletcher, do Angela Lansbury thủ vai. (“Phim loạt” được phân biệt với “phim tập”, và phim tập thường phải xem liên tục mới đến đoạn cuối. Phim loạt, mỗi kỳ phim là một truyện ngắn, về một hay nhiều nhân vật hoặc về một hoàn cảnh xã hội chung chung.)

Như đã viết trong một hai bài về chuyện chưởng Kim Dung, các thành tố trong các xen gọi là kinh dị nhất trong những phim của Alfred Hitchcock có thể được tóm gọn thành một số tính cơ bản vẫn thấy trong truyện của Kim Dung. Tóm tắt là bất ngờ; người tấn công có vũ khí và người bị tấn công, không có phương tiện tự vệ; tấn công xảy ra trong khoảng không gian và thời gian chật hẹp, chật đến nỗi người bị nạn không có cơ hội trốn thoát. Trong các truyện trinh thám rồi phim ảnh, thành tố bất ngờ có thể dẫn đến nhiều thay đổi về chi tiết. Trong kiểu bất ngờ một-chọi-một, như phim Psycho của Hitchcock, thiếu nữ bị đâm túi bụi trong lúc tắm bởi người chủ của nhà ngủ motel, lúc đó vắng lặng và ế khách. Kiểu bất ngờ này khác với kiểu án mạng xảy ra giữa ban ngày trong cơn mưa nhưng có nhiều người đứng chung quanh mang ô dù, như phim Foreign Correspondent của Hitchcock; hoặc những phim kinh dị xảy ra trên tầu điện (The Lady vanishes, Murder on The Orient Express, From Russia with Love), tầu thủy (Under Siege), hay phi cơ (Flightplan). Kiểu bất ngờ trong đám đông này mang hàm ý rằng án mạng hay bắt cóc, theo hiểu biết thông thường, khó xảy ra giữa đám đông bởi hành động nào khác thường vẫn có người thấy. Người viết tiểu thuyết, hay nhà làm phim, kinh dị đều khai thác mâu thuẫn này và đem bất ngờ vào chốn đông người, như trong phim North by NorthWest cũng do Hitchcock đạo diễn. Trong tất cả các truyện hay phim kinh dị dùng công thức này, thường những người chung quanh đều phủ nhận rằng những gì kinh dị do nhân vật chính kể lại là đã chứng kiến, đều không có xảy ra. Tức bất ngờ không những chỉ có trong sự cố hay hoàn cảnh, mà còn có trong ánh mắt của nhân chứng hoặc chứng cớ. (Những nhân chứng chung quanh thường đều phủ nhận là họ hoàn toàn không thấy những gì xảy ra theo như nhân vật chính kể lại.) Tức bất ngờ được tăng lên gấp đôi kéo theo tính kinh ngạc, kinh hãi. (Để ý hai phim The Lady vanishes và Flightplan dùng chung một chi tiết nhỏ: hai nạn nhân mất tích đều để lại “bút tích” trên cửa sổ kiếng.)

Trở lại chuyện đời sống vài mươi năm trước ở nhiều nước Tây Phương, đặc biệt Úc và Tân Tây Lan. Dấu ấn trong ngôn ngữ chứng minh rằng tại các nước phương Tây, thời những năm 50 hay 60 đời sống về đêm thường im lìm vắng tanh, chính là cụm từ thành phố ánh sáng chỉ dành riêng để chỉ Paris, kinh đô ánh sáng của Pháp và có thể cả Âu Châu vào thời đó. Cho đến ngày nay, Paris có lẻ vẫn đứng hàng đầu, ngoài New York, London, Los Angeles, Barcelona, trong các nước Âu Mỹ trong chuyện sinh hoạt về đêm. Nếu đời sống ban đêm của những ngày trong tuần, tại các xứ phương Tây, thường quây quần chung quanh mái ấm gia đình, vào cuối tuần đó là dịp để dành cho sinh hoạt ngoài trời: chơi banh, chơi quần vợt, chơi cricket, đi picnic, leo núi, ăn trưa thật lớn vào ngày Chủ Nhật, thường là món roast thịt nướng (roast): đùi cừu, đùi lợn, đùi bò, hoặc nguyên con gà. Sinh hoạt cuối tuần còn dính dáng đến chuyện đi lễ nhà thờ và theo đuổi các sở thích hóp-bi. Một trong những thứ hóp-bi phối hợp sở thích, tò mò, thông minh, thách đố, tiết kiệm, kỹ năng, hợp tác, kỹ thuật, khoa học, mở mang kiến thức, học hỏi, vận động bắp thịt, v.v. chính là việc tự sửa chữa xe hơi, khi ô-tô có vấn đề.

Lúc chưa có xe Nhật, xe Hàn, các quốc gia Âu-Mỹ mỗi nước thường có xe ô-tô riêng. Xe Huê Kỳ như Cadillac, Buick, Chevrolet, Ford rất nổi tiếng bởi rộng và dài, vẽ theo xa lộ rộng lớn của xứ cờ hoa. Xe Pháp thì có Renault, Citroen, rất quen thuộc với người Việt thuộc những thế hệ trước 75. Ở Úc thì có xe Holden dùng đầu máy của General Motors (Mỹ), với kiểu xe nổi tiếng một thời là Commodore. Danh sách các hãng sản xuất xe hơi Ăng-Lê tìm trên mạng, theo thứ tự A-B-C, chiếm dài cả trang. Nhưng đối với nhiều người, những hiệu xe Anh như Morris, Austin và Mini là quen thuộc nhất. Các ô-tô này cũng giống như chiếc Volkswagen sản xuất tại Đức được giới bình dân rất hâm mộ. Nhà sản xuất ô-tô thời xưa cũng cho thấy họ mang trong người ít nhiều ảnh hưởng đặc tính dân tộc, nhất là các thứ xe bình dân từ Anh: Rất thực dụng và rất tiện cho việc tự sửa nếu được chỉ dẫn, dù không phải là thợ máy hay kỹ sư.  Việc tự sửa chữa ô-tô tại gia tự nhiên biến mất vào cuối thế kỷ 20, khi các bộ phận điều hành xe hơi như bơm xăng, con lửa, canh nhịp nổ, lần lượt được thay thế bằng những linh kiện điện tử. Việc thay thế này dần dà cũng đe dọa đến cả các tiệm sửa xe nhỏ ở góc đường bởi muốn chẩn bệnh xe người ta lại cần các máy điện tử khác rất tối tân mà chỉ hãng sản xuất xe mới có. Chuyện này có vẻ giống như các doanh nghiệp nhỏ như các tiệm chạp phô gia đình Milk Bar ở góc phố, rất thịnh hành trong nhiều năm sau thế chiến thứ hai. Những milk bar gia đình hay các tiệm nhỏ bán rau cải trái cây dần dà phải đóng cửa trong khi rất nhiều siêu thị được dựng lên ở khắp nơi. Các siêu thị này ngày nay lại phải đối phó với các siêu thị khác vận hành on-line qua máy điện toán hay điện thoại di động trong nhà, hay ở ngoài đường, hoặc trên xe lửa..

TiVi thời 50 năm về trước cũng còn rất nghèo nàn. Chỉ toàn tin tức và một vài chương trình giống như phim thời sự ngày xưa. Vài ba thứ phim loạt thuộc loại găng-tơ hay cao-bồi (Gunsmoke), gián điệp (Danger Man, Get Smart, The Avengers, The Man from U.N.C.L.E.), ca nhạc (Ed Sullivan Show), vui nhộn (Laugh-In), v.v., mỗi thứ kéo dài chừng 1 tiếng, được trình chiếu đều đều. (Phim loạt Người từ tổ chức U.N.C.L.E. (The Man from U.N.C.L.E.) có Ian Fleming, tác giả của các truyện về điệp viên James Bond, là một trong những nhà sản xuất.) TiVi chỉ phát sóng đến khoảng 10-11 giờ tối là kết thúc trừ hai buổi tối thứ bảy và chủ nhật. Hai đêm này thường có chương trình ca nhạc và có chiếu phim cũ đã từng chiếu ở rạp ít lắm là 2-3 năm trước. Đa số TiVi thời đó ở Úc và Tân Tây Lan đều miễn phí. Hoàn toàn không có TiVi dây cáp hay tải ra (“streaming”) như thời bây giờ. Tổ chức TiVi thuở ban đầu thường do chính phủ tài trợ, và các kênh thương mại chỉ ra đời về sau. Việc quảng cáo thời đó cũng dành độc quyền cho các báo hằng ngày hay tạp chí hằng tuần. TiVi chưa tính đến chuyện gồm thâu lục quốc trong vấn đề quảng cáo, để rồi lại nhường bước cho internet, và nhất là Facebook và YouTube. Cũng trong thời buổi ban đầu của TiVi (đen trắng), các chương trình ca nhạc vào tối thứ 6, 7 hay Chúa Nhựt do rất nhiều ca sỹ tên tuổi như Tom Jones, Cilla Black, ban nhạc The Monkeys, ban The Beatles (hoạt họa), kéo dài cả tiếng đều free. Những ca sỹ này lúc đó ca hát trên TiVi là việc phụ trội để quảng cáo cho những đĩa nhạc 45 vòng hay 331/3 vòng (mỗi phút), đã hay đang được lăng-xê. Thu nhập ca sỹ từ đĩa nhựa được cáo chung không lâu sau khi iPod, cassette, dĩa CD, rồi DVD ra đời. Ngoài các chương trình ca nhạc, TiVi thời đó rất thịnh hành với các chương trình hài, đa phần từ Anh quốc. Đáng kể nhất: The Two Ronnies (Ronnie Barker và Ronnie Corbett), the Dave Allen Show, tương đương với các show ở Mỹ của Bob Hope, George Burns. Những show vào cuối thời cực thịnh của hài hước Ăng Lê chính là Faulty Towers (John Cleese và Connie Booth) và Mr Bean (Rowan Atkinson).

Kỹ nghệ điện ảnh, rạp chớp bóng, và đi xem xi-nê chớp bóng cũng biến chuyển không ngừng từ những năm vàng son của Hồ-Ly-Vọng, xuyên qua sự ra đời của máy truyền hình, rồi phát minh về máy thu băng VHS (kéo theo kỹ nghệ cho thuê phim băng VHS, chuyển sang DVD vào những năm đầu thế kỉ 21), rồi phải đối diện với việc phim thuê, phim mua, tải từ trên mạng vào thế kỷ 21. (Một số phim cũ rất hay lại có thể xem chùa từ internet.) Thời xưa đi xem xi-nê là một thú vui hết sức thích thú đối với trẻ em. Không đến rạp xi-nê thì không cách gì biết đến chớp bóng hay xi-nê-ma, hoặc phim hay. Những con nhà nghèo ở Việt Nam thời xưa nếu được dịp quen với mấy anh lớn có khả năng hay điều kiện đi xem phim hay rồi về nhà kể lại chuyện phim với nhiều chi tiết cụp lạc là đã sướng lắm rồi. Mỗi thành phố có ít lắm là khoảng 50 rạp chiếu bóng. Rạp nào chiếu phim đó, ít khi trùng hợp với nhau trừ phi thuộc các khu vực cách xa với nhau. Tại các đô thị Tây Phương ngày trước nhiều phim hay (như The Sound of Music) trình chiếu kéo dài có khi đến 2-3 năm. Tại miền Nam VN, phim hay được trình chiếu có thể kéo dài cả tháng. Đa số phim Âu Mỹ sang Việt Nam đều đi theo đường qua Pháp. Tức tất cả phim Anh Mỹ đến VN đều được lồng tiếng Tây, và phụ đề tiếng Việt. Rất dễ đưa đến ngộ nhận là tất cả phim hay từ Ý như Kẻ Trộm Xe Đạp (Le Voleur de Bicyclette (Vittorio De Sica)), từ Mỹ như Samson and Delilah, The Ten Commandments, đều sản xuất và quay từ nước Pháp. Xi-nê thời trước còn có thêm các phim phụ chiếu như loại phim hài ngắn của 3 chàng ngố (The Three Stooges), phim hoạt họa, hoặc phim thời sự. Phim thời sự bị khai tử chừng 10-20 năm sau khi máy truyền hình ra đời.

Từ khoảng thập niên 80 ở thế kỷ trước, rạp xi-nê riêng rẻ, thường là tiểu thương gia đình, lần lượt đóng cửa trên khắp thế giới. Thay vào đó là những tổ hợp xi-nê gọi nôm na là Cineplex, mỗi nơi tụ hợp chừng 5 rạp nhỏ, chiếu đầy đủ các phim mới ra. Cineplex lại mang dấu ấn của kinh tế mậu dịch toàn cầu tức những người chủ có thể là các công ty lớn ở nước ngoài, mà các đại diện ít khi, hoặc không bao giờ, đến đó xem phim.

N.N.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s