Võ Vinh Quang – VỀ VĂN BIA THÁP TỔ KHẮC HUYỀN CHÙA THIỀN LÂM (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)

Sau khi chúng tôi công bố bài phản luận Thin Lâm – ngôi chùa lịch sử, Thin viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch v chùa Thin Lâm[1], độc giả đã có một số phản hồi nhất định. Đối với chúng tôi, việc phản biện khoa học là điều rất cần thiết để các vấn đề khoa học, lịch sử văn hóa được ngày càng sáng tỏ, chuẩn xác. Bởi thế, chúng tôi rất hoan nghênh và đón nhận tất cả các phản luận khoa học liên quan.

Mới đây, vào ngày 14 tháng 01 năm 2018, trên trang https://khoahocnet.com,  Bác sĩ Nguyễn Anh Huy (BS. NAH) cho đăng bài Trao đổi với tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang v những phản biện quyển sách Chùa Thin Lâm[2] nhằm phản biện một số phần trong bài viết này của chúng tôi.

Trước tiên, chúng tôi xin cám ơn BS. NAH đã phản hồi, giúp người viết có thêm điều kiện để nhìn nhận lại cụ thể hơn vấn đề cần trao đổi. Trên tinh thần khách quan khoa học, ở bài viết này, chúng tôi xin hồi đáp cụ thể như sau.

 

  1. Bài phản biện của BS. NAH sai phương pháp khoa học

Nguyên tắc của một bài viết phản biện khoa học là tập trung các luận cứ, luận chứng, nghiên cứu, xử lý và công bố các cứ liệu lịch sử, cùng những tư liệu thực tế bằng ảnh bản… để chỉ rõ các điểm mà người phản biện cho là không chuẩn xác. Từ đó, tác giả biện luận bằng các chứng cớ cụ thể nhằm chứng minh luận điểm của mình đúng, cung cấp cho độc giả các kiến thức chuẩn xác, phù hợp.

Song, đọc qua bài phản biện của BS. NAH, chúng tôi chưa thấy tác giả sử dụng một cứ liệu khoa học khách quan, cũng như một ảnh bản thực địa nào. Tác giả chỉ sử dụng lại những ảnh tư liệu từ bài của chúng tôi đăng tải trên trang web của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, nhưng vẫn có thể mô tả, bàn luận y như tác giả đã đến và xử lý trực tiếp. Không thực địa, không khảo sát, vậy nhưng BS. NAH lại đưa ra nhiều bình luận cá nhân theo suy nghĩ của riêng mình… điều đó thể hiện rất rõ nét trong phần “mô tả” và bình luận ở bài viết đó.

Chẳng hạn, ở phần 3.1. Mô tả tấm bia, BS. NAH viết “Tấm bia có hai mặt bằng, mặt bằng khuôn bia hiện tại cao hơn mặt bằng lòng bia khoảng 2 cm”. Sau khi đọc xong, thực sự chúng tôi không hiểu BS. NAH gọi “mặt bằng khuôn bia”, “mặt bằng lòng bia” theo quy chuẩn nào, tức ông xác định “mặt bằng” này từ đâu?

(chúng tôi không rõ ông xác định “mặt bằng” theo tiêu chí nào?)

Một bài phản luận khoa học nhưng chẳng có cứ liệu cụ thể để chứng minh, chỉ đưa ra các bình luận, phán đoán theo chủ đích của riêng tác giả, thì chúng tôi nghĩ rằng giá trị khoa học của nó tất nhiên cần xem lại!

  1. NAH phản luận khoa học bằng các suy đoán chủ quan, thiếu căn cứ

Bài phản biện của BS. NAH có 3 mục lớn:

  1. TS VVQ thuộc “nhóm nghiên cứu Đan Dương” nhưng không hiểu v “Đan Dương”
  2. 2. Phản biện của TS VVQ đã làm cho luận điểm của NNC NĐX càng thêm đúng
  3. Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đã đọc sai chữ Hán.

Vì thế, ở phần này, chúng tôi cũng chia làm 3 mục để trả lời cụ thể phản luận của BS. NAH theo từng mục trên.

            2.1. Tại mục 1, BS. NAH đồng thuận với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (NNC. NĐX) về tên gọi “Đan Dương” là danh từ riêng dùng để chỉ tên ngôi sơn lăng của hoàng đế Quang Trung. Qua đó, ông cho rằng chúng tôi “tự ý giải thích theo cách hiểu riêng của bản thân mình là một danh từ chung”.

Về vấn đề BS. NAH đặt ra và bác bỏ ở mục 1, chúng tôi sẽ cung cấp bài viết cụ thể để giải đáp mọi thứ liên quan đến thuật ngữ “đan dương”. Ở đây, xin khẳng định với BS. NAH rằng tất cả những cứ liệu, phân tích của chúng tôi về “đan dương” (trong thơ văn của Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm) là rất cụ thể, từ ý nghĩa từ vựng lẫn loại hình văn bản, phân tích, đối chiếu về luật thơ, tính đăng đối trong thơ Đường luật, về sự kiện lịch sử hình thành nên thuật ngữ “đan dương” trong thơ Ngô Thì Nhậm… Dưới đây, để trả lời cụ thể hơn, chúng tôi xin lược thuật về ý nghĩa từ vựng của “đan dương” như sau:

Theo Hán ngữ đại từ điển, trang 686 (cuốn từ điển đầy đủ nhất về Hán ngữ hiện nay) thì “đan dương” 丹陽 trong trường nghĩa liên quan đến con người, theo Phật giáo là cảnh giới siêu thoát khỏi trần thế (超脫塵世的境界siêu thoát trần thế đích cảnh giới), tức Đan dươngcõi thượng tiên, chốn vĩnh hằng, là nơi con người sau khi thoát khỏi cõi tạm ở thế giới trần tục thì hướng đến cõi đan dương, cõi vĩnh viễn trường tồn ấy. Với trường nghĩa ấy, đan dươngdanh từ chung chỉ cõi vĩnh hằng của con người sau khi lìa trần, chứ không thể là một danh từ riêng dùng để gọi tên một cung điện/lăng cụ thể.

Ảnh 3: Đan Dương丹陽trong Hán ngữ Đại từ điển (1986), tập 1, tr.686[3]

Khi nghiên cứu bất kỳ vấn đề nào, để tra cứu các tên gọi, thuật ngữ, khái niệm liên quan, người nghiên cứu cần tìm hiểu nhiều cuốn từ điển khác nhau và lựa chọn cho mình cuốn từ điển phù hợp, liên quan nhất đến đối tượng cần nghiên cứu. Ở đây, chúng tôi thấy cách giải thích về thuật ngữ “đan dương” trong Hán ngữ đại từ điển rất phù hợp với tên gọi “đan dương” hiện hữu trong thơ văn của Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích nên đã lựa chọn cách giải thích này nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu ý nghĩa “đan dương”.

Với từ điển Từ Nguyên, thuật ngữ “đan dương” đề cập đến các địa danh/huyện danh có “đan dương” của Trung Quốc, chẳng liên quan gì đến thuật ngữ “đan dương” cần bàn, nên chúng tôi không sử dụng.

Thế nhưng, trong bài phản luận của mình, BS. NAH phê phán chúng tôi rằng:  “Trong Từ Nguyên có một mục từ “丹 陽 (Đan Dương)” với nghĩa là một danh từ riêng, nhưng TS VVQ lại không dẫn ra sự giải thích này, mà lại tự ý giải thích theo cách hiểu riêng của bản thân mình là một danh từ chungNhư vậy, sự giải thích về thuật ngữ “Đan Dương”, do không trích dẫn điển tích gốc trong Từ Nguyên, cho thấy cách giải thích của TS VVQ còn thiếu sót, chưa được đầy đủ”.

Để độc giả hiểu rõ, xin cung cấp mục “đan dương” ở Từ Nguyên như sau[4]:

Hán văn

丹陽: 一地名。1.春秋楚丹陽有二: 一為熊繹所封地,叫西楚,[漢書] 地理志上作丹楊。地在今湖北秭歸縣東。一為楚文王徙都之地,叫南楚。地在湖北宜都縣西。參閱史記楚世家,通典一八三州郡十二古荊州。2. 秦鄣郡。漢武帝二年更名。治宛陵。見漢書地理志上。地在今安徽宜城縣。二縣名。秦為雲陽,屬會稽郡,後改曲阿。漢屬揚州。唐天寶間以京口為丹陽郡,改曲阿縣。參閱資治通鑑九三晉太寧二年注,寰宇通志十六鎮江府丹陽縣

Dịch nghĩa:      Đan Dương

  1. Địa danh: 1/ ở nước Sở thời Xuân Thu, Đan Dương có 2 vùng: Một là vùng đất được phân phong của vua Hùng Dịch[5], gọi là Tây Sở. Mục “Địa lý chí” trong sách Hán thư viết “Đan Dương” 丹楊. Vùng đất này nay nằm ở phía đông huyện Tỉ Quy, Hồ Bắc. Một là đấy nơi Sở Văn Vương dời đô, gọi là Nam Sở. Vùng đất này nay nằm phía tây huyện Nghi Đô, Hồ Bắc. Xem ở sách Sử ký mục Thế gia, và sách Thông điển, quyển 183, mục Châu quận 12: châu Cổ Kinh.
  2. Huyện danh (tên huyện): Tần là Vân Dương, thuộc quận Cối Kê, sau đổi là Khúc A. Đời Hán thuộc Dương Châu. Đời Đường, khoảng năm Thiên Bảo (742-756), lấy Kinh Khẩu làm quận Đan Dương, đổi Khúc A là huyện Đan Dương. Tham khảo: sách Tư trị thông giám quyển 93: niên hiệu Thái Ninh thứ 2 có chú; sách Hoàn vũ thông chí quyển 16, mục Phủ Trấn Giang, huyện Đan Dương. (hết phần trích dịch, xem ảnh 4)

Như đã thấy, mục “đan dương” trong Từ Nguyên chẳng liên quan gì đến thuật ngữ “đan dương” được Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích sử dụng!

  • Tại mục thứ 2, BS. NAH ủng hộ về quan điểm của NNC NĐX cho rằng trước năm 1695, xứ Đàng Trong nói chung và đất Thuận Hóa Phú Xuân nói riêng chưa h xuất hiện thin phái Tào Động. Chỉ đến khi hòa thượng Thích Đại Sán qua Thuận Hóa thì tông phái Tào Động mới chính thức có mặt tại đây.

Luận điểm này là một trong những cứ liệu quan trọng để NNC NĐX chứng minh văn bia tháp mộ tổ sư Khắc Huyền – vị thiền sư khai sơn chùa Thiền Lâm – là văn bia bị triu Nguyễn cố tình đập phá, mài nhẵn và khắc lại (chúng tôi nhấn mạnh); tức ông cho rằng tổ Khắc Huyền là một vị tổ sư không có thực, mà tên ngài do triều Nguyễn cố tình dựng nên, nhằm đánh lạc hướng dư luận.

Bàn luận về luận điểm này, chúng tôi đã viết: “Ở đây, chúng tôi xin đ cập thêm đối với cách nhìn nhận sai lệch, thiếu kiến thức và suy luận chủ quan của ông NĐX khi phê phán nhận định ‘Tổ Khắc Huyn cũng như tổ Giác Phong đu là những thin sư trong phái Tào Động’của các tác giả sách Lịch sử phật giáo xứ Huế là sai, nhằm mục đích phủ nhận sự hiện diện của tổ sư Khắc Huyn. NNC NĐX phê bình rằng : ‘Không rõ căn cứ vào tài liệu nào mà có sự khẳng định này. Theo Hải Ngoại Kỷ Sự thì đến năm 1695, Hòa thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán qua Thuận Hóa thì dòng tu Tào Động mới chính thức phổ biến ở xứ Đàng Trong. Trước đó, Quốc sư Quả Hoằng dù theo dòng tu Tào Động nhưng chưa truyền cho ai’. Thực tế, trên văn bia tháp tổ sư Khắc Huyn đã viết rõ: Sắc tứ Động thượng chánh tông khai sơn Thin Lâm viện Khắc Huyn lão tổ hòa thượng chi tháp’ 敕賜洞上正宗開山禪林院克玄老祖和尚之塔. Động Thượng chánh tông 洞上正宗 cách gọi phổ biến của Thin phái Tào Động (曹洞宗 Tào Động tông), cùng với Lâm Tế chánh tông 臨濟正宗 là hai dòng thin của các tổ sư Trung Hoa phổ biến ở Đàng Trong và song song tồn tại từ thế kỷ XVII ở Thuận Hóa. Khái niệm này đâu h xa lạ, mà ngược lại khá phổ biến trong các thư tịch, sử liệu, bia ký, mộc bản đang hiện hữu. Chẳng hạn, ngay trong dòng đầu tiên ở văn bia Ngự kiến Thiên Mụ tự, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã ghi rõ ‘Quốc chúa Nguyễn Phú Chu, tự Động Thượng chánh tông tam thập thế…’ 國主阮福週嗣洞上正宗三十世…”, hoặc trong ván khắc (mộc bản) Kinh Kim Cang quý giá khắc vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692) do Hòa thượng Thạch Liêm đứng tên khắc bản (hiện tồn ở kho mộc bản chùa Từ Đàm) ghi rất rõ: ‘Tự Động Thượng chánh tông nhị thập cửu thế Thạch Liêm Sán Đầu lễ quán tưởng kính thư’洞上正宗二十九世石濂汕頭禮觀想敬書. Những kiến thức này thuộc v tri thức nn tảng cơ bản của người học Phật, của Phật tử và những người quan tâm nghiên cứu v Phật giáo”[6]. (hết trích)

Chủ đích của chúng tôi ở bình luận trên là tập trung vào việc xử lý khái niệm “Động Thượng chánh tông” 洞上正宗 chính là “Tào Động chánh tông” 曹洞正宗 chứ không bàn về cột mốc 1695 liên quan đến tông phái Tào Động. Do đó, tại phần dẫn tư liệu, chúng tôi không hề đặt trọng tâm vào cột mốc thời gian (tức không xếp đặt theo hướng lịch đại, từ thời gian xuất hiện sớm nhất đến muộn nhất). Đầu tiên, chúng tôi dẫn bia tháp tổ sư Khắc Huyền (1706), tiếp theo là văn bia Ngự kiến Thiên Mụ tự (1715) và sau cùng là mộc bản Kinh Kim Cang do hòa thượng Thạch Liêm đứng tên vào niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692).

Vậy nhưng, khi phê phán đoạn bình luận này, BS. NAH lại hướng độc giả hiểu theo cách chúng tôi đã dẫn liệu sai về cột mốc 1695 (cột mốc hòa thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán đến Thuận Hóa truyền bá pháp phái). Ông viết:

2.1. Chứng cứ 1 của TS VVQĐiều đáng cười khi TS VVQ đưa ra chứng cứ này là: Tấm bia này do chúa Nguyễn Phúc Chu viết năm 1715, mà Nguyễn Phúc Chu (Tào Động đời thứ 30) chính là đệ tử của Thích Đại Sán (Tào Động đời thứ 29), thì rõ ràng nhận định của NNC NĐX quá đúng: đến năm 1695, Hòa thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán qua Thuận Hóa thì dòng tu Tào Động mới chính thức phổ biến ở xứ Đàng Trong

2.2. Chứng cứ 2 của TS VVQ: “Thực tế, trên văn bia tháp tổ sư Khắc Huyền đã viết rõ: ‘Sắc tứ Động thượng chánh tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền lão tổ hòa thượng chi tháp敕賜洞上正宗開山禪林院克玄老祖和尚之塔. Nhưng TS VVQ quên rằng bia này làm năm 1706, tức sau khi Thích Đại Sán truyền dòng Tào Động tại Thuận Hóa năm 1695. Chứng cứ này cho thấy nhận định của NNC NĐX cũng đúng. 2.3. Đặc biệt, chứng cứ 3 của TS VVQ rất đáng bàn: Để chứng minh dòng Tào Động đã có trước khi Thích Đại Sán qua Việt Nam vào năm 1695, TS VVQ đưa ra “ván khắc (mộc bản) Kinh Kim Cang quý giá khắc vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Khang Hy thứ 31 (1692) do Hòa thượng Thạch Liêm đứng tên khắc bản (hiện tồn ở kho mộc bản chùa Từ Đàm) ghi rất rõ: ‘Tự Động Thượng chánh tông nhị thập cửu thế Thạch Liêm Sán Đầu lễ quán tưởng kính thư’洞上正宗二十九世石濂 汕頭 禮觀想敬書”. Đây là một chứng cứ của TS VVQ để cố gắng thuyết phục độc giả rằng có chữ “Động Thượng” (tức Tào Động) xuất hiện trước năm 1695. Nhưng tôi không thể hiểu nổi vì sao TS VVQ đưa ra chứng cứ này, vì về mặt lý luận, bất cứ ai cũng hiểu rằng mộc bản do Thích Đại Sán khắc tại Việt Nam, thì phải có sau khi thích Đại Sán qua Việt Nam vào năm 1695. Trong khi TS VVQ lại giải thích rằng mộc bản được khắc năm 1692[7] (hết trích)

Lời văn ở phản biện này cho thấy BS. NAH muốn đạt được mục đích của mình mà thiếu sự nghiêm túc trong luận giải. Ông viết phần phản biện với đầy giọng mỉa mai, chế nhạo, hằn học… nhằm vừa hướng độc giả hiểu đoạn bình luận của chúng tôi theo thiên hướng khác (ông tập trung xoáy sâu vào cột mốc hình thành tông phái Tào Động ở Đàng Trong năm 1695, và bảo chúng tôi viết sai), lại vừa lên tiếng bảo vệ cho lập luận tổ sư Khắc Huyền không có thực của NNC. NĐX.

Cách phản biện thiếu nghiêm túc của BS. NAH khiến chúng tôi khá thất vọng, bởi ông nghiên cứu khoa học nhưng thiếu phần tôn trọng yếu tố khách quan. Song qua đây, chúng tôi xin chứng minh cụ thể về xuất hiện tông phái Tào Động ở Đàng Trong trước năm 1695 để BS. NAH và mọi người được rõ.

Những ai tìm hiểu về các thiền sư Phật giáo Đàng Trong nói chung, Phật giáo Huế nói riêng hẳn đều biết đến Giác Phong lão tổ 覺峰老祖 – vị tổ sư khai sơn chùa Thiên Thọ ở núi Hàm Long (thường gọi là Hàm Long Thiên Thọ tự, tiền thân của chùa Báo Quốc).

Tổ Giác Phong, Tổ Từ Lâm, Tổ Nguyên Thiều… đều là những thiền sư Trung Hoa có công khai sơn các tổ đình đặc biệt quan trọng đối với Phật giáo Huế như Chùa Báo Quốc, chùa Từ Lâm, chùa Vĩnh Ân (Quốc Ân)… Theo Hàm Long sơn chí (quyển 5, phần 2, Báo Quốc tự tàng bản) của Như Như đạo nhân và Điềm Tịnh cư sĩ (mục Giác Phong tổ sư truyện): “Tổ sư Giác Phong nối đời thứ 31 tông phái Tào Động, húy Pháp Hàm 法涵, hiệu Giác Phong Hòa Thượng 覺峰和尚, khai sơn Hàm Long sơn Báo Quốc tự…” (ảnh 5).

Ảnh 5: Hàm Long sơn chí, q5-p2, tờ 4, phần: Giác Phong tổ sư truyện

Tháp tổ sư Giác Phong tọa lạc ở vườn chùa Báo Quốc, lòng bia tháp ghi: 曹洞源流開山含龍天壽寺諱法涵號覺峰祖師寶塔Tào Động nguyên lưu khai sơn Hàm Long Thiên Thọ Tự, húy Pháp Hàm, hiệu Giác Phong Tổ sư bửu tháp (ảnh 7).

Như vậy, tổ sư Giác Phong thuộc đời thứ 31 tông Tào Động, phái Thọ Xương. Ngài đã cắm tích trượng hoằng pháp và truyền đạo ở đất Thuận Hóa khá lâu, chắc chắn trước khi hòa thượng Đại Sán qua Nam Hà (1695) nhiều năm. Bởi “theo văn bia tháp tổ Liễu Quán cho biết, năm 1680, Tổ Liễu Quán từ Phú Yên theo thuyền buôn ra Thuận Hóa học đạo với tổ Giác Phong, và có đến 11 năm Tổ Liễu Quán học đạo với ngài[8]. Chính tại Tập san Liễu Quán số 8 (tháng 5. 2016), Hòa thượng Thích Hải Ấn trong bài Tờ Trình gửi phủ chúa xin miễn thuế Tam Bảo tự điền của Tổ Nguyên Thiều và Tổ Giác Phong năm Chính Hòa thứ 15 – một văn bản quý hiện còn được bảo lưu tại Huế [9] đã cung cấp ảnh tư liệu và bản dịch tờ Trình bẩm xin phủ Chúa Nguyễn cho miễn thuế Tam Bảo tự điền (ruộng chùa) năm Chính Hòa thứ 15 (1694) do hai ngài Nguyên Thiều và Giác Phong đứng tên.

Tờ Trình này cùng thông tin trên văn bia tháp tổ Liễu Quán, Hàm Long sơn chí (mục Giác Phong tổ sư truyện) và văn bia tháp tổ Giác Phong hẳn nhiên đủ cơ sở để khẳng định tông phái Tào Động đã có mặt và hoằng pháp ở Đàng Trong trước cột mốc 1695 khá nhiều năm, chứ không phải từ thời điểm hòa thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán đặt chân đến Phú Xuân (1695) khai mở đại giới đàn Thiền Lâm truyền giới thì Tào Động chính tông mới được phổ biến ở vùng đất này.

Do vậy, phần suy luận về sự truyền bá tông phái Tào Động phải sau cột mốc 1695 của NNC.NĐX và BS.NAH  là không hề chuẩn xác.

  • Tại mục thứ 3: Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đã đọc sai chữ Hán, BS. NAH vẫn tiếp tục đưa ra các phán đoán thiếu khách quan.

Như từng đề cập, ở phần 3.1. Mô tả tấm bia, chúng tôi không rõ BS. NAH mô tả cái gì? Theo nguyên tắc thông thường, khi mô tả, tác giả cần cho biết tấm bia có kích cỡ (dài x rộng) bao nhiêu? chất liệu đá gì? bia gắn tháp từ xưa hay có sửa sang tu bổ gì không? Căn cứ vào đâu để biết có hay không có sửa sang tu bổ? …

Xin lưu ý rằng, tất cả những dấu hiệu hiện hữu trên văn bản đều góp phần thể hiện yếu tố căn cốt của văn bản (ở đây là bia tháp tổ Khắc Huyền) đó.

Bởi thế, khi muốn khẳng định đây là bia đá bị đục phá, mài nhẵn và khắc lại thì tất yếu ông cần chứng minh một cách rõ ràng, cụ thể nhất tất cả các dấu hiệu văn bản chính xác (gồm các thông tin trực tiếp lẫn những thông tin liên quan) cho thấy có hiện tượng chính xác của việc đục phá, mài nhẵn và khắc lại.

Dưới đây, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin về tháp tổ Khắc Huyền qua khảo sát thực địa để độc giả và ông NAH rõ hơn.

Bia đá tháp tổ Khắc Huyền cao 51cm x rộng 26cm. Diềm trái rộng 5,5cm,  diềm  phải  rộng 5,1cm, diềm phía trên cao 4cm, diềm dưới cao 2,5cm. Bia thổ thần: cao 55cm, rộng 28cm, dày 15cm. Có phần xi măng để bồi giữ bia.

Từ thông tin trên cho thấy bia tháp tổ không được cân đối, diềm trái rộng hơn diềm phải 0,4cm; diềm trên cao hơn diềm dưới 1,5cm. Điều đó cũng có thể cho ta suy đoán rằng tấm bia đá cũ hẳn cao hơn, nhất là phần diềm trên – diềm dưới có dấu hiệu bị chèn bằng xi măng. Bởi thế, diềm trên đã mất gần ½ chữ Hán.

Chữ Hán ở bia tháp tổ Khắc Huyền được khắc khá sâu và rõ ràng, thẩm mĩ. Việc khắc sâu, đậm, chuẩn các nét chữ Hán chứng tỏ bia này hiếm có khả năng bị mài nhẵn và khắc lại (ngoại trừ việc dùng máy mài đá chuyên nghiệp để làm như hiện nay). Bởi lẽ, thợ khắc bia ngày xưa chỉ làm thủ công chứ không có máy móc hỗ trợ để mài đục. Do đó, việc mài đục nhẵn một tấm bia gắn tháp đến mức phẳng lì như bia đá tháp tổ Khắc Huyền là điều rất khó xảy ra..

Trong thực tế, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ hiện tượng bia đá có sự tác động để xóa chữ Hán hiện hữu trong bia. Chẳng hạn như các văn bia dưới đây:

Qua ba hình ảnh bia đá lăng mộ Ba Vành, bia đá mộ Hồ Phi Tiễn (ông nội của vua Quang Trung) và bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu, chúng tôi cho rằng việc xóa chữ trên bia đá đều chỉ khiến mất (không đọc được) một số chữ, hoặc các dòng chữ có liên quan, chứ không hề mài nhẵn. Điển hình như bia mộ ông nội vua Quang Trung là Hồ Phi Tiễn (ảnh 10) cũng chỉ bị xóa vài chữ cơ bản ở phần trên.

Bởi vậy, việc nhận định bia đá tổ sư Khắc Huyền bị mài nhẵn và khắc lại hoàn toàn không có cơ sở.

Đáng ra BS. NAH nên chứng minh có sự mài nhẵn, đục lại bia đá tháp tổ Khắc Huyền bằng nguồn tư liệu chuẩn xác (nếu có) thì sẽ hợp lý, thuyết phục hơn. Tiếc rằng tác giả lại dùng phương pháp phán đoán theo ý chủ quan của mình. Ông viết: “Ở khuôn bia, bên trái người đọc có lạc khoản ghi niên đại “正 和 二 十 七 年 四 月 吉 旦 立 (Chính Hòa nhị thập thất niên tứ nguyệt cát đán lập)”, tức làm năm 1706, thư pháp viết khác hẳn thư pháp trong lòng bia, và viết một cách cẩu thả, xiên xẹo, không cân đối so với khuôn bia (Xin xem lại ảnh)”. Phần khuôn ở đáy bia, có 1 chữ “ (tháp)” với cỡ chữ to hơn một chút so với dòng chữ trong lòng bia. Chữ này đã bị TS VVQ đọc thiếu (Xin xem lại ảnh). Phần khuôn bia ở phía trên, có những nét lờ mờ không đọc được. Vì đu cùng nằm trên khuôn bia, và dựa vào diện tích choáng chổ của các nét còn lại, đối chiếu với chữ “(tháp)” ở đáy bia, có thể khẳng định ở đây chỉ có 1 chữ duy nhất. Chữ này đã bị mòn mờ sứt mẻ, tôi không đủ khả năng cũng như kiến thức để đọc được là chữ gì. Và 1 chữ này đã được Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đọc thành 2 chữ “敕賜 (sắc tứ)” (Xin xem lại ảnh). Như vậy, nếu đọc ghép cả trán bia lẫn lòng bia từ trên xuống dưới, sẽ đọc như sau “? – 洞 上 正 宗 開 山 禪 林 院 克 玄 老 祖 和 尚 之 塔 – 塔 (? – Động thượng chánh tông khai sơn Thin Lâm viện Khắc Huyn lão tổ hòa thượng chi tháp – tháp). Tức là toàn bộ dòng chữ sẽ có 2 chữ “ (tháp)”, và trong đó chữ phía trên cùng, chỉ 1 chữ nhưng chưa đọc được (Xin xem lại ảnh).

Điu mà tôi không thể hiểu nổi là vì sao chỉ có 1 chữ mà Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đọc thành 2 chữ “敕賜 (sắc tứ)” ? Rất mong TS VVQ vui lòng cùng tôi đến tấm bia để chỉ cụ thể cho tôi thấy nét nào là nét của chữ “ (sắc)” và nét nào là nét của chữ “ (tứ)”, có được không ? Nếu TS VVQ chỉ ra được cụ thể các nét ấy trên tấm bia đang nói, tôi sẽ sẵn sàng công khai xin lỗi cũng như công khai cảm ơn TS VVQ đã chỉ dẫn ! Nhưng nếu không thể chỉ ra được cụ thể như thế, vì sao TS VVQ lại giải thích với độc giả như vậy ? Lẽ nào phải loanh quanh là vì ông NĐX đọc như thế, nên tôi cũng đọc như thế ?

Một chứng cứ để thấy rõ thêm là linh vị của hòa thượng Khắc Huyn được thờ trong chùa Thin Lâm hiện nay, không h có 2 chữ “sắc tứ” ! Có lẽ bạn sẽ cho rằng linh vị có thể khắc bị thiếu, nhưng căn cứ vào đâu để cho rằng linh vị khắc bị thiếu ? Thực tế trên linh vị là như vậy, có nghĩa rằng không có chứng cứ để cho rằng vị hòa thượng Khắc Huyn từng được sắc tứ.” (hết trích)

Xin trả lời từng mục BS. NAH đưa ra như sau:

(1) Chữ Hán ghi niên hiệu trên bia đá tháp tổ Khắc Huyền có nét khắc khá đậm, chữ nghĩa đàng hoàng, không rõ BS. NAH căn cứ vào đâu lại bảo chữ trên  “xiên xẹo cẩu thả” ? (xin xem ảnh 12)

(2) Trên bia, ở diềm dưới có 1 dấu hiệu, nhưng vì không rõ nên chúng tôi không đoán được chữ gì, riêng BS. NAH cho là chữ “Tháp” 塔 (xin xem  ảnh 13). Chúng tôi căn cứ vào 4 yếu tố dưới đây để thấy rằng đấy không thể là Tháp塔:

  • Bộ THỔ 土 bên trái chữ (nếu có) thì mất nét ngang ở dưới.
  • Nét MÁC bên phải chữ Bát 八 (dưới bộ thảo) thì quá dài, khiến chữ này rất mất cân đối. Với chữ Hán, sự mất cân đối của chữ là điều rất đáng nghi ngờ (bởi chữ Hán còn chuẩn xác và thẩm mỹ ở sự cân đối)
  • Nét ngang trong chữ khẩu 口cuối quá thừa so với chữ 塔 chuẩn.
  • Điều đặc biệt là phần giữa có nét sổ (bộ cổn丨) thể hiện rất rõ, điều này không đúng với chữ Tháp塔 (không có nét sổ giữa chữ bát 八, nhất 一 và khẩu口)

(3) BS. Nguyễn Anh Huy cho rằng chữ trên cùng ở giữa của bia đá này “có những nét lờ mờ không đọc được. Vì đều cùng nằm trên khuôn bia, và dựa vào diện tích choáng chổ của các nét còn lại, đối chiếu với chữ “塔 (tháp)” ở đáy bia, có thể khẳng định ở đây chỉ có 1 chữ duy nhất. Chữ này đã bị mòn mờ sứt mẻ, tôi không đủ khả năng cũng như kiến thức để đọc được là chữ gì. Và 1 chữ này đã được Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đọc thành 2 chữ “敕 賜 (sắc tứ)”.

Xem ảnh 14, mọi người thấy rõ ở đây trước tiên là hai chữ, chứ không phải là 1 chữ. Bên cạnh đó, chữ sắc 敕 dù bị phần đá chắn và che mất 1 phần, nhưng căn cứ vào khoảng ½ chữ ở phần dưới, ta vẫn có thể đoán được, chữ tứ 賜 ở dưới cũng vậy. Do đó, chúng tôi đọc “sắc tứ” hoàn toàn có căn cứ từ chữ Hán trên bia.

Qua đây, chúng tôi càng thấy rõ BS. NAH chưa từng lên khảo sát ở tháp tổ Khắc Huyền, nên tất cả những suy luận của ông đều hoàn toàn không có cơ sở. Hơn thế nữa, lời lẽ bình phẩm của BS. NAH càng cho thấy rõ cách làm việc chủ quan và đầy sự mỉa mai, văn phong kiểu văn nói chứ không phải là lời văn của một bài nghiên cứu khoa học, chẳng hạn “… Điu mà tôi không thể hiểu nổi là vì sao chỉ có 1 chữ mà Tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang đọc thành 2 chữ敕 賜 (sắc tứ)”? nét nào là nét của chữ “ (tứ)”, có được không ? … Lẽ nào phải loanh quanh là vì ông NĐX đọc như thế, nên tôi cũng đọc như thế ?” (hết trích)

Tại mục “3.2 NNC NĐX đã nói đúng: bia đã bị mài đục và làm lại”, BS. NAH viết: “Điều đáng lưu ý là, về mặt mỹ thuật, lạc khoản dòng niên đại luôn viết trong lòng bia, không bao giờ có lạc khoản viết ở khuôn bia như tấm bia này được!”. Dưới đây, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu liên quan để làm rõ.

 

Qua 3 ảnh thác bản ghi niên hiệu ở phía trái diềm bia ở trên, chúng tôi cho rằng cách ghi này vẫn tồn tại ở một số loại hình bia đá. Bởi thế, phán đoán của BS. NAH “lạc khoản dòng niên đại luôn viết trong lòng bia, không bao giờ có lạc khoản viết ở khuôn bia như tấm bia này được” thiếu cơ sở thực tế nên không chuẩn xác. Từ đấy, tác giả càng nhận định càng thiếu cơ sở khách quan. Ông viết: “Nếu lấp lòng bia đầy cho ngang mặt bằng của khuôn bia, ta sẽ có một tấm bia khác cân đối hơn với 2 dòng chữ : Dòng chữ lớn là “? ??? (? ??? tháp)” và lạc khoản kèm theo của dòng chữ lớn này là “正 和 二 十 七 年 四 月 吉 旦 立 (Chính Hòa nhị thập thất niên tứ nguyệt cát đán lập)”. Có nghĩa rằng đây là một tấm bia tháp có kích thước lớn, và sau đó vì một lý do nào đó, đã được/bị cắt nhỏ lại để tận dụng và đục lòng bia để khắc lại lần 2 ở phần lòng đục lõm. Khi cắt nhỏ tấm bia, người ta tận dụng lại lạc khoản niên đại cũ để làm chứng về mặt thời gian, và vì thế, không thể mài hết được các chữ lớn ở tấm bia cũ còn sót lại 2 chữ là một chữ ở trên không rõ là chữ gì, và một chữ bên dưới là chữ “塔 (tháp)”. Độc giả nên đến trực tiếp xem tấm bia sẽ thấy rõ điều tôi mô tả. Có lẽ cũng là bia của hòa thượng Khắc Huyền với kích thước lớn cho ngôi tháp nguyên gốc rất lớn. Khi mở Nam Giao tân lộ vào năm 1888, người ta đã di dời tháp ngài từ vị trí bị mở đường vào đây, và do xây ngôi tháp cải táng mới nhỏ hơn ngôi tháp cũ, nên đã cắt tấm bia cũ nhỏ lại cho cân đối với ngôi tháp mới, và khắc chữ lại như ta thấy hôm nay”

Một bài viết phản luận nhằm bảo vệ cho ý kiến bia đá tổ sư Khắc Huyền bị cố tình mài, đục, khắc lại – vấn đề hết sức hệ trọng đối với ngôi chùa Thiền Lâm nói riêng và Phật giáo Huế nói chung, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của mọi người về triều Nguyễn – thế nhưng BS. NAH chỉ toàn đưa ra các phán đoán cá nhân mà chẳng hề cung cấp được bất kỳ một cứ liệu cụ thể nào.

Những phán đoán, giả thiết thiếu căn cứ của BS. NAH như trên không hề đem lại nhận thức mới, phù hợp và chuẩn xác nào cho khoa học.

Chúng tôi một lần nữa xin được lưu ý với BS. NAH rằng: các vấn đề liên quan đến vị tổ sư Khắc Huyền chùa Thiền Lâm là những vấn đề đặc biệt quan trọng, có tác động rất lớn đối với ngôi chùa lịch sử này nói riêng, Phật giáo Huế nói chung cũng như với triều Nguyễn. Bởi vậy, trước khi có đầy đủ cứ liệu chuẩn xác, kính đề nghị ông không được biến giả thiết của mình thành chứng cứ khoa học nhằm để xác quyết một câu chuyện hệ trọng như trên. Và cũng vì thế, kết luận “Như vậy, NNC NĐX đã nói đúng, tấm bia đã bị mài, đục, khắc lại. Do vậy, NNC NĐX không hề “cố tình xúc phạm nặng nề tổ sư chùa Thiền Lâm” như TS VVQ phán quyết!” của ông không hề có giá trị khoa học nào.

 

  1. Thay lời kết luận:
  2. NAH viết bài phản biện trên nhằm đồng thuận với NNC. NĐX về việc bia đá tháp tổ Khắc Huyền bị triều Nguyễn cố tình đục phá, mài nhẵn và khắc lại. liên quan đến chính sách “tận pháp trừng trị” vào niên hiệu Gia Long: “tấm bia Ngài Khắc Huyền bị mài và khắc lại diễn ra hồi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu xây dựng lại chùa Thiền Lâm… Về việc bia mộ tháp Ngài Khắc Huyền bị mài và khắc lại chỉ có một cách giải thích là việc đó nằm chung trong chính sách “Tận pháp trừng trị” của nhà Nguyễn đối với việc xóa dấu tích phủ Dương Xuân – tiền thân của Cung điện Đan dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung mà thôi[11].

Để tạo cơ sở vững chắc cho nhận định đó, NNC NĐX đã tiếp tục khẳng định: “những bia biển có liên quan đến chùa Thiền Lâm tại nơi tọa lạc của chùa Thiền Lâm ở ấp Bình An xã Dương Xuân đều bị mài đục, xóa hết chữ, chôn sâu xuống đất[12].

Đây là luận điểm cơ bản, trọng yếu nhất của NNC. NĐX nhằm chứng minh việc cố tình đập phá này là công việc có tổ chức, có chiến lược rõ ràng của triều Nguyễn, để với mục đíhc xóa sổ những gì liên quan đến cung điện Đan Dương.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy hiện tại ở khu vực này còn không ít bia đá, tháp mộ của các thiền sư chùa Thiền Lâm với chữ nghĩa rất rõ ràng, bia đá thanh sâu đậm, với đa dạng loại hình (có tháp mộ, có phần mộ…) như tháp của thiền sư Thành công thụy Đại Huệ, bia đá của thiền sư Thanh Thận Chiêu Quả, Tỳ kheo Tỉnh công Thiền sư, Tịnh Hành Nguyệt thiền sư, Tịnh… lão thiền sư

Điều ấy càng cho thấy các nhận định của NNC. NĐX về chuyện triều Nguyễn cố tình đập phá, mài nhẵn và chôn sâu các bia đá, tháp mộ liên quan đến chùa Thiền Lâm để che giấu sự hiện diện của lăng mộ vua Quang Trung (cung điện Đan Dương) ở vùng đất này… là những suy đoán thiếu căn cứ và phi thực tế. Xin xem thêm ở các ảnh tháp, bia mộ dưới đây.

 

 

Qua sự hiện diện của các tháp thiền sư chùa Thiền Lâm quanh đồi Bình An này, chúng tôi khẳng định triều Nguyễn không hề có chủ trương cố tình đập phá, mài đục, chôn sâu xuống đất các tháp tổ, các dấu hiệu liên quan đến chùa Thiền Lâm thời Tây Sơn (trong đó có tháp tổ Khắc Huyền) như NNC NĐX xác định.

Vì vậy, dẫu vô tình hay cố ý, việc BS. NAH đồng tình và bảo vệ luận điểm của NNC. NĐX về việc bia tháp tổ Khắc Huyền bị mài nhẵn và khắc lại trong sách Chùa Thiền Lâm và các tư liệu liên quan (như Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương, Phủ Dương Xuân…) tức ông đã ủng hộ NNC. NĐX về việc quy kết tội đập phá, mài đục, tạo hiện trường giả, dựng nên một vị tổ sư Khắc Huyền không có thực, không liên quan gì đến chùa Thiền Lâm cho triều Nguyễn.

Song như đã chứng minh ở bài trước, triều Nguyễn không hề thực hiện hành động phi đạo lý, xúc phạm đến tháp mộ tổ sư chùa Thiền Lâm như vậy. Bởi thế, chúng tôi đã đề nghị NNC. NĐX nên nghiên cứu kỹ càng và hợp lý, chuẩn xác hơn để tránh được những sai lầm nối tiếp về sau.

Hẳn nhiên, lời thật dễ làm “mất lòng”, song chúng tôi cho rằng điều đó là vấn đề cần thiết, nhằm trả lại những gì chân xác của lịch sử như chính nó.

Dưới đây, chúng tôi xin được nói thêm một số vấn đề sau:

  • Tôi từng tham gia Nhóm nghiên cứu Đan Dương vào cuối tháng 8 năm 2017. NNC NĐX là người khởi xướng, lập ra nhóm này. Nhóm hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện tham gia không có lợi ích nào, với mục tiêu và tinh thần là nghiên cứu triều đại Tây Sơn trên đất Huế.

Qua một số lần họp Nhóm, tôi đã liên tục đề xuất đổi tên thành Nhóm Nghiên cứu về triều đại Tây Sơn trên đất Huế, nhưng không hề được quan tâm.

Tiếp đó, NNC NĐX đã không thực hiện đúng nguyên tắc và mục tiêu của Nhóm, mà từng dùng tư cách người đứng đầu Nhóm, sử dụng trang web của nhóm để thực hiện các việc không liên quan đến vấn đề nghiên cứu triều đại Tây Sơn, ít nhiều làm ảnh hưởng không tốt đến các thành viên tham gia, trong đó có tôi. Bởi vậy, tôi đã chính thức gửi Email xin ra khỏi Nhóm Nghiên cứu Đan Dương vào ngày 20 tháng 11 năm 2017. Hiện trên trang web của nhóm Đan Dương đã không có sự hiện diện của tôi. Xin mời ông cùng mọi người xem ở đây: http://cungdiendanduong.net/c39/nhom-thuc-hien.html

Vì thế, hiện nay, tôi không phải là thành viên nhóm Nghiên cứu Đan Dương.

  • Tinh thần nghiên cứu khoa học là hướng đến sự chân xác, đúng đắn nhất với lịch sử, văn hóa, xã hội vốn có. Với tinh thần ấy, chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng đón nhận, trao đổi, phản luận khoa học với tất cả những bài viết phản biện khoa học. Song, việc phản biện cần có cơ sở khoa học nhằm hướng đến tính chân lý khách quan. Chúng tôi mong rằng sẽ tiếp nhận các bài phản biện tiếp theo với đúng tinh thần khoa học khách quan và hợp lý./.

Huế, ngày 05 tháng 02 năm 2018

V.V.Q

 

Tài liệu tham khảo chính

1/ Hoàng Trọng, “Những di tích kỳ bí – Kỳ 5: Khu lăng mộ bí ẩn”, Báo Thanh Niên online, link: https://thanhnien.vn/van-hoa/nhung-di-tich-ky-bi-ky-5-khu-lang-mo-bi-an-361318.html

2/ Nguyễn Anh Huy, “Trao đổi với tiến sĩ Hán Nôm Võ Vinh Quang về những phản biện quyển sách Chùa Thiền Lâm”, link: https://khoahocnet.com/2018/01/14/bac-si-nguyen-anh-huy-trao-doi-voi-tien-si-han-nom-vo-vinh-quang-ve-nhung-phan-bien-quyen-sach-chua-thien-lam/#comment-12729

3/ Như Như đạo nhân – Điềm Tịnh cư sĩ, Hàm Long sơn chí, quyển 5 (bản lưu chùa Từ Đàm)

4/ Võ Vinh Quang, “Thiền Lâm – ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm (4 Phần)”, đăng tại trang web Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, link: http://hueworldheritage.org.vn/TTBTDTCDH.aspx?TieuDeID=127&TinTucID=2805&l=vn hoặc http://www.huedisan.com.vn/TTBTDTCDH.aspx?TieuDeID=127&l=vn

5/ Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán, Tập san Liễu Quán, số 8: chuyên đề Tổ sư Nguyên Thiều và thiền phái Lâm Tế tại Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, tháng 5-2016

6/ Viện Cao học Thực hành – Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm tập 12, Hà Nội 2008

7/ 罗竹风主编, 《汉语大词典》第1卷, 上海辞书出版社, 1986

8/ 广东、广西、湖南、河南辞源修订组,商务印书馆编辑部 编, 辞源:修订本, 北京 商务印书馆, 1998

 

* Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

[1] Xin xem link: http://www.huedisan.com.vn/TTBTDTCDH.aspx?TieuDeID=127&l=vn

[2] Xin xem link: https://khoahocnet.com/2018/01/14/bac-si-nguyen-anh-huy-trao-doi-voi-tien-si-han-nom-vo-vinh-quang-ve-nhung-phan-bien-quyen-sach-chua-thien-lam/#comment-12729

[3] Xin xem: 罗竹风主编, 《汉语大词典》第1卷, 上海辞书出版社, 1986, 第686页

[4] 广东、广西、湖南、河南辞源修订组,商务印书馆编辑部 编 (), 辞源:修订本(4卷), 北京-商务印书馆, 1998, 第94页

[5] Tức Sở Hùng Dịch (chữ Hán: 楚熊繹), được xem là vị vua thứ tư của nước Sở – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Về mặt chính thức, ông là vị quân chủ đầu tiên của nước Sở.  Ông là con trai của Sở Hùng Cuồng, người được xem là vị vua thứ ba của nước Sở. Sau khi Hùng Cuồng mất, Hùng Dịch lên thế tập chức khanh của cha ở nhà Chu.  Đời Chu Thành Vương đã phong cho ông chính thức cai quả đất Kinh, kiến đô lập quốc, với tước hiệu Sở tử. Từ đây, đất Kinh được gọi là Kinh Sở, hay nước Sở, và chính thức đứng vào hàng ngũ chư hầu của nhà Chu.  Năm 1006 TCN, Hùng Dịch mất, con ông là Hùng Ngải nối ngôi (theo: https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%9F_H%C3%B9ng_D%E1%BB%8Bch )

[6] Xin xem Võ Vinh Quang, Thiền Lâm – ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm (Phần 1), đăng tại trang web của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, link: http://hueworldheritage.org.vn/TTBTDTCDH.aspx?TieuDeID=127&TinTucID=2805&l=vn

[7] Nguyễn Anh Huy, Tlđd, link: https://khoahocnet.com/2018/01/14/bac-si-nguyen-anh-huy-trao-doi-voi-tien-si-han-nom-vo-vinh-quang-ve-nhung-phan-bien-quyen-sach-chua-thien-lam/#comment-12729

[8] Thích Hải Ấn, “Tờ Trình gửi phủ chúa xin miễn thuế Tam Bảo tự điền của Tổ Nguyên Thiều và Tổ Giác Phong năm Chính Hòa thứ 15 – một văn bản quý hiện còn được bảo lưu tại Huế”, Tập san Liễu Quán, số 8: chuyên đề Tổ sư Nguyên Thiều và thiền phái Lâm Tế tại Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, tháng 5-2016, tr.42

[9] Thích Hải Ấn, “Tờ Trình gửi phủ chúa xin miễn thuế Tam Bảo tự điền của Tổ Nguyên Thiều và Tổ Giác Phong…”, Sđd, tr.40-43

[10] Nguồn: https://thanhnien.vn/van-hoa/nhung-di-tich-ky-bi-ky-5-khu-lang-mo-bi-an-361318.html

[11] Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 47

[12] Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, sđd, tr.52

3 thoughts on “Võ Vinh Quang – VỀ VĂN BIA THÁP TỔ KHẮC HUYỀN CHÙA THIỀN LÂM (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)

  1. Pingback: VỀ VĂN BIA THÁP TỔ KHẮC HUYỀN CHÙA THIỀN LÂM (trao đổi cùng Bác sĩ Nguyễn Anh Huy) – Bình Nguyên – Võ Vinh Quang

  2. Tôi đã đọc kỹ bài phản biện của Bs N.A.H và bài phản luận của TS V.V.Q. Khách quan mà nói tôi hoàn toàn đồng ý với TS V.V.Q về những vấn đề quanh việc xác định hai từ ” Đan Dương” mà các ông N.Đ.X và Bs N.A,H cứ khăng khăng cho đó là cung điện Đan Dương thời vua Quang Trung. Nếu hai nhà này còn chưa bằng lòng thì xin hãy đọc phần giải thích rõ ràng trong Hán Ngữ Đại Từ Điển, trong Từ Nguyên hoặc trong Vương Vân Ngũ Đại Từ Điển. .Về vấn đề thứ 2 là dòng Tào Động có trước hay có sau năm 1695 khi Hòa thượng Thích Đại Sán đến Đàng Trong thì TS V.V.Q. đã dẫn chứng rất rõ ràng trong bài phản luận của mình rồi, tôi không nói tới. Vấn đề thứ 3 là các bia bị đục bỏ hay bị mài nhẵn rồi cho khắc lại. Tôi thấy cách đây 200 năm, nếu ghét bỏ một ai người ta chỉ đục bỏ tên họ người đó mà thôi, chẳng ai lại bỏ công đi mài nhẵn rồi cho khắc lại cả. Việc mài nhẵn một tấm bia bằng những công cụ thời đó e không thể thực hiện được vì quá tốn công sức và vô bổ. Vấn đề thứ 3 là chữ “tháp” theo Bs N.A.H. và chữ ” sắc tứ” theo Ts V.V.Q. thì tôi không có ý kiến vì chữ đã mất nét không nhìn ra, nhưng tôi thấy cách lý giải của Ts V.V.Q. có lý hơn đó không thể là chữ ” tháp ” được.
    Là một nhà nghiên cứu ai không tránh khỏi sai lầm, và nhiều khi còn áp đặt ý kiến chủ quan của mình bằng ngôn từ để hướng người đọc, bắt người đọc phải chấp nhận những giả thiết của mình đưa ra. Trên thế giới này không phải là không có. Chỉ đơn cử một việc các nhà khảo cổ năm sau mươi năm trước đây cứ khẳng định như đinh đóng cột là con người chỉ xuất hiện các đây mấy chục ngàn năm, còn bây giờ thì sao? không những mấy trăm ngàn năm mà có khi có đến hàng chục triệu năm nữa. Không có cái gì là tuyệt đối hết. Đã là nhà khoa học, nhà khoa học chân chính, chứ không phải mượn danh nhà khoa học, nhà nghiên cứu để áp đặt, để lôi kéo người đọc theo ý đồ của mình. Mong rằng các bên hãy bình tâm, mong mỏi lắm thay.

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s