BS NGUYỄN ANH HUY – MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHÙA THIỀN LÂM VỚI PHỦ DƯƠNG XUÂN VÀ LĂNG ĐAN DƯƠNG CỦA QUANG TRUNG

Chùa Thiền Lâm, phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn và lăng Đan Dương của vua Quang Trung là những di tích lịch sử ở Huế, được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu đã lâu và nay đã có khai quật khảo cổ, quy hoạch khảo cổ :

– Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Bảo tàng Lịch sử (Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế), Báo Cáo Sơ Bộ Kết Quả Thăm Dò Khảo Cổ Học Địa Điểm Gò Dương Xuân 10/2016 (phường Trường An, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế), Thừa Thiên Huế, Tháng 1/2017.

– Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên Huế, Báo Cáo Quy Hoạch Khảo Cổ Đến Năm 2020, Định Hướng Đến Năm 2030, Thừa Thiên Huế, 2016.

Do đã có dự định sẽ tiếp tục khai quật khảo cổ di tích trên vào năm 2018, nên để độc giả dễ nắm rõ mỗi vấn đề hơn, tôi xin điểm lại lược sử các di tích ấy :

  1. LƯỢC SỬ CHÙA THIỀN LÂM

Chùa Thiền Lâm không biết được xây dựng từ năm nào, nhưng chúng ta cần nắm những mốc son lịch sử sau :

  1. Thời chúa Nguyễn : Năm 1695, Thiền sư Thích Đại Sán ở Quảng Đông, được Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu mời sang Thuận Hóa hoằng dương chính pháp, đã trú ngụ tại chùa này. Lúc ấy chỉ là một thảo am với “phương trượng ba gian lợp bạch mao”1, nên đợt xây dựng đầu tiên, Minh vương Nguyễn Phúc Chu đã sai 1000 quân lính và thợ “kẻ vác tre, người vác gỗ, kẻ đánh tranh, người vót mây, lại có người cuốc đất đắp nền, hoặc leo lên mái nhà gọi nhau, hoặc đào hầm đất đi xuống. Từ sáng đến tối, liền ba ngày đêm, cất xong một tòa phương trượng 5 gian 32 cột, bốn phía có hành lang ; vách tường, rầm thượng, rầm hạ đều bằng ván và một nhà hậu liêu 4 gian 20 cột, cũng đồng thời làm xong”2. Khi đệ tử của Thích Đại Sán ở thuyền sau đến, “Vương ân cần hỏi han từng người một. Tức thì phê lệnh, truyền quan quân các dinh chia nhau dựng liêu xá… chỉ trong ba – bốn ngày là xong. Ngoài ra… hơn 2000 vân thủy giới tử ai lo phần việc nấy…”3.

Ở địa thế gò đồi nói chung, khi “đắp nền” cho bằng phẳng để xây dựng, tất nhiên phải “đào hầm đất đi xuống” để làm móng bờ kè bằng đá chắn cho đất khỏi tụt ; do vậy, ngay từ thời này có thể ở chùa Thiền Lâm đã có nhiều bờ kè bằng đá mà khảo cổ học năm 2016 đã tìm thấy : “…nhiều lớp đá xếp trực tiếp lên nhau,  không thấy có dấu vết vôi vữa hay bất kỳ một chất liên kết nào”4 hoặc “Quan trọng là giữa các viên đá không hề thấy có vôi. Kỹ thuật xếp đá này là xếp khô, không sử dụng chất liên kết”5.

Vì chùa do vua “phê lệnh” làm, nên có thể cho rằng chùa Thiền Lâm lúc này có chức năng ngự kiến (tức chùa do vua xây). Và cũng vì chùa được làm cho Thích Đại Sán thuyết pháp, từ một chùa dân gian chuyển thành chùa ngự kiến, do đó cũng có thể cho rằng “Chùa Thiền Lâm… do Thạch Liêm hòa thượng dựng…”6 từ giai đoạn trở thành chùa ngự kiến. Tuy nhiên, chức năng ngự kiến này, đến cuối năm 1695 bị tước bỏ, do vị Quốc sư thời ấy không làm tròn nhiệm vụ, nên Minh Vương“bèn khiến triệt phương trượng ở chùa Thiền Lâm, sửa soạn lại chùa Thiên Mụ, sai người vào [Hội An] thỉnh [Thích Đại Sán]”7 !

            2, Thời Tây Sơn : Chùa bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên dùng làm nơi ở và làm việc. Phan Huy Ích, khi vào Phú Xuân lần đầu đã cho biết : “Nhà của quan Thái sư (Bùi Đắc Tuyên) là chùa Thiền Lâm cũ, nằm phía nam sông Hương, nha thuộc cũng theo đến ở chung quanh chùa…”8.

Khi trở lại Phú Xuân lần thứ hai, trong bài “Kinh Thiền Lâm phế tự cảm tác”, Phan Huy Ích lại cho biết : “寺 在 陽 春 社 山, 始 於 舊 武 孝 王 時, 院 宇 高 廠. 相 傳 童 徭 云, 禪 林 固 𥒥 招 撩, 埃 傷 師 父 時 𠓨  禪 林. 前 太 師 裴 得 宣 因 寺 建 邸, (?) 裁 庶 政 于 所 居, 官 吏 軍 民 環 統 山 徑 自 以 謠 言 為 佳 讖. 迨 裴 得 宣 獲 罪,寺 廢 為 炭 庫, 煙 峰 荒 漠 過 者 耿 然 致 意 篤. 誰 使 驕 愚 躡 至 尊, 豈 知 忠 聖 惧 流 言, 三 年 政 柄 私… (Tự tại Dương Xuân xã sơn, thủy ư cựu Võ Hiếu vương thời viện vũ cao xưởng, tương truyền đồng dao vân : ‘Thiền Lâm có đá cheo leo, Ai thương sư phụ thì vào Thiền Lâm’. Tiền Thái sư Bùi Đắc Tuyên nhân tự kiến để, (?) tài thứ chính vu sở cư, quan lại quân dân hoàn thống sơn kính tự dĩ dao ngôn vi giai sấm. Đãi Bùi Đắc Tuyên hoạch tội, tự phế vi thán khố, yên phong hoang mạc quá giả cảnh nhiên trí ý đốc. Thùy sử kiêu ngu nhiếp chí tôn, Khỉ tri trung thánh cụ lưu ngôn, Tam niên chính bính tư…).

Tạm hiểu : Cảm tác khi ngang qua chùa hoang phế Thiền Lâm

            Chùa ở núi xã Dương Xuân, được dựng từ thời Hiếu Võ Vương9, nhà cửa cao to, tương truyền có đồng dao rằng : ‘Thiền Lâm có đá cheo leo, Ai thương sư phụ thì vào Thiền Lâm’.   Trước đây, Thái sư Bùi Đắc Tuyên lấy chùa vừa làm nhà riêng vừa làm công quán để giải quyết công việc, nên quan dân đều xem câu đồng dao đó là lời đẹp. Đến khi Bùi Đắc Tuyên bị tội, chùa bỏ hoang để làm kho than, cảnh rêu phong hoang tàn làm cho người vãng lai phải chú ý : Ai xu thứ ngu ham theo bước chí tôn ? Có biết bậc trung chỉ sợ lưu ngôn ? Ba năm nắm quyền…”10.

            Điều này cho thấy sau khi Bùi Đắc Tuyên bị giết, chùa bỏ hoang để làm kho than, vì vậy, người làng lại tu sửa làm chùa như trước”11.

            3, Đầu thời Nguyễn : “Chùa Thiền Lâm : Ở ấp Bình An. Tương truyền do Thạch Liêm hòa thượng dựng. Sau Bùi Đắc Tuyên thái sư triều Ngụy Tây dùng làm nhà ở, Đắc Tuyên bại, người trong ấp nhân nền cũ chữa lại, đến khoảng đời Gia Long bản triều, Thừa Thiên Cao hoàng hậu bỏ của ra sửa lại…”12.

Công việc trùng tu của Thừa Thiên Cao hoàng hậu làm chùa Thiền Lâm quy mô rất to lớn và tráng lệ. Năm 1845, Tùng Thiện Vương đến thăm chùa, đã được nghe một cụ già ở chùa kể lại sự trùng tu 40 năm trước, và cảm tác thành bài thơ trong đó cho biết sự mệt nhọc, tốn kém như sau :

“…Khuân đá, chở cây, lắm nhọc mệt,

Tốn vạn nhân công mới hoàn thành…”13.

4, Thời hiện đại : Từ năm 1888 đến 1898, kỹ sư Sali thực hiện cuộc thi công mở Nam Giao tân lộ, nay là đường Điện Biên Phủ. Con đường này xuyên ngang chùa Thiền Lâm, và tất nhiên, lúc này, ngôi chùa to lớn tráng lệ đầy đá gạch do Thừa Thiên Cao hoàng hậu trùng tu đó, đã hoàn toàn sụp đổ, các vật liệu xây dựng chùa vương vãi chung quanh…

Khảo cổ học năm 2016 đã tìm thấy 2 đồng tiền bằng đồng (một đồng Thành Thái, một đồng Indochine – Francaise), càng cho thấy các di tích gạch đá này chỉ mới bị sụp đổ vào thời Thành Thái (1889-1907), có nghĩa rằng những gạch đá đó là từ những kiến trúc của Thừa Thiên Cao hoàng hậu.

Một điều đáng lưu ý là trước khi mở Nam Giao tân lộ, chùa Thiền Lâm cũ mở cổng ra đường Nam Giao cũ (nay là đường Phan Bội Châu), tức nhìn về hướng chính Đông, chỉ lệch gió mùa Đông Bắc khoảng 450, gần như trực tiếp hứng gió mùa đông !

 

  1. VỀ VỊ TRÍ CỦA PHỦ DƯƠNG XUÂN CỦA CHÚA NGUYỄN

Tham khảo việc mô tả của người xưa về phủ Dương Xuân, tôi đã từng tổng hợp phủ này có các đặc điểm sau14 :

  1. Mô tả xa :

– Theo Pierre Poivre15 : cung điện chính nằm trên một cái gò.

– Theo Thích Đại Sán, giáo sĩ P. Koffler16 và Pierre Poivre : tổng thể toàn cung điện cả thành quách… ở bờ sông Hương (nam sông Hương).

– Theo Pierre Poivre và James Bean17 : đối diện với một hòn đảo, chính là cồn Dã Viên.

– Theo James Bean : nhánh bên phải cung điện nhìn ra con kênh (tiền thân của sông An Cựu); còn Pierre Poivre thì nói rằng cung điện “có một nhánh nhìn ra mặt nước”.

– Theo Pierre Poivre và đức cha Lefebvre18 : gần Phường Đúc.

– Theo Thích Đại Sán và James Bean : là nơi rộng chừng 1-2 dặm và chứa được cả ngàn quân lính đứng canh gác rải rác.

– Là khu vực riêng biệt, không thấy mô tả chùa chiền, có cung nữ ở, tấu nhạc, huấn luyện voi (phủ Tập Tượng – điện Trường Lạc), hiên Duyệt Võ để duyệt binh…

Hình : Đình DƯƠNG XUÂN HẠ được xây trên nền phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn, xung quanh đình còn nhiều nền móng của nhiều kiến trúc cũ và đá tảng cũ vẫn còn vương vãi khắp nơi…

Hình : Kiến trúc phủ Dương Xuân nằm trên một cái gò để tránh lụt lội mùa đông, và hướng chính Tây để tránh gió mùa Đông Bắc nên còn được gọi là TÂY CUNG hay CUNG ĐIỆN MÙA ĐÔNG.

 

  1. Mô tả gần :

– Theo Pierre Poivre : gần cổng phủ có một cái phòng nhỏ nền thấp hơn để tiếp khách.

– Theo Pierre Poivre : một nhánh cung điện ở tầng cao hơn phòng tiếp khách, đối diện với một cái hồ.

Hình : Trước cổng phủ, hiện đang còn một nền móng hình vuông, là căn phòng tiếp khách, mà Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã tiếp Pierre Poivre năm 1749

Hình : Đối diện với cung điện là một cái hồ, nơi Pierre Poivre đã chứng kiến người dân phản đối sự bất công. Hồ này hiện nay đang bị chiếm lấp dần để xây dựng mới (Ảnh do tác giả chụp cuối năm 2015)

 

  1. Nhận định về vị trí của phủ Dương Xuân : Đối chiếu với các tiêu chí nhận diện về phủ Dương Xuân cả các mô tả xa và cả mô tả gần, ta thấy ngoại trừ khu vực đình Dương Xuân Hạ không có một vị trí nào hội đủ các điều kiện thỏa mãn các mô tả của những người đã từng chứng kiến phủ này. Bởi vì toàn thể các di tích ở khu vực cánh đồng Bàu Vá này, nếu được bao bọc bằng lũy tre chung quanh thì đây là một tổng công trình sát bờ sông Hương, còn điện chính thì trên một cái gò, gần Phường Đúc, đối diện với hòn “đảo” Dã Viên, bên phải có con “kênh” An Cựu, có thể chứa hàng ngàn binh lính có thể “Duyệt Võ”, là một khu vực riêng biệt không có chùa chiền nào cả.

Một điều đáng lưu ý, các chúa Nguyễn dựng phủ Dương Xuân để tránh lụt lội và gió mùa Đông Bắc, nên phủ còn được gọi cung điện Mùa Đông, và cũng còn được gọi là “Tây Cung19, do đó, cung điện Mùa Đông phải thuộc về hướng Tây. Thực tế thì vị trí đình Dương Xuân Hạ hướng gần chính Tây lệch Bắc khoảng 150, như vậy là lệch gió Đông Bắc khoảng 1200, tức gió mùa Đông Bắc chỉ ở phía lưng, hoàn toàn tránh được sự trực tiếp của giá rét. Thêm nữa, có đồi Bình An nằm ở phía đông của đình Dương Xuân Hạ, tức lại là một bức bình phong chắn gió mùa đông cho phủ Dương Xuân.

Tuy nhiên, khi biến loạn năm Giáp Ngọ, đô thành Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm đóng, phủ Dương Xuân ở nam sông Hương không ai ở, nên năm 1776 bị quân Trịnh phá lấy gỗ làm củi để mở lò đúc tiền : Nhà cửa lầu gác thuyền bè họ Nguyễn đều dùng gỗ kiền kiền… Họ Nguyễn có xây dựng thì phần nhiều lấy gỗ ở các phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Gia Định. Như năm Canh Thân (1740) làm phủ Dương Xuân cùng cửa Nghi Môn, hạ lệnh… lấy gỗ… Phủ Gia Định sản nhiều gỗ tốt… có nhiều gỗ sao, gỗ trắc, gỗ giáng hương… Dinh Phú Xuân của họ Nguyễn có nhà quan và nhà lính tới mấy vạn nhà. Từ tháng Giêng năm Ất Mùi (1775), quan quân đóng đồn, tướng sĩ và binh lính theo làm việc có hơn 3 vạn người, mặc ý đi lấy củi, lâu ngày phá rỡ, dân gian nhân đó mà lấy trộm cũng không ngăn cấm, mấy năm đốt cháy, không những gỗ kiền kiền, gỗ sao, đến cả gỗ trắc và gỗ giáng hương chứa đầy một gian để làm củi. Mùa xuân năm Bính Thân (1776) mở trường đúc tiền, lại lấy làm than. Lập dinh trấn thủ, lại lấy để làm phòng ốc cho các cơ đội các quân, dùng hãy còn thừa. Đến tháng 5 mới sai các quân đi lấy củi ở núi Hòn Chén, cấm không được dỡ nhà quan nữa. Nhưng trường tiền đốt than một lần đã dỡ đến bốn năm chục gian chưa thôi. Ngói đá gạch chum thì kể có hàng vạn, không thể tính xiết”20.

Chính vì phủ Dương Xuân bị mấy năm đốt cháy” và “dân gian nhân đó mà lấy trộm cũng không ngăn cấm, cho nên hơn 50 năm sau, khi vua Minh Mệnh và Quốc Sử Quán Triều Nguyễn tìm lại phủ này, là nơi sinh của vua Gia Long, thì đã mất dấu tích : “Nhâm Thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa thu, tháng 9… Trước đây, vua bảo Bộ Lễ : ‘Cố cung chỗ sinh Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta tại xã Dương Xuân, từ khi trải qua binh biến mất cả di chỉ. Sau khi cả nước đã yên, tìm hỏi không ra mỗi khi nghĩ đến thương cảm không nguôi !’…”21.

 

            III. VỀ LĂNG ĐAN DƯƠNG CỦA VUA QUANG TRUNG

  1. Về bệnh tật và cái chết của Nguyễn Văn Huệ : Xem Đại Việt Quốc Thư, ta thấy có đến 5 bức thư vua tôi Quang Trung gởi cho sứ thần Trung Quốc đều nói về vua Quang Trung bị đau kéo dài và chữa trị thường xuyên tại Nghệ An :

            -“… Có điều bản quốc gần đây có nhiều trắc trở. Kẻ hèn này từ khi dựng nước gian lao, tên gai cung gỗ lúc nào cũng phải lo việc binh đao không nhàn rỗi, lại phải lo việc xây dựng kinh đô, chuyện gì cũng phải đi lại từ đầu, cố gắng quá sức nên cảm mạo phong sương, mắc bệnh thương hàn. Mới đây gượng ốm đi lên phương bắc, vừa mới tới thành đông của Nghệ An, gặp giá mùa thu, khí trời mới lạnh khiến cho bệnh cũ tăng lên, nên phải xuống thuyền về lại thành Nghệ An điều trị…”22.

-“… Có điều gần đây đi lại nhiều nơi, ngày chậm tháng chầy nên mắc chứng nóng lạnh, giống như bệnh thương hàn… khí lạnh xâm nhập vào xương tủy, bệnh cũ lại tăng… đành phải xuống thuyền quay về Nghệ An điều trị…”23.

-“Hiện nay tiểu phiên đang xây dựng thành ấp ở Nghệ An, mới đây vì cảm phong sương chẳng may bị nhiễm thương hàn, giống như chứng sốt rét, lo liệu chạy chữa nay cũng đã bớt… Ngờ đâu bệnh thể mới giảm mà tiểu phiên không chịu nghỉ ngơi… khi đi đường bị cảm nhiễm thêm, tật cũ phác tác… lên cơn nóng lạnh, thân thể rã rời, khó có thể gượng bệnh mà đi tiếp được nên đành phải lưu lại điều trị gấp”24.

-“…vua nước tôi đích thân đến trị đô ở Nghệ An, bất ngờ bị bệnh thương hàn… chỉ cách Nghệ An một ngày đường nhằm lúc trời thu giá buốt nên bệnh cũ trở lại, mỗi ngày nóng lạnh lên cơn một lần, đành phải quay thuyền về Nghệ An để chữa thuốc”25.

-“Còn như việc thiên đô thì trước đây chưa từng đề đạt tâu lên… Ngờ đâu cảm mạo nắng gió rồi lại thêm chứng sốt rét đành phải ở lại thành Nghệ An chữa trị”26.

Tuy những lá thư trên chỉ là những văn bản ngoại giao, nên nội dung không đáng tin cậy lắm về mặt sự thật, nhưng chúng ta cũng có nhiều chứng cứ khác. Ai Tư Vãn của Lê Ngọc Hân cho biết về bệnh tật của Nguyễn Văn Huệ :

Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết, 
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên !
Xiết bao kinh sợ lo phiền,
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước.
Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?
Ngán thay, máy Tạo bất bằng !
Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan !

Đặc biệt, sử triều Nguyễn còn cho biết : “…[Nguyễn Văn] Huệ tối sầm mắt, ngã vật ra một lúc lâu mới tỉnh… Từ đấy bệnh chuyển nặng lên, bèn triệu Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về để bàn dời kinh đô đến Nghệ An. Việc bàn ấy chưa nhất định thì khi ấy Thế Tổ ta đã lấy được Gia Định… Huệ nghe thấy lo buồn, bệnh ngày càng nặng thêm. Triệu bọn Diệu rằng : …nay bệnh tất không khỏi, Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi hãy còn nhỏ… Khi ta chết rồi, nên trong một tháng, làm lạo thảo để chôn táng thôi. Bọn ngươi nên cùng nhau giúp Thái tử sớm thiên đến Vĩnh Đô [thuộc về Nghệ An]… Ngày 29 tháng 9 Huệ chết… tuổi mới có 40. Thái tử là Quang Toản nối ngôi ngụy. Tháng 10, táng ở phía nam sông Hương”27.

Những tài liệu dẫn trên, tuy nhiều nguồn khác nhau, có thể viết đúng, có thể viết sai, nhưng vẫn có 2 điểm tương đồng : đều mô tả vua Quang Trung bị đau kéo dài và các phương pháp điều trị đều không lành ; và tuy sử triều Nguyễn viết Nguyễn Văn Huệ “táng ở phía nam sông Hương”, nhưng ta lưu ý lời trối trăng của vua Quang Trung luôn nhắc việc dời đô đến Nghệ An như trong những lá thư mô tả sự đau ốm cũng ở Nghệ An…

  1. Không hề có cung điện Đan Dương mà chỉ có lăng Đan Dương : Tham khảo các tài liệu thời Tây Sơn còn sót lại, nhận thấy sự mô tả các cung điện thời này hầu như chỉ còn lưu dấu duy nhất trong thơ văn Ngô Thì Nhậm gồm có các cung và điện sau : điện Kinh Yên28, điện Trung Hòa29, cung điện Đan Dương30, điện Thanh Di31, điện32/ cung33 Kiến Chương, cung Dao Trì34, cung Tràng Lạc35 (Trường Lạc), cung Vĩnh An36, cung Tây Kỳ37. Ngoài ra, còn có Bắc Cung38, và điện Thái Hòa39.

Trong những cung điện thời Tây Sơn được Ngô Thì Nhậm kể, có 3 cung điện trùng tên với các cung điện của chúa Nguyễn là điện Trung Hòa, cung Trường Lạc và cung Dao Trì, có thể Nguyễn Văn Huệ đã lấy lại các cung điện này của chúa Nguyễn sẵn có để dùng. Còn các cung điện của Tây Sơn không trùng tên với điện của chúa Nguyễn, có thể là các cung điện sẵn có của chúa Nguyễn nhưng bị Nguyễn Văn Huệ đổi thành tên mới, hoặc cũng có thể là những cung điện mới làm thêm.

Về điện Kinh Yên được sử dụng để làm lễ chúc mừng vua Quang Trung sau thắng lợi vĩ đại về quân sự và ngoại giao, vậy điện này đã xuất hiện thời Quang Trung còn sống.

Về điện Trung Hòa, đã có sẵn từ thời chúa Nguyễn, được Tây Sơn dùng để thiết triều bàn về chiến lược quân sự, nhưng không ghi rõ thời gian; tuy nhiên, ta biết các sách lược chiến thủ quân sự phần lớn tổ chức vào thời Quang Trung, nếu tổ chức vào thời Cảnh Thịnh thì phải sau khi Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị giết năm 1795, vì vào thời Bùi Đắc Tuyên, việc xử lý công việc triều đình đều tại chùa Thiền Lâm. Và dù buổi thiết triều bàn về chiến thủ đang kể được tổ chức vào sau năm 1795, thì có hai hàng Văn võ vừa yên hàng áo gấm, nên điện Trung Hòa có chức năng rất quan trọng. Triều Nguyễn sau này cũng có điện Trung Hòa : “Nhâm Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa xuân, tháng giêng… Để ấn ngự bảo ở điện Trung Hòa… Vua bảo Thượng bảo khanh rằng : ‘Hoàng khảo ta dựng điện Trung Hòa, thực ví như cung Càn Thanh của nhà Đại Minh, đó là nơi chính điện của thiên tử ở. Vậy phải đem những quả ấn ngự bảo để vào chổ chính giữa điện, khi nào cần đóng ấn… thì do Nội giám mang ấn đến điện Cần Chính. Đóng xong, lập tức khóa lại rồi lại để ở chỗ cũ…’…”40. Điều này cho thấy điện Trung Hòa có chức năng là chính điện của thiên tử ở, và đã có từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát khi xưng vương, đến thời Tây Sơn thì có thể thiên tử Nguyễn Văn Huệ cũng tiếp tục ở điện này, và đến thời vua Gia Long chỉ trùng tu to lên thêm.

Về cung Trường Lạc và cung Vĩnh An, tuy bài biểu không ghi rõ thời gian, nhưng có ghi rõ là cung Hoàng hậu ở, lại do Hoàng Tử Khang Công tức Nguyễn Quang Thùy41, con thứ 2 của Nguyễn Văn Huệ dâng biểu. Ở đây, đã gọi Nguyễn Quang Thùy bằng danh xưng Hoàng Tử, tức tỏ rõ cách xưng hô khi vua Quang Trung còn sống. Như vậy, Hoàng Chính Hậu ở đây là bà Phạm Thị Liên vợ chính của Nguyễn Văn Huệ ở cung điện này. Và bài biểu này phải viết trước khi bà Phạm Thị Liên mất năm 1791. Riêng bà Lê Thị Ngọc Hân, công chúa con vua Lê Cảnh Hưng, được ở tại Bắc Cung.

Về cung Dao Trì, cũng là một cung điện của chúa Nguyễn được Hoàng Thái Hậu triều Cảnh Thịnh ở năm 1797. Như vậy, Hoàng Thái Hậu ở đây rất có thể là công chúa Ngọc Hân. Tuy công chúa Ngọc Hân còn có tên là Bắc Cung Hoàng Hậu, nhưng danh xưng này chỉ dùng khi vua Quang Trung còn sống, còn sau khi Quang Trung đã mất, Quang Toản lên ngôi thì vị Hoàng Hậu này sẽ chuyển thành Hoàng Thái Hậu. Như vậy, công chúa Ngọc Hân có thể đã ở trong cung Dao Trì trước khi mất năm 1799.

Về điện Thanh Di, được Ngô Thì Nhậm mô tả buổi chầu, và Ngô tiên sinh tự xưng là lão thần, tức đã rõ ràng buổi chầu vào thời vua con là Cảnh Thịnh. Tuy vậy, điện này cũng có thể đã có từ thời Quang Trung. Theo ghi chép của Ngô Thì Nhậm, điện Thanh Di được thiết triều hàng ngày, nên chức năng có thể dùng để tổ chức các buổi tiểu triều tương tự điện Cần Chánh của triều Nguyễn.

Về các điện/ cung Kiến Chương và cung Tây Kỳ, tuy được Ngô Thì Nhậm ghi chép vào thời Cảnh Thịnh năm 1797, nhưng cũng có thể đã có từ thời Quang Trung.

Cuối cùng là, tuy Ngô Thì Nhậm gọi là “Cung điện Đan Dương”, nhưng thực thể đang được mô tả cũng chỉ “là sơn lăng phụng chứa bảo y Tiên hoàng ta”, tức cũng chỉ là một cái lăng của vua Quang Trung, và viết ra sau khi Quang Trung đã mất. Về lăng Đan Dương này, Ngô Thì Nhậm đã nhắc rất nhiều lần trong các bài thơ khác như bài Đạo Ý42, bài Khâm Vãng Đan Dương Lăng43, bài Sóc Vọng Thị Tấu Nhạc Thái Tổ Miếu Cung Ký44, và bài Tòng Giá Bái Tảo Đan Lăng Cung Ký45.

Như vậy, không có chứng cứ nào ghi rõ thời Quang Trung lúc còn sống đã ở, sinh hoạt hoặc thiết triều tại “Cung điện Đan Dương”, mà ta dễ dàng thấy rõ Ngô Thì Nhậm dùng danh xưng “Cung điện Đan Dương” để chỉ cái lăng của Quang Trung, tức lăng Đan Dương mà thôi.

Còn những nơi của các hoàng hậu và thái hậu triều Tây Sơn ở, đều là những cung điện cũng có tên rất rõ ràng.

  1. Quang Trung được chôn cất ở đâu ? “Vua Quang Trung cho rằng Nghệ An ở vào chính giữa nước… bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền, chuyên chở gỗ, đá, gạch ngói để xây dựng cung phủ lâu đài. Đắp thành đất chung quanh… dựng tòa lầu Rồng 3 tầng  cùng điện Thái Hòa hai dãy hành lang, để phòng dùng đến trong những khi có lễ triều hạ. Thành này được gọi là Phượng Hoàng trung đô hoặc trung kinh Phượng Hoàng thành”46. Điều này cho thấy Nghệ An là một trọng trấn được vua Quang Trung chọn làm kinh đô, và trước khi mất, ông đã trối trăng “Khi ta chết rồi, nên trong một tháng, làm lạo thảo để chôn táng thôi. Bọn ngươi nên cùng nhau giúp Thái tử sớm thiên đến Vĩnh Đô [thuộc về Nghệ An]”.

Còn sử Trung Quốc cho biết :“[194] Ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [3/4/1793]. Dụ các Quân cơ Đại thần : Cứ lời tấu của Quách Thế Huân : ‘Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình đã mất tại Nghĩa An [Nghệ An] vào tháng 9 năm ngoái…’… Nay làm bài thơ điếu, sai viên Tri đạo Thành Lâm đến Nghĩa An, làm lễ phần hóa trước mồ Nguyễn Quang Bình, lại lấy từ ngân khố tỉnh Quảng Tây ra 3000 lượng bạc, kèm một tượng Phật, cũng sai Thành Lâm mang đến tế điện và thưởng cấp để tỏ lòng thể tuất”47. Và sau đó cho biết thêm : “[196] Ngày 4 tháng 5 năm Càn Long thứ 58 [11/6/1793]. Dụ các Quân cơ Đại thần : …Mới đây theo lời tấu của Quách Thế Huân, viên Quốc vương lìa trần vào tháng chín năm ngoái tại Nghệ An, sai riêng Bồi thần dâng biểu đến kinh đô báo cáo… Hôm qua nhận tờ tấu của Thành Lâm xưng rằng : ‘… Nguyễn Quang Toản lại xưng với Thành Lâm rằng Khi Nguyễn Quang Bình hấp hối, có lời trối với Quang Toản rằng bất tất chôn tại Nghệ An, hãy đem đến Tây Hồ an táng… ngõ hầu hồn phách linh thiêng có thể được gần cung khuyết của Thiên tử !’.”48.

Chúng ta biết sau khi Quang Trung mất thì triều đình Tây Sơn đã cho làm mộ Quang Trung giả tại Linh Đường (huyện Thanh Trì, Hà Nội) để Thành Lâm đến phúng điếu. Và mộ giả này đã được Viện Khảo Cổ Học Việt Nam khai quật năm 1992, trong đó chỉ là xác một người phụ nữ.

Vấn đề đặt ra là, vì sao triều đình Tây Sơn đã báo với triều Thanh (Trung Quốc) rằng Quang Trung mất và chôn tại Nghệ An, rồi sau lại đính chính là chôn tại Thăng Long, trong khi mộ Quang Trung tại Thăng Long chỉ là một cái mộ giả ? Nếu Quang Trung mất và chôn ở Nghệ An chỉ là mộ giả, thì triều đình Tây Sơn cứ để sứ thần Trung Quốc vào Nghệ An phúng điếu, cần gì phải đính chính và làm thêm một cái mộ giả ở Linh Đường thêm phiền phức, mất công tốn kém ? Phải chăng việc thông báo với triều Thanh việc Quang Trung mất và chôn tại Nghệ An đã sơ suất nói ra sự thật, sau đó do giữ bí mật nên phải nói lại bằng một lời nói láo ? Cho nên, chưa loại trừ khả năng Nghệ An cũng có thể là nơi chôn Quang Trung ?

Nhưng tại sao sử triều Nguyễn ghi là táng ở phía nam sông Hương” ? Sự kiện này xảy ra vào tháng 11/1801 : “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây bêu đầu ở chợ… cáo rằng ‘…đặc biệt bá cáo, để hả lòng người’.”49, lúc đó ở Bình Định vẫn còn những tướng mạnh Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng trấn giữ, còn từ Nghệ An trở ra là do Tây Sơn Cảnh Thịnh giữ. Vì thế vua Gia Long cho phơi thây bêu đầu giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ ở chợ chỉ là một chiến thuật tâm lý đặc biệt bá cáo, để hả lòng người và cũng để nhanh chóng làm tan rã lòng quân Tây Sơn mà thôi. Vậy, cũng chưa loại trừ khả năng mộ Quang Trung ở phía nam sông Hương có thể là mộ giả.

Cho nên, “Cái chết của Tiếm vương Quang Trung được giữ bí mật gần 2 tháng trời”50, cũng có thể là để di chuyển thi hài Quang Trung ra Nghệ An.

 

  1. MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHÙA – PHỦ – LĂNG
  2. Tương quan giữa chùa Thiền Lâm với phủ Dương Xuân : Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu mời Thích Đại Sán sang Thuận Hóa thuyết pháp, trong quá trình xây dựng chùa và giới đàn, giữa chùa Thiền Lâm với phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn cùng nằm ở bờ nam sông Hương, sẽ có mối liên hệ…

            1.1. Thích Đại Sán kể rằng : “Ngày 1 tháng Tư, truyền Sa di giới, Quốc vương mở đàn chay dâng lễ, tự mình đến thắp hương, mời ta thượng đàn thuyết pháp. Trước đó một ngày, dọn dẹp đường sá. Từ sáng sớm, có đội quân mũ đỏ dẹp đường, bắt người ta tránh xa ngoài một hai dặm. Đạo ngự đi có người theo hầu tả hữu… Quốc vương ngồi trên kiệu… Quốc sư đứng hai hàng chực đón tại chùa, ta chờ ở phương trượng… Ngoài vách chùa quân lính đứng vây hai lớp… Quốc vương đốt hương làm lễ xong… Ngồi nói chuyện đến quá Ngọ, muốn ở lại xem truyền giới, Quốc cữu giục hai ba lần, mới đứng dậy, day lại bảo rằng… Nói rồi từ giá ra về…”51.

“Ngày mồng 6 truyền Tì kheo giới… Phật viện trong Vương cung lạc thành, Quốc vương xin ta đề bức hoành và câu đối… Quốc vương khai đàn ở Nội viện, ngày Phật đản (mồng 8 tháng Tư) có Quốc mẫu, Công chúa, hậu cung quyến thuộc, đồng thọ Bồ tát giới. Vương tự đặt riêng một đàn… Chiều, ta trở về chùa Thiền Lâm… Vương mỉm cười… cho thêm 300 quan tiền, 100 thạch gạo, khiến quân nhân gánh đến chùa Thiền Lâm52.

Đoạn kể trên cho thấy, từ vương phủ, Minh Vương đến chùa Thiền Lâm bằng kiệu, và việc Vương sai quân gánh gạo từ phủ đến cho chùa, tức đi bằng đường bộ chứ không phải bằng thuyền, như vậy, cung phủ này cũng nằm trên bờ nam sông Hương, tức chính là phủ Dương Xuân.

Tuy nhiên vấn đề là ở chổ, chùa Thiền Lâm ngoài ngõ tre gai tứ phía rào53, còn phủ Dương Xuân thì “…sắp đến vương phủ… chung quanh trồng tre gai làm rào54, mà Minh Vương muốn đến chùa thì “trước đó một ngày, dọn dẹp đường sá. Từ sáng sớm, có đội quân mũ đỏ dẹp đường, bắt người ta tránh xa ngoài một hai dặm. Đạo ngự đi có người theo hầu tả hữu…”55, cùng những lời kể với những động từ “đón, ra về, trở về, đến…”, cho thấy giữa phủ Dương Xuân và chùa Thiền Lâm đều có khuôn viên riêng biệt và có một con đường bộ với khoảng cách khá xa… Chứ nếu phủ Dương Xuân và chùa Thiền Lâm cùng trong một khuôn viên thì cần gì phải “có đội quân mũ đỏ dẹp đường, bắt người ta tránh xa ngoài một hai dặm…” ?!

1.2. Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản thời Tự Đức, lẫn bản thời Duy Tân đều viết gần giống nhau như sau : “Gò Dương Xuân : Ở phía bắc huyện (Hương Thủy) 15 dặm ; thế gò bằng thẳng rộng rãi, chỗ cao chỗ thấp, la liệt dài dặc độ vài dặm ; phía nam gò có đàn Nam Giao, phía tây có nhiều danh lam cổ sá, cũng xưng là nơi giai thắng. Cẩn án : Lúc đầu bản triều khai quốc có dựng phủ ở gò Dương Xuân nầy. Đời vua Hiển Tôn năm Canh Thìn thứ 9 (1700) trùng tu cơ Tả Thủy, đào đất được 1 cái ấn đồng có khắc chữ “Trấn Lỗ Tướng Quân chi ấn”…, nhân đó đặt tên phủ là Ấn phủ. Từ sau khi bị binh hỏa đến nay, chổ ấy mất tích không biết ở vào chổ nào”56.

Do phủ Dương Xuân đã bị mất tích, nhưng dựa vào thời lượng Thích Đại Sán đi từ phủ Dương Xuân về chùa Thiền Lâm : Qua nửa đêm, còn lưu luyến chưa cho từ biệt… Về đến chùa Thiền Lâm, canh ba đã điểm trống…”57, có thể cho rằng giữa phủ và chùa rất gần.

Chúng ta có thể giải thích sự rất gần giữa phủ Dương Xuân và chùa Thiền Lâm như sau : chùa Thiền Lâm xoay cổng ra hướng chính Đông, còn đình Dương Xuân Hạ xoay về hướng gần chính Tây, nên khuôn viên hai khu vực này như xoay lưng vào nhau, một hình thức gần nhà mà xa cửa ngõ. Nếu Thích Đại Sán không đi theo lối cổng chính rất xa như đường ngự đạo của Minh Vương đã mô tả, mà vì đêm đã khuya nên đi bằng đường tắt ở cổng sau theo “lối tiều quanh núi khi mờ tỏ”58, thì từ phủ Dương Xuân về chùa Thiền Lâm sẽ “chỉ trong gang tấc”59, và tất nhiên là sẽ đi từ nửa đêm và về cũng chỉ trong canh ba mà thôi.

Tuy nhiên, cũng có điều rất đáng nói là, nếu phủ Dương Xuân ở cánh đồng Bàu Vá thì nó đúng là ở bờ sông Hương. Còn nếu phủ Dương Xuân tại khu vực chùa Thiền Lâm hiện nay dốc xuống đường Nam Giao tân lộ, tức bị khuất phía sau lưng gò Bình An, phía ngoài sông nhìn vào không thấy, do đó chắc chắn không thể gọi đó là ở bờ sông được. Mà cho dù đó có là bờ sông, thì lúc đó chùa có cổng chính ở dốc Bến Ngự, tức là ở bờ sông An Cựu chứ không phải ở bờ sông Hương như sử ghi.

  1. Mối tương quan giữa chùa Thiền Lâm và lăng Đan Dương :

            Về mối tương quan giữa chùa Thiền Lâm và lăng Đan Dương, không có tài liệu nào nhắc đến, chỉ có điểm chung là cả hai di tích này đều ở phía nam sông Hương, một vùng rất rộng lớn. Trong Dụ Am Ngâm Lục, Phan Huy Ích khi ở trọ gần chùa Thiền Lâm thì kể rằng “Lúc bấy giờ bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu”60.

Có sự giải thích rằng : Trong bài thơ… làm ở chùa Thiền Lâm, trong đó bài thứ ba có một lời chú quan trọng là ban ngày bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu. Tiểu giám giữ lăng gần chùa Thiền Lâm chắc phải là lăng Hoàng đế Quang Trung…

Ở điểm này, tôi có suy nghĩ khác : Vì sao lăng ở đây “phải là lăng Hoàng đế Quang Trung” mà không phải là lăng hoàng hậu ? Và câu “bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu” cũng có thể hiểu như thế này : bọn tiểu giám ấy giữ lăng ở nơi xa nào đó, nhưng nhà ở của họ gần chổ Phan Huy Ích ở trọ, nên sau khi hết phiên giữ lăng thì về nhà và “thường đến hầu rượu” Phan Huy Ích.

Do vậy, không thể dựa vào câu “Lúc bấy giờ bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu” để cho rằng lăng Quang Trung gần chùa Thiền Lâm được.

Mặt khác, trong thư của giáo sĩ Longer gởi Bố Giáo Thánh Hội (La Propagande) ngày 14/3/1795, cho biết Bùi Đắc Tuyên là “một cựu tăng sĩ”61, do vậy, nhà nghiên cứu Trần Viết Điền cho rằng việc ông thái sư chọn chùa Thiền Lâm làm chổ ở và làm việc chỉ để thuận lợi trong việc thờ phụng Phật mà thôi, chứ không phải Bùi Đắc Tuyên chiếm chùa vì ở đây có “cung điện Đan Dương”. Điều giải thích của nhà nghiên cứu Trần Viết Điền hoàn toàn hợp lý và có cơ sở sử học.

  1. Mối tương quan giữa phủ Dương Xuân với lăng Đan Dương :

Như phần trước đã trình bày, phủ Dương Xuân đã bị quân Trịnh phá vào năm 1776, mãi đến năm 1786 quân Tây Sơn mới vào Phú Xuân. Không có một tài liệu nào nói rằng Nguyễn Văn Huệ đã chiếm phủ Dương Xuân làm nơi ở cả.

Do vậy, giữa phủ Dương Xuân và lăng Đan Dương, hoàn toàn không có mối liên quan nào.

 

  1. LỜI TẠM ĐÓNG :
  2. Những kết luận đưa ra : Dựa vào những sử liệu khách quan mà tôi đã trích dẫn và phân tích ở trên, có thể rút ra được những kết luận sau :

1.1. Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân, thời vua Quang Trung còn sống thì ở tại Bắc Cung, khi vua Quang Trung đã mất thì trở thành Hoàng Thái Hậu và đã ở tại cung Dao Trì. Cho nên, không thể có chuyện Công chúa Ngọc Hân “tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên”62 như Bách Khoa Toàn Thư Mở đã giải thích.

1.2. Phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn ở bờ sông Hương nên vị trí đúng là ở khu vực Bàu Vá, chứ không thể ở khu vực chùa Thiền Lâm (ở sông An Cựu). Phủ Dương Xuân và chùa Thiền Lâm là hai khu vực riêng biệt, lưng xoay vào nhau, kiểu gần nhà xa mà cửa ngõ.

1.3. Không có tài liệu nào nói Nguyễn Văn Huệ lấy phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn rồi đổi tên thành cung điện Đan Dương, nên không thể có nhận định Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn là tiền thân của cung điện Đan Dương, sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung ở Huế được.

1.4. Không hề tồn tại cung điện Đan Dương lúc vua Quang Trung còn sống, mà chỉ có lăng Đan Dương là nơi chôn Quang Trung. Điện Trung Hòa mới là chính điện của thiên tử ở.

1.5. Thái sư Bùi Đắc Tuyên ở và làm việc tại chùa Thiền Lâm với mục đích để dễ gần  Phật, chứ không phải vì nơi đó có cung điện Đan Dương của Quang Trung.

1.6. Lời giải thích “Lúc bấy giờ bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu” của Phan Huy Ích không hề có nghĩa là lăng Quang Trung gần chùa Thiền Lâm.

1.7. Chưa loại trừ được khả năng mộ Quang Trung có thể ở Nghệ An, còn mộ bị vua Gia Long khai quật chỉ là mộ giả.

1.8. Các gạch đá to lớn hiện nay ở chùa Thiền Lâm, chính là đá do Thừa Thiên Cao hoàng hậu trùng tu, và bị đổ xuống khi mở Nam Giao Tân Lộ năm 1888, chứ không có cung điện nào ở chùa Thiền Lâm cả.

  1. Kiến nghị : Những điều trên, cho thấy khu vực Bàu Vá, nơi tọa lạc của phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn là một di tích quan trọng rất cần được khám phá. Ngoài ra, lăng Ba Vành là ngôi lăng lớn nhất vào thế kỷ XVIII, lớn hơn cả lăng của các chúa Nguyễn, cũng là một địa điểm nghi vấn là lăng Quang Trung, đang được tranh cãi 30 năm nay, mà rất cần làm sáng tỏ. Tôi đã có xem qua Báo Cáo Quy Hoạch Khảo Cổ Đến Năm 2020, Định Hướng Đến Năm 2030 của tỉnh Thừa Thiên Huế, không hiểu vì sao quy hoạch này hoàn toàn không đề cập gì đến lăng Ba Vành và khu vực Bàu Vá ?

Vậy đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế nên bổ sung 2 địa điểm này vào quy hoạch khảo cổ. Trân trọng cảm ơn.

                                                                                                                      NAH

 

Chú thích :

(1) Thích Đại Sán (Nguyễn Duy Bột và Nguyễn Phương dịch), Hải Ngoại Kỷ Sự, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2016, trang 76.

(2) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 77.

(3) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 119.

(4) Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Bảo tàng Lịch sử (Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế), Báo cáo đã dẫn, trang 12.

(5) Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Bảo tàng Lịch sử (Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế), Báo cáo đã dẫn, trang 14.

(6) Quốc sử quán triều Nguyễn (Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính), Đại Nam Nhất Thống Chí, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1992, Tập 1, trang 202.

(7) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 236. Như vậy, tại thời điểm cuối năm 1695 này, chùa Thiên Mụ đã bắt đầu được Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu chọn làm quốc tự mang chức năng ngự kiến lớn nhất ở Đàng Trong.

(8) Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Ban Hán Nôm), Thơ Văn Phan Huy Ích, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, Tập II, trang 85-87.

(9) Chùa Thiền Lâm được xây từ thời Minh Vương, nhưng Phan Huy Ích đã ghi nhầm thành thời Võ Vương. Đây là sự ghi nhầm, vì trong bài Thăm nền cũ chùa Thiên Mụ”, Phan Huy Ích đã từng nhầm lẫn từ Minh Vương sang Ninh Vương :“Chùa Thiên Mụ, xưa do Hiếu Ninh Vương xây dựng, cơ ngơi rộng rãi, tráng lệ, dựng bia đá trắng, khắc văn ghi việc…” (Xem : Thơ Văn Phan Huy Ích, Sách đã dẫn, trang 118). Như vậy, không thể dựa vào những điều ghi nhầm này để cho đó là những mốc lịch sử có thật.

(10) Dẫn lại theo : Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm : Ngôi Chùa Lịch Sử, Thiền Viện Đầu Tiên Lớn Nhất Ở Xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2017, trang 29, nguyên bản chữ Hán trên hình H.8. Tôi dựa vào hình này để đọc lại chữ Hán và tạm dịch đại ý, có 1 chữ chưa đọc được thì đánh dấu (?).

(11) Thơ Ngô Thì Nhậm, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1986, trang 142-144, trong bài “Tái Kinh Thiền Lâm Tự (Lại qua chùa Thiền Lâm)”.

(12) Đại Nam Nhất Thống Chí, Sách đã dẫn, Tập 1, trang 202.

(13) Trần Như Uyên, “Chùa Thiền Lâm qua hai bài thơ của Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương”, Nghiên Cứu Huế, Tập 5, 2003.

(14) Xem thêm : Nguyễn Anh Huy, “Về phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn”, Nghiên Cứu Và Phát Triển, Số 3 (129), 2016.

(15) Henri Cordier, “Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine”, Revue De l’Extrême-Orient, Tập 3, năm 1887, trang 81-121, và 364-510.

(16) P. Koffler, Description Historique De La Cochinchine, dẫn lại theo : Cadière, “Le quartier des arènes”, B.A.V.H., No 3/1925.

(17) Nguyễn Sinh Duy, “Nhật ký du hành gặp vua xứ Đàng Trong của James Bean”, Quảng Nam Và Những Vấn Đề Sử Học, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2006, trang 144-161.

(18) Cadière, Bài đã dẫn, trang 135.

(19) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 40. Trong cuối Bài Tựa của Minh Vương viết lời nói đầu cho Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa gọi phủ Dương Xuân là “Tây cung”.

(20) Lê Quý Đôn, Phủ Biên Tạp Lục (bản dịch & bổ chính : Trần Đại Vinh), Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2015, tóm tắt từ các trang 278-280.

(21) Quốc sử quán triều Nguyễn (Viện Sử học dịch), Đại Nam Thực Lục, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004, Tập 3, trang 374.

(22) Đại Việt Quốc Thư (Bản dịch của Nguyễn Duy Chính), Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ, 2016, trang 54.

(23) Đại Việt Quốc Thư, Sách đã dẫn, trang 63.

(24) Đại Việt Quốc Thư, Sách đã dẫn, trang 66.

(25) Đại Việt Quốc Thư, Sách đã dẫn, trang 71.

(26) Đại Việt Quốc Thư, Sách đã dẫn, trang 72.

(27) Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (Viện Sử Học Việt Nam dịch), Đại Nam Liệt Truyện, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005, Tập 2, trang 596.

(28) Thơ Ngô Thì Nhậm, Nhà xuất bản Văn Học, 1986, trang 259, trong bài Biểu Chúc Mừng (Mừng Quang Trung sau thắng lợi vĩ đại v quân sự và ngoại giao).

(29) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Nhà xuất bản Văn Học, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, 2001, Tập II, trang 259-260, trong bài thơ 早 朝 中 和 殿 賜 入 內 侍 讀 戰 守 奏 議 恭 記 Tảo Triều Trung Hòa Điện Tứ Nhập Nội Thị Độc Chiến Thủ Tấu Nghị Cung Ký.

(30) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 369-370, trong bài thơ Cảm Hoài có câu : “丹 陽 宮 殿 日 三 秋 (Đan Dương cung điện nhật tam thu = Trông về điện Đan Dương một ngày coi bằng ba thu ngóng)”, và có nguyên chú : “… 丹 陽 宮 殿 奉 我 先 皇 臧 宝 衣 之 山… (Đan Dương cung điện phụng ngã tiên hoàng tàng bảo y chi sơn… = Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y Tiên hoàng ta…)”.

(31) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 263-264, trong bài thơ 欽 攽日侍 清 夷 殿 恭 記 Khâm Ban Nhật Thị Thanh Di Điện Cung Ký.

(32) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập I, trang 283, trong bài Lại Bài Biểu Chúc Mừng Năm Đinh Tỵ.

(33) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập I, trang 367, trong bài Lại Một Đạo.

(34) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập I, trang 283, trong bài Lại Bài Biểu Chúc Mừng Năm Đinh Tỵ.

(35) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập I, trang 232, trong bài Lại Bài Biểu Của Hoàng Tử Khang Công Mừng Hoàng Chính Hậu.

(36) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập I, trang 232, trong bài Lại Bài Biểu Của Hoàng Tử Khang Công Mừng Hoàng Chính Hậu.

(37) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 301, trong nguyên dẫn bài thơ Vũ Y.

(38) Đại Nam Liệt Truyện, Sách đã dẫn, Tập 2, trang 594.

(39) Ngô Gia Văn Phái (Kiều Thu Hoạch dịch), Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2006, trang 461.

(40) Đại Nam Thực Lục, Sách đã dẫn, Tập 2, trang 180.

(41) Xem : Ngô Gia Văn Phái, Sách đã dẫn, trang 460.

(42) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 244-246.

(43) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 246-247.

(44) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 271-273.

(45) Ngô Thì Nhậm Tác Phẩm, Sách đã dẫn, Tập II, trang 273-275.

(46) Ngô Gia Văn Phái, Sách đã dẫn, trang 461.

(47) Hồ Bạch Thảo (dịch), Thanh Thực Lục : Sử Liệu Chiến Tranh Thanh – Tây Sơn, Nhà xuất bản Hà Nội, 2007, trang 230.

(48) Hồ Bạch Thảo (dịch), Sách đã dẫn, trang 234.

(49) Đại Nam Thực Lục, Sách đã dẫn, Tập 1, trang 473.

(50) Đặng Phương Nghi, “Triều đại Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo Tây phương”, Sử Địa, Số 13 (1969), trang 152.

(51) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, tóm tắt các trang 130-131.

(52) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, tóm tắt các trang 133-137 (nguyên văn chữ Hán ở trang 399).

(53) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, (Thiền Lâm tức sự, Bài 5) trang 76.

(54) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 65.

(55) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 130.

(56) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch), Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển thứ hai : Thừa Thiên Phủ), Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1961, trang 56.

(57) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 65-66.

(58) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, (Thiền Lâm tức sự, Bài 2) trang 75.

(59) Thích Đại Sán, Sách đã dẫn, trang 65.

(60) Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Ban Hán Nôm), Thơ Văn Phan Huy Ích, Tập II : Dụ Am Ngâm Lục, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, trang 124.

(61) Đặng Phương Nghi, Bài đã dẫn, trang 159.

(62) https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Ng%E1%BB%8Dc_H%C3%A2n.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s