Trần Viết Điền – KIẾN GIẢI MỚI VỀ HẬU SỰ CỦA CÔNG NỮ NGUYỄN THỊ NGỌC VẠN

Bài  “Bí ẩn về một công nữ được mệnh danh Huyền Trân công chúa thứ 2”, tác giả Đình Đính, đăng báo Thừa Thiên Huế, ngày 12-5-2017,  đã  tổng quan ngắn gọn những bài báo hoặc công trình in thành  sách viết về công nữ Nguyễn Thị Ngọc Vạn, thứ nữ của Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Đặc biệt  tác giả đã cung cấp một tư liệu quí đó là “Sắc phong Tống Sơn quận chúa Nguyễn Thị Ngọc Vạn năm Khải định thứ 2-1917” và đặt vấn đề thú vị về hậu sự của “Bà Vàng”(dân gian thường gọi để tránh phạm húy Bà Vạn). Dựa vào tư liệu mới do Đình Đính cung cấp và những tư liệu chúng tôi thu thập được trong một chuyến tham quan chùa Bửu Quang , còn gọi chùa Gia lào, vào  năm 1986, sau khi xử lý xin trình bày kiến giải về hậu sự của bà Nguyễn thị Ngọc Vạn.

   Thời trẻ bà từng coi sóc xưởng thợ, kho đụn ở Dã Lê (1619-1620):

Trước năm 1613, thứ nữ Nguyễn Thị Ngọc Vạn [1605-1658] của chúa Nguyễn Phúc Nguyên sống  với cha mẹ ở dinh trấn Thanh Chiêm(Quảng Nam). Sau năm 1613, Tổng trấn Nguyễn Phúc Nguyên[1563-1635] ra thủ phủ Phước Yên kế nghiệp chúa Nguyễn Hoàng thì công nữ  Ngọc Vạn theo gia đình về Phước Yên. Do chống mệnh triều đình Lê-Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Nguyên ra sức củng cố và phát triển Đàng Trong. Một trong những việc cần làm là thúc đẩy việc khai hoang lập ấp ở các vùng Thuận Quảng đẳng xứ. Riêng ở vùng ven đầm Sam, đầm Tô Đà của Hóa châu đang quá trình bồi tụ, chúa cử các quan đương nhiệm, thậm chí khuyến khích các quan hưu trí, chiêu tập dân chúng, có sự hỗ trợ của quân đội ra sức đắp đập be bờ, rửa mặn trị phèn,…tạo ra nhiều ruộng vườn , ao hồ và từ đó hình thành những ấp mới, làng mới. Không những ở ven đầm phá mà còn những vùng bán sơn địa, chúa cũng chiêu tập binh dân khai phá, tạo nên nhiều rẫy nương, trồng dâu, khoai sắn, chăn nuôi gia súc,… Chúa Nguyễn nhờ các thuộc quan giúp rập và   huy động công tử  công nữ, thê thiếp lãnh công việc giúp nhà chúa. Các công tử thì vào binh nghiệp, sớm trở thành những vị chưởng cơ, chỉ huy các đơn vị thủy binh, bộ binh,…còn các công nữ thì tham gia coi sóc việc nhà nông, chẳng hạn phụ trách các kho lương, nông cụ, lúa giống,…; lo phân phối, thu nạp thuế má,… Khả năng công nữ trẻ Nguyễn Thị Ngọc Vạn có thời gian ở làng Dã Lê, coi sóc kho lương, cấp phát các thứ cho binh dân khai phá vùng hạ lưu sông Kim Trà, vùng bồi tạo ven đầm Sam, đầm Tô Đà. Do nhu cầu bảo quản lương thực, nông cụ,như che mưa, phơi phong nông sản, làng Dã Lê có xưởng chuyên đan rỗ, thúng, mũng,…và đặc biệt là những tấm gót tre. Vì thế người đời gọi tên làng là Dã Lê gót. Có thể ở Dã Lê thời gian ngắn nhưng công nữ Ngọc Vạn được binh dân cảm mến, tôn xưng là “Bà Vàng”. Vào năm 1620 công nữ Nguyễn Thị Ngọc Vạn vào tuổi tròn trăng phải lên kiệu hoa, thuyền hoa về làm hoàng hậu của vương triều Chey Chetta II, dân sở tại rất nhớ ơn vị công nữ này.

Hoàng hậu Samdach trong cung đình ở thủ phủ Oudong (1620-1630)

Ở thế kỷ 17, nước Chân Lạp dần suy yếu, nội bộ hoàng gia chia rẽ, hay cầu viện các nước lân bang, trong đó vương quốc Xiêm và Thuận Quảng đẳng xứ của Đại Việt. Chey Chetta II lên nối ngôi vương Chân Lạp năm 1618, dời đô về Oudong, thành Long Úc, đã có những  bà vợ đầu, sinh được con trai là Chan Ponhéa So, Ponhéa Nu, Chau Ponhéa Chan. Khi cưới Ngọc Vạn vào năm 1620 thì vua Chetta II sớm phong bà Ngọc Vạn thành hoàng hậu Somdach. Phần thì Chetta II dựa vào sự bảo hộ của Đàng Trong, phần hoàng hậu Somdach đẹp người đẹp nết nên Chetta II rất sũng ái bà. Hoàng hậu Somdach đã tâu vua Chetta II, tạo điều kiện người Việt vào Chân Lạp làm ăn sinh sống ở một số vùng, trong đó có Prei Kor (tức vùng Sài Gòn), Mỗi Xuy (Bà Rịa),…Hoàng hậu Somdach sống những ngày hạnh phúc trong cung đình Chân Lạp khoảng 9 năm khi Chetta II còn tại vị; sinh được hai công chúa Anga Nha và công chúa Devi Penya, hoàng tử Pon Héa So (có sách cho là con của Outey, làm con nuôi của Samdach). Để rồi quốc vương Chetta II băng hà năm 1628, hoàng hậu Samdach trở thành hoàng thái hậu. Hoàng tử Chan Ponhéa Sô nối ngôi, em ruột của Chey Chetta II là Preáh  Outey làm giám quốc. Khi Chetta II còn tại vị, vua định cho hai anh em cùng cha khác mẹ là Chan Ponhéa Sô và Anga Nha thành hôn nhưng khi vua Chetta II băng hà thì vị giám quốc Preáh Outey vội cưới Ang Nha (mới 9 tuổi) theo lối tảo hôn, làm vợ thứ, trong khi hoàng tử Chan Ponhéa  Sô còn ở trong tu viện (nghĩa là còn đi học). Rời tu viên, Sô sớm nối ngôi năm 1628, ở ngôi 3 năm, nhân một chuyến đi săn, Sô có hẹn Ang Nha (khoảng 11 tuổi) cùng đi, giám quốc Preáh Outey biết được liền đuổi theo và sát hại cả hai người vào năm 1630. Vụ việc này làm hoàng thái hậu Samdach rất đau đớn và bất an, có khả năng bà rời kinh đô Oudong để qua Prei Kor, nơi có vị đại diện chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Nguyễn Phúc Vinh đóng quân.

 Hoàng thái hậu Samdach ở Hưng Phước (Mỗi Xuy-Bà Rịa)(1630-1642):

Khi tình hình tranh giành quyền lực đến hồi “nồi da xáo thịt” ở Oudong, hoàng thái hậu Samdach có thể sớm về thành Hưng Phước (Mỗi Xuy-Bà Rịa). Về Bà Rịa, không lâu được tin thân phụ Nguyễn Phúc Nguyên qua đời và năm 1635 bà đã vào tuổi 31, sớm qui y pháp danh Diệu Đức. Hoàng thái hậu ở Bà Rịa tổ chức dân Việt, Khờ me, Chăm làm ăn, họ mến bà thường gọi thân thương là Cô Chín. Sau khi Chan Pohéa Sô bị giết, giám quốc đưa em của Sô lên ngôi là vua Ponhéa Nu. Vua này trị vì 11năm thì đột ngột qua đời vào năm 1640, giám quốc Preáh Outey liền đưa con trai của mình là Padumaraja lên ngôi tức quốc vương Ang Non I. Công chúa thứ 2 Devi Panya của hoàng thái hậu Samdach là vợ của Angnon I. Khi Angnon I  lên ngôi, chỉ làm vua hơn 2 năm,  thì hoàng tử thứ 3 của Chetta II là Chau Ponhea Chan  làm cuộc đảo chính năm 1642, giết vua Angnon I và hoàng hậu Devi Panya, giám quốc Prea Outey,… Biến cố này làm hoàng thái hậu Samdach vô cùng đau đớn. Lại thêm Chau Ponhéa Chan,  là con của một hoàng hậu người Lào của Chetta II, dựa vào nước Mã Lai, người Chăm  để tạo thế và lực. Khi lên ngôi, Chau Ponhea Chan lập hoàng hậu là người Mã Lai, theo đạo Islam, ông bỏ quốc giáo là Phật giáo tiểu thừa, để theo Hồi giáo. Vua Chau Ponhea Chan ưu đãi người Chăm, Mã Lai làm dân chúng Chân lạp phần lớn là Phật tử rất bất mãn. Có khả năng từ năm 1642, Chau Ponhéa Chan đã o ép cư dân Bà Rịa, hoàng thái hậu Samdach, phật tử với pháp danh Diệu Đức phải  sớm rời Bà Rịa để ẩn cư ở núi Gia Ray, bảo vệ  con trai Pon Héa So, con trai của em chồng Outey là Ang Tan…

    Hoàng thái hậu Samdach ẩn cư ở vùng núi Gia Ray với con và cháu:           

Bà Rịa có thành Hưng Phước cách núi Gia Ray (núi Chứa Chan ) khoảng 70 km. Từ Bà Rịa đến núi Chứa Chan có thể qua ngã ba Tầm Bó(Tam Giao), nút giao thông ở trên một ngọn đồi, từ Bà Rịa đến Tầm Pó khoảng 40 km, từ Tầm Pó đến Gia Ray khoảng 30 km. Hiện nay vẫn còn dấu tích ngôi nhà mà bà Ngọc Vạn ẩn tu. Sau khi bà qua đời dân sở tại dựng miếu thờ  đó là Miếu Cô, gần chợ Gia Ray, đối tiện với nhà ông Út Gà. Đến năm vẫn còn Miếu Cô cổ kính. Bây giờ dân kinh tế mới, không ai biết miếu thờ ai, tưởng là miếu thờ cô hồn, nên khi tôn tạo họ gọi là miếu Cô Hồn (xem ảnh).Khoảng năm 1658, đời chúa Nguyễn Nguyễn Phúc Tần, Ang So và Ang Tan dấy binh chống Chau Ponhéa Chan, căn cứ địa là vùng núi Chứa Chan. Ban đầu quân khởi nghĩa thất bại; đã tham cứu ý kiến của bà Samdach. Bà khuyên hai ông Ang So và Ang Tan nên cầu viện chúa Nguyễn Phúc Tần ở dinh phủ Kim Long….Có thể đoán rằng những hang đá ở lưng núi Gia Ray là căn cứ địa của quân khởi nghĩa do Ang So và Ang Tan chỉ huy. Về sau có thiền sư Ngộ Chân theo đường đá dài hằng trăm mét, lên ở hang đá để tu, tiếp theo có sư Hoằng Pháp lên núi thì thấy ở hang một bộ xương ngồi kiết già và một bộ xương cọp, tư thế nằm bên cạnh di cốt thiền sư. Dân sở tại cho rằng sư Hoằng Pháp có võ, với nội công thâm hậu đã vần những tảng đá có khối lượng trên dưới 5 tấn, sắp thành đường đá bậc thang ngoằn nghèo để lên chùa. Thực ra, con đường đá ấy là do nghĩa binh, do Ang So và Ang Tan chỉ huy, hằng ngàn người ra sức tạo nên để lên những hang đá tích trữ lương thực, thậm chí trú ẩn khi bị quân triều Chau Ponhéa Chan  truy bắt. Đại Nam nhất thống chí cho biết núi Chứa Chan còn có tên là Dạ Lao,  dưới chân núi có khe Dạ Lao, về sau gọi là Gia Lào. Cũng năm này bà Ngọc Vạn  bị bệnh và qua đời, hoàng tộc Chân Lạp, phe hoàng thái hậu và cư dân Bà Rịa lo tang chế cho Hoàng thái hậu Samdach rất chu đáo. Lăng mộ bà nằm ở phía tây nam của núi Gia Ray, thuộc ấp Suối Cao (trước đây gọi là ấp Gia Lào), xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai…Lăng mộ bà gọi là Lăng Cô. Khi biết tin bà Thái hậu đã qua đời, dân làng Dã Lê đã tổ chức tế lễ bà hằng năm. Năm 1983, có “phong trào” đào trộm mộ cổ. Kẻ gian dựa vào truyền ức về Miếu Cô, Lăng Cô, chị của vua chúa, đoán rằng trong quan tài ắt có vàng bạc, châu báu nên chúng quyết đào trộm. Chúng phát hiện một quan tài bằng đồng thuộc loại đại quan. Cạy nắp quan tài thì thấy đầy chất lỏng màu đen sền sệt. Chúng đánh bạo, nhảy vào dùng chân quậy chất lỏng ấy, không có cốt, không có vải liệm, chỉ vài bông tai vàng, nhẫn vàng, không đáng kể. Chuyện bị lộ, công an sở tại có gọi bọn đào trộm đến đồn công an để điều tra. Kết quả tay chân những kẻ đào trộm đã bị lở lói như bị bệnh phung hủi. Sự kiện này chứng tỏ Lăng Cô từng được cải táng.  Như thế ngôi mộ của bà Ngọc Vạn ở Bằng Lãng, Nam Hòa, mà Lê Nguyễn Lưu, Hoàng Đình Kết phát hiện là mộ cải táng. Có khả năng khi vua  Pon Héa So (trị vì 1660-1672), con trai của bà Ngọc Vạn, bị sát hại, chúa Nguyễn Phúc Tần quyết định cải táng mộ Hoàng Thái hậu Samdach về vùng núi  tây nam thủ phủ Kim Long và giao cho dân làng Dã Lê chăm sóc mộ. Các  chúa Nguyễn không tuyên dương  và chưa chính danh sắc phong bà Ngọc Vạn vì lúc bấy giờ họ chỉ là Trấn thủ, danh nghĩa vẫn phò Lê nhưng chống Trịnh mà thôi. Hơn nữa, Đàng Trong của Đại Việt vẫn coi Chân Lạp là Cao Man, bất đắc dĩ mới gã công nữ cho vua man di. Các chúa Nguyễn vẫn mặc cảm khi gã công nữ Đại Việt cho vua Chân Lạp. Vì vậy mãi đến khi triều Nguyễn đã xưng đế và phải đến thời Khải Định mới phong thần cho bà Ngọc Vạn, nhờ dân làng Dã Lê Thượng, Hạ đồng lòng dâng sớ xin triều đình sắc phong.

          Thay lời kết:

Tóm lại, công nữ Nguyễn Thị Ngọc Vạn không về lại Thuận Hóa khi đang còn tại thế  mà chỉ về cố hương  khi đã qua đời. Ngọc Vạn về Chân Lạp, không có quà sính lễ là đất đai như cuộc hôn nhân Huyền Trân. Bà Ngọc Vạn bằng đức hạnh, tài năng đã thuyết phục được chồng, quốc vương Chey Chetta II, cho người Việt vào Chân Lạp làm ăn, buôn bán, để tạo điều kiện Đàng Trong Nam tiến. Huyền Trân công chúa ở cung đình Chăm chỉ một năm, xong nhờ vua anh Trần Anh Tông tìm cách đưa bà về cố hương, còn công nữ Ngọc Vạn, bằng nghị lực phi thường, phải ngậm đau thương khi mất chồng, mất con, mất cháu ngoại, để “chiến đấu” can trường trong một cung đình Chân Lạp bất ổn, rất tàn độc khi chú giết cháu, em giết anh, cháu giết chú…Có khi bà Ngọc Vạn phải nén lòng thỏa hiệp với phe giết con gái mình  để chống lại thế lực tàn độc khác. Bà không quay về cố hương vì quay về là đầu hàng nghịch cảnh; không thỏa khát vọng Nam tiến, chống sức ép của Đàng Ngoài, của cha ông bà  nói riêng và binh dân Đàng Trong nói chung. Cũng qua nghiên cứu hành trạng của công nữ Nguyễn Thị Ngọc Vạn, đoạn cuối đời, biết được bà là “quân sư” trong cuộc khởi binh của Pon Héa So,con trai bà, chống lại vua Chau Ponhéa Chan và  chỉ hai năm sau khi bà qua đời, được chúa Nguyễn Phúc Tần tạo điều kiện, Pon Héa So lên ngôi, trị vì được 12 năm. Nhờ vị vua mang nửa dòng máu Việt Pon Héa So, Đàng Trong mới dần dần đẩy mạnh công cuộc Nam tiến.

Huế, 17-5-2017.

Trần Viết Điền

2 thoughts on “Trần Viết Điền – KIẾN GIẢI MỚI VỀ HẬU SỰ CỦA CÔNG NỮ NGUYỄN THỊ NGỌC VẠN

  1. Trước đây chúng tôi đã từng đọc các bài viết tranh luận xung quanh một số vấn đề về triều Nguyễn và văn hóa Huế của nhà nghiên cứu Trần Viết Điền, nhưng cảm nhận chung của tôi là những bài viết phản biện kiểu này e là bất ổn. Cả một bài tranh luận mà tác giả không hề đưa ra bất kỳ một nguồn tư liệu đầu tay nào để củng cố những nhận định của mình.Thứ nữa, nguyên tắc trong tranh luận muốn bác bỏ, phủ nhận một luận điểm của ai đó, người viết phải bác bỏ được các cứ liệu mà người mình phản biện đưa ra. Ông TVD e chỉ nên dừng lại ở mảng phiếm luận, bút ký văn hóa, lịch sử chứ dùng 3 chữ Nhà nghiên cứu e cả VN này ai ai cũng có thể gọi với cái danh xưng nói trên.

    Số lượt thích

  2. Lê Túy : Thưa ông Trần Thúc Đăng . Ông không nên quá khắc khe với ông Trần Viết Điền . Ông chỉ cần đọc bài ” Ý Kiến Trái Chiều Trong Việc Tìm Kiếm Mộ Quang Trung ở Gò Bình An ” ( Khoa Học Net ) , có thể thấy nhận xét của ông chưa thuyết phục !

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s