Nguyên Lạc – VỀ HAI BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG

Thơ về quê hương thì nhiều lắm, không có nhà thơ nào không viết về quê hương. Tuy thế những bài thơ quê hương đi vào lòng người trở thành những bài thơ thuộc lòng thì rất ít. Trước 1945 có bài thơ “Quê Hương” của Tế Hanh với những câu mở đầu “Làng tôi vốn làm nghề chài lưới/ Nước bao vây cách biển nửa ngày sông/ Khi trời trong, nắng nhẹ, sớm mai hồng/ Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” rất nổi tiếng, sống lâu trong nhiều thế hệ như bài văn xuôi “Tôi  Đi Học” của Thanh Tịnh. 

***

Nguyên Lạc tôi xin phép được tâm tình với quý bạn về những trăn trở của đời mình, sau bao năm lưu xứ qua bài thơ QUÊ HƯƠNG, đã được đăng trên các Web những ngày gần đây; cùng với lời hồi đáp đến nhà bình thơ Châu Thạch đã đồng cảm với bài thơ và đã ưu ái đánh giá tốt cho nó.

Trước hết, Nguyên Lạc tôi xin được ghi ra đây, để các bạn khỏi tốn công tìm, bài so sánh hai bài thơ QUÊ HƯƠNG của nhà bình thơ Châu Thạch đăng trên các trang web (Links được ghi ra ở cuối bài) (*)

                                      Phần I

            HAI BÀI THƠ “QUÊ HƯƠNG” HAI TÂM TÌNH KHÁC BIỆT (Nhà bình thơ Châu Thạch)

  1. HAI TÂM TÌNH KHÁC BIỆT

Thơ về quê hương thì nhiều lắm, không có nhà thơ nào không viết về quê hương. Tuy thế những bài thơ quê hương đi vào lòng người trở thành những bài thơ thuộc lòng thì rất ít. Trước 1945 có bài thơ “Quê Hương” của Tế Hanh với những câu mở đầu “Làng tôi vốn làm nghề chài lưới/ Nước bao vây cách biển nửa ngày sông/ Khi trời trong, nắng nhẹ, sớm mai hồng/ Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” rất nổi tiếng, sống lâu trong nhiều thế hệ như bài văn xuôi “Tôi  Đi Học” của Thanh Tịnh. Sau ngày thống nhất đất nước bài thơ “Quê Hương” của  Giang Nam với những câu thơ mở đầu “Thuở còn nhỏ ngày hai buổi đến trường/ yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/”Ai bảo chăn trâu là khổ?”/ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao” cũng được một lớp người nhắc đến luôn. Vào khoảng năm 1986 bài thơ “Quê Hương”(Bài học đầu cho con) của Đỗ Trung Quân được yêu mến cho đến nay, hình như chưa có bài thơ nào thay thế được.

Vừa qua, Châu Thạch lang thang trên mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Quê Hương” của một tác giả mà mình chưa quen biết. Bài thơ mới vừa đăng trên một vài trang web, vì thế tất nhiên bài thơ ít người biết đến, cho nên nó có đi vào lòng người hay không, có sống lâu hay phải chết yểu là số phận của nó. Tuy nhiên đối với Châu Thạch, bài thơ gây một ấn tượng tốt, khiến Châu Thạch liên nghĩ đến sự so sánh nó với bài thơ “Quê Hương” của Đỗ Trung Quân. Đó là bài thơ có tựa đề “Quê Hương” của tác giả Nguyên Lạc.

Mời bạn đọc đọc trọn bài thơ của Đỗ Trung Quân và bài thơ của Nguyên Lạc đăng ở dưới, ta sẽ thấy được ngay hai bài thơ đều nói về Quê Hương nhừng có hai tâm tình khác biệt. Với Đỗ Trung Quân quê hương đáng nhớ vô cùng vì quê hương êm đềm biết mấy:

 

Quê hương là gì hả mẹ

Mà cô giáo dạy hãy yêu?

Quê hương là gì hả mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều?

 

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

 

Với Nguyên Lạc quê hương cũng đáng nhớ nhưng không phải là một nơi êm đềm. Quê hương là một nơi mà ta rơi lệ khi nhớ đến nó:

 

Quê hương có gì để nhớ

Mà sao nước mắt lưng tròng?

 

Quê hương chiếc đò nho nhỏ

Qua sông. kham khổ từng ngày

Thân me vai gầy. gánh khổ

Thương con. chịu nổi đắng cay

 

Chỉ mới đọc vế đầu của hai bài thơ, chắc chắn mỗi chúng ta đều thấy lòng mình biến động rồi. Quê hương của Đỗ Trung Quân là thứ quê hương diễn ra qua lăng kinh tâm lý khi tuổi còn thơ ngây chưa chạm trán với đời. Quê hương của Nguyên Lạc là thứ quê hương thực tế trong thời thơ ấu. Chùm khế ngọt và con đường rợp bướm vàng bay đẹp thật đấy nhưng chắc chắn hình ảnh nó không bao giờ khiến ta nhớ  bằng hình ảnh “Qua sông, kham khổ từng ngày/Thân me vai gầy, gánh khổ”.

Ta hãy tiếp tục nhìn quê hương của Đỗ Trung Quân để thấy những bức tranh tuyệt đẹp vẽ ra trong trí tưởng tượng một nơi an lành, hạnh phúc biết bao:

 

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

 

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Là hương hoa đồng cỏ nội

Bay trong giấc ngủ đêm hè

 

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Tiếng ếch râm ran bờ ruộng

Con nằm nghe giữa mưa đêm

 

Quê hương là bàn tay mẹ

Dịu dàng hái lá mồng tơi

Bát canh ngọt ngào tỏa khói

Sau chiều tan học mưa rơi

 

Quê hương là vàng hoa bí

Là hồng tím giậu mồng tơi

Là đỏ đôi bờ dâm bụt

Màu hoa sen trắng tinh khôi

 

Quê hương của Đỗ Trung Quân hầu như không có một chút gian khó nào. Tuổi trẻ của nhà thơ trôi qua quá êm đềm cho nên quê hương trở thành một nơi lý tưởng với những ngày tháng quá thần tiên. Cái quê gương đó thật ra nó có thể trọn vẹn trong tâm hồn nhà thơ nhưng nó không hoàn toàn như thế trong tâm hồn một đứa trẻ nông thôn, vì một đứa trẻ sống ở nông thôn thì dầu là con nhà giàu vẫn có một vài trăn trở hay một vài kỷ niệm của kiếp nghèo nơi nó sống.

Bây giờ ta hãy nhìn những bức tranh quê hương mà Nguyên Lạc vẽ ra trong thơ mình:

 

Quê hương còn đầy thương nhớ

Ngoại nhai tóm tém trầu cay

Mẹ mày. thằng cháu mất dạy

Rong chơi lêu lỏng suốt ngày

 

Quê hương làm sao không nhớ?

Cầu tre lắt lẻo sáng mai

Đường vui. trống trường réo gọi

Cây cao. chim hót từng bầy

 

Chia nhau từng viên đạn nhỏ

Bịt mắt. kiếm  tìm. Ai đây?

Chia nhau nỗi lo thầy gọi

Nhói đau. thước khẽ bàn tay

Chia nhau trái me keo  ngọt

Chia nhau từng tiếng cười đầy

 

Quê hương làm sao không nhớ?

Dòng sông tuổi trẻ mênh mang

Bần de. phóng đùng. nước mát

Lặn tìm. chân bắt. la vang

Bờ sông. chị khàn tiếng gọi

Vết roi cha đánh. tím bầm!

 

Nhìn bức tranh quê hương của Nguyên Lạc hình như ta thấy nó không có gì mơ mộng, nhưng nó lại rất gần với ta. Bức tranh hiển hiện lại cho ta những ngày nhảy nhót ở đồng quê. Tiếng chữi của bà, thước khẽ của thầy, vết roi của cha, những trái me chua, những viên kẹo chia nhau, có tiếng cười, có nước mắt cho ta sống lại hoàn toàn một thời huy hoàng của tâm hồn nhưng khó nhọc bởi đời sống tại nông thôn.

Với nhà thơ Đỗ Trung Quân, quê hương “là dòng sửa mẹ/ Thơm thơm giọt xuống bên nôi” để đứa trẻ lớn lên hoàn toàn không biết chiến tranh, không biết chia ly, không biết tan tóc, không biết con người bị bắt buộc phải nhận một quê hương thứ hai cho đời mình. Vì vậy nhà thơ đã nói “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” và trách cứ những người không nhớ quê hương:

 

Quê hương mỗi người đều có

Vừa khi mở mắt chào đời

Quê hương là dòng sữa mẹ

Thơm thơm giọt xuống bên nôi

 

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

 

Bài thơ Đỗ Trung Quân kết lại ở đây. Phải nói những câu thơ kết của tác giả thật  là tuyệt vời, như một chân lý mà mọi người phải nhớ. Tuy nhiên có lẽ cuộc đời được ưu ái, kỷ niệm của nhà thơ đối với quê hương chỉ là những ngày tháng quá êm đềm, dòng sông ký ức trong tâm tư tác giả quá lặng lờ nên ông dừng mạch thơ rất sớm. Ngược lại Nguyên Lạc không phải thế, tác giả còn nói nhiều về quê hương với biết bao trăn trở, với biết bao gian lao khổ cực mà ông phải gánh chịu nơi quê hương:

 

Quê hương đỏ màu phượng vĩ

Hè sang. ve sầu khóc vang!

Tạ từ. Lời ca ly biệt

Buồn trao lưu bút. Lệ tràn!

Biết rồi mùa sau gặp lại?

Hay rồi đôi ngả ly tan!

 

Quê hương. buồn vui gác trọ

Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn

Chia nhau. chút đầu thuốc vụn

Khói bay. theo khúc tình tan

 

Quê hương của Đỗ Trung Quân và của  Nguyên Lạc ở những khổ thơ trên chỉ gói gọn ở nơi một làng quê hay một vùng quê nào đó. Qua những khổ thơ nầy, quê hương của Nguyên Lạc được mở rộng ra, không còn là làng quê và tuổi thơ nữa. Quê hương bây giờ là đất nước, nơi có chia biệt, có ly tan, nơi mà tác giả thật sự sống làm người. Thế nhưng chưa hết, quê hương còn là nơi mà tác giả nhận chịu khổ đau với bao nhiêu nghịch cảnh xảy ra cho đời mình:

 

Bao năm đời này vẫn nhớ

Xuân nao. thay đổi phận người!

Bể dâu. biệt ly. mong đợi!

Khổ đau thay thế nụ cười!

 

Bao năm chém tre đẵn gỗ

Bạn bè. chết không nấm mồ!

Mẹ già vượt đồi núi khổ

Thăm con. lệ cạn mắt khô!

 

Con ơi. vợ con Kiều đó

Bán thân. Lo giúp cho chồng!

Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!

Đoạn trường. con biết hay không?!

 

4.

Bao năm đời này vẫn nhớ

Đêm thâu. xuôi mái theo dòng

Người đi. không lời từ biệt

Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

 

Quê hương ta ơi. Thôi nhé!

Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Rặng cây quê hương mờ bóng

Có còn gặp lại được không?

 

Cuối cùng Nguyên Lạc khác với Đỗ Trung Quân. Đỗ Trung Quân khuyên phải nhớ quê hương vì quê hương có bao điều tốt đẹp,  Nguyễn Lạc muốn quên quê hương vì quê hương “Muộn phiền cay đắng mà thôi” nhưng rồi muốn quên mà không quên được, lại còn làm cho nỗi nhớ dâng cao:

 

Quê hương hoài mong thương nhớ

Cô thân. lưu lạc phương người

Chiều nay. nhớ dòng sông ấy

Lục bình hoa tím hoài trôi!

 

Quê hương ta ơi… đừng nhớ!

Muộn phiền. cay đắng mà thôi!

 

Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!

Quê hương nhớ lắm… người ơi!

 

***

Quê hương còn gì để nhớ?

Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

 

Quê hương sẽ còn để nhớ?

Quê hương đáng nhớ không người?!

 

Đọc đoạn kết trong bài thơ “Quê Hương” của Nguyên Lạc ta có cảm tưởng hình như có câu trả lời cho hai câu thơ của Đỗ Trung Quân: “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nỗi thành  người”. Câu trả lời ấy như sau: không ai không nhớ quê hương, bởi vì muốn quên mà quên không được. Khổ thơ cũng cho ta một suy luận: có lẽ người có thể quên quê hương, người có thể phá quê hương là những người đang ở trên quê hương. Bởi những người đi xa, không có quê hương nên mới nhớ, không thể không nhớ được. Họ cũng không cầm vận mệnh quê hương trong tay nên cũng không làm sao phá được bằng những người trực tiếp với quê hương.

 

Người viết đặt hai bài thơ bên nhau là một phương pháp “tá khách hình chủ” trong nghệ thuật viết. Mục đích đặt cái đẹp bên cái đẹp để mỗi nét đẹp khác nhau phô bày tường tận trước mắt người nhìn nó. Hai bài thơ “Quê Hương” của hai tác giả đối với người viết như hai bông hoa đồng loại  nở ra ở hai mùa khác nhau. Nhìn vào chi tiết của hoa ta thấy mỗi bông mang riêng một sắc thái của mùa mà nó tích tụ hương trời đất. Ai thích hoa nào tùy ý, nhưng hoa nào cũng là hoa cả!

(Châu Thạch)

 

  1. HAI BÀI THƠ
  2. Bài thơ QUÊ HƯƠNG của Nguyên Lạc

http://t-van.net/?p=33030

https://nghiathuc.wordpress.com/2017/10/04/nguyen-lac/

  1. “Bài học đầu cho con” – Đỗ Trung Quân

http://www.thivien.net/%C4%90%E1%BB%97-Trung-Qu%C3%A2n/B%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-%C4%91%E1%BA%A7u-cho-con/poem-4ba8UaPhqRHPPtSbIzFl4A

 

 

                                      Phần II

           VỀ BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG

 

 

  1. VÀI LỜI TÂM SỰ

 

Bài thơ nầy Nguyên Lạc viết ra, với cảm xúc thật sự của mình để trả lời bài thơ của Đỗ Trung Quân (ĐTQ):

 

Quê hương mỗi người chỉ một

 Như là chỉ một mẹ thôi

 Quê hương nếu ai không nhớ

 Sẽ không lớn nổi thành người.

(BÀI HỌC ĐẦU CHO CON)

 

– Chúng ta vẫn có thể có hơn một mẹ, nếu vì lý do nào đó bà mẹ ruột đã từ bỏ con. Như trường hợp của thi sĩ Trần Trung Đạo  (TTĐ)

 

ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

….

Ví mà tôi đổi thời gian được

Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

(thơ Trần Trung Đạo)

 

Bạn thấy đấy, TTĐ đã có hơn một bà mẹ, bà mẹ trong bài thơ là mẹ nuôi như ông đã thổ lộ. Theo ý của ĐTQ thì chỉ nhớ người mẹ sinh ra mình thôi, dù người đó có từ bỏ mình; nếu không nhớ thì sẽ không lớn nổi thành người. Vậy còn người cưu mang mình chi?; người  yêu thương, chăm lo mình còn hơn mẹ ruột?

Thương nhớ bà mẹ nuôi nầy chúng ta vẫn lớn thành người chớ, phải không?

Nhưng nói rõ ra, công tâm người ta thường trăn trở về hai bà mẹ!

 

  1. NHỮNG PHẢN HỒI VỀ LỜI BÌNH THƠ

Đây là lời phàn hỏi của tôi gởi đến nhà bình thơ Châu Thạch (CT) (Bài viết của Châu Thạch được ghi ra ở dưới)

Bài thơ  “Bài học đầu cho con” – Đỗ Trung Quân  làm khoảng đầu thập niên 80, (Đỗ Trung Quân,  Năm 1976, ông tham gia phòng trào thanh niên xung phong) “tô hồng” quê hương quá. Thật sự lúc đó quê hương đang “te tua”.

Bà mẹ tôi hàng ngày chèo ghe con, dấu từng ký gạo, từng miếng dừa sấy đi bán kiếm tiền nuôi con;  đã khóc ngất khi bị tụi quan thuế tịch thu, do chính sách “ngăn sống cấm chợ”. Có những chị phải quấn giấu trong bụng, quanh đùi trong quần từng ký thịt heo (lợn); cũng đã khóc van lại, nhưng vẫn không được tha bởi tụi quan thuế. Thế mà QUÊ HƯƠNG của ĐTQ tô hồng đẹp đẻ như thế! Than ôi!

Quê hương là con đò nhỏ / Êm đềm khua nước ven sông (ĐTQ) Đúng ra là:

Quê hương chiếc đò nho nhỏ

Qua sông. kham khổ từng ngày

Thân me vai gầy. gánh khổ

Thương con. chịu nổi đắng cay (NL)

Với ĐTQ: “Mẹ về nón lá nghiêng che”. Riêng đối với NL thì: “Mẹ về khóc ngất con ơi!” thì có,  vì vốn liếng đã mất, cả nhà sẽ đói.

Trong những năm đầu “Giải phóng” trên báo Tin Sáng của Ngô Công Đức , SGGP xuất hiện những bài thơ “hừng hực” của Nguyễn Nhật Ánh, Trần Mạnh Hảo… ca tụng chế độ.

Những điều không do thật sự cảm xúc của lòng, lý trí xen vào, có ý đồ …có đúng là SỰ THẬT không,? Sao không nói lên những nỗi khổ của người dân bé nhỏ?.

Liệu những bài thơ như vậy có mãi mãi với lòng người không?

2.

Châu Thạch đã viết: “Với nhà thơ Đỗ Trung Quân, quê hương “là dòng sửa mẹ/ Thơm thơm giọt xuống bên nôi” để đứa trẻ lớn lên hoàn toàn không biết chiến tranh, không biết chia ly, không biết tan tóc. Quê hương chỉ là những ngày tháng quá êm đềm.

 Ngược lại với Nguyên Lạc không phải thế, tác giả còn nói nhiều về quê hương với biết bao trăn trở, với biết bao gian lao khổ cực mà ông phải gánh chịu nơi quê hương: Quê hương bây giờ là đất nước, nơi có chia biệt, có ly tan, nơi mà tác giả thật sự sống làm người. Thế nhưng chưa hết, quê hương còn là nơi mà tác giả nhận chịu khổ đau với bao nhiêu nghịch cảnh xảy ra cho đời mình”.

NL trả lời: – Nhà bình thơ CT nhận xét rất đúng: Cái quê hương đẹp lý tưởng không thể nào có thật, so với quê hương của đời thường mọi người sống qua.  Nó có vui / buồn, ngọt ngào / đắng cay, hạnh phúc / khổ đau…

Đối với tôi, vẻ ĐẸP LÝ TƯỞNG quá sẽ không có thật ở trên đời. Cái vẻ đẹp LÝ TƯỞNG không thực giống như bức tượng / tranh giai nhân, đẹp toàn bích, nhưng dù gì cũng là vật chết. Nó được trưng bày trong phòng Triển lăm, trong Cung đình, trong phòng các đại gia..  Người bình thường chỉ được ngắm, không được đụng cham.  Đâu bằng người nữ đẹp bình thường, đời thường; ta có thể ôm ấp vuốt về và vui vẻ hoặc khóc hận cùng nàng.

Cuộc sống không thể nào mãi êm đềm.  Cuộc đời được nhiều ưu ái, tâm tư quá lặng lờ nhiều khi đưa đến tiêu cực : Quê hương, đất nước ra sao cũng được, ta cứ an nhàn riêng ta.

Không, quê hương không phải mãi đẹp như vậy. Quê hương đôi khi là đất nước, nơi có chia biệt, có ly tan. Quê hương còn là nơi mà con người phải nhận chịu khổ đau với bao nhiêu nghịch cảnh xảy ra cho đời mình; con người bị bắt buộc phải nhận một quê hương thứ hai để sống, dù không muốn!

3.

Châu Thạch viết tiếp:

“Đọc đoạn kết trong bài thơ “Quê Hương” của Nguyên Lạc ta có cảm tưởng hình như có câu trả lời cho hai câu thơ của Đỗ Trung Quân: “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nỗi thành  người”. Câu trả lời ấy như sau: không ai không nhớ quê hương, bởi vì muốn quên mà quên không được. Khổ thơ cũng cho ta một suy luận: có lẽ người có thể quên quê hương, người có thể phá quê hương là những người đang ở trên quê hương. Bởi những người đi xa, không có quê hương nên mới nhớ, không thể không nhớ được. Họ cũng không cầm vận mệnh quê hương trong tay nên cũng không làm sao phá được bằng những người trực tiếp với quê hương”

NL trả lời: – Xin có lời ngợi ca CT sao hiểu rõ lòng tôi như thế. Nói theo ngôn ngữ đời thường là “đi guốc trong bụng” tôi. (Xin nói rõ là tôi và CT không quen nhau)

Chỉ những người có nỗi niềm trăn trở mới lo đau đáu cho vận mệnh quê hương, còn người sống êm đềm, lặng lờ thì không.

Xin tâm sự thêm: Hai câu cuối :”Quê hương sẽ còn để nhớ? / Quê hương đáng nhớ không người?!” Cái ý của NL là quê hương rất đáng nhớ, đáng quý, chúng ta nên đem hết tâm huyết của mình để cố giữ  nó, sao cho NÓ SẼ  MÃI MÃI CÒN.

KẾT

Xin được mượn lời Châu Thạch để kết ở đây: “Nhìn vào chi tiết của hoa ta thấy mỗi bông mang riêng một sắc thái của mùa mà nó tích tụ hương trời đất. Ai thích hoa nào tùy ý, nhưng hoa nào cũng là hoa cả!”

Trân trọng!

Nguyên Lạc

—————————————————————————————————-

Nguồn: Thi viện và các links:

(*)

http://t-van.net/?p=33054

http://vannghequangtri.blogspot.com/…/hai-bai-tho-que-huong…
http://t-van.net/?p=33054

3 thoughts on “Nguyên Lạc – VỀ HAI BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG

  1. Nhà thơ Đỗ Trung Quân nay đã “sáng” mắt ra rồi,sau khi làm bài thơ vạch trần sự bịp bợm,giả dối của bọn CSBV khi tuyên truyền”giải phóng” miền Nam,ông làm một số bài thơ phản đối bọn công an cộng sản “hèn với giặc,ác với dân” khi đàn áp những người dân SG yêu nước biểu tình chống Tàu…

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s